An toàn nợ nước ngoài của Việt NamTT - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐẶNG VĂN THANH
AN TOÀN NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN NGỌC THANH
Hà Nội – 2012 MỤC LỤC

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt
i
Danh mục các bảng số liệu
ii
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
iii
MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ AN TOÀN NỢ NƢỚC
NGOÀI CỦA MỘT QUỐC GIA 8
1.1. Cơ sở lý luận về an toàn nợ nƣớc ngoài
8
1.1.1. Khái niệm nợ nƣớc ngoài
8

TRONG GIAI ĐOẠN 2001 – 2010 32 2.1. Tổng quan về nợ nƣớc ngoài tại Việt Nam
32
2.1.1. Huy động vốn và quy mô nợ nƣớc ngoài tại Việt Nam
32
2.1.2. Cơ cấu nợ nƣớc ngoài tại Việt Nam
35
2.1.3. Nợ trong nƣớc và nợ nƣớc ngoài
38
2.1.4. Nghĩa vụ trả nợ
42
2.2. An toàn nợ nƣớc ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn 2001-
2010

43
2.2.1. Rủi ro tỷ giá hối đoái
44
2.2.2. Rủi ro lãi suất
45
2.2.3. Rủi ro tái cấp vốn
47
2.2.4. Rủi ro thanh khoản
48
2.2.5. Rủi ro tín dụng
49

3.1.2. Phƣơng hƣớng vay nợ nƣớc ngoài
63 3.1.2.1. Gắn với mục tiêu tăng trưởng và GDP
64
3.1.2.2. Gắn với khả năng xuất khẩu
64
3.1.2.3. Vay và trả nợ nước ngoài với cân đối ngân sách nhà nước
65
3.1.2.4. Các mối tương quan khác
66
3.2. Một số giải pháp đảm bảo an toàn nợ nƣớc ngoài ở Việt
Nam trong giai đoạn 2011-2015

67
3.2.1. Tiếp tục nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn vay nƣớc
ngoài

67
3.2.2. Duy trì giới hạn nợ ở mức an toàn
68
3.2.3. Tăng cƣờng giám sát và hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý
68
3.2.4. Các chính sách cơ bản nhằm đảm bảo an toàn nợ nƣớc ngoài
69
3.2.4.1. Chính sách tài khoá - tiến tới cân bằng tổng đầu tư trong
nước với tiết kiệm nội địa

70

trường Quốc tế. Các chỉ tiêu về nợ của chính phủ (bao gồm cả bảo
lãnh của Chính phủ) trong năm 2010 là rất cần báo động: tổng số nợ
là 32,5 tỷ USD, trả nợ gốc trong năm là 1,672 tỷ USD, trả lãi và phí
là 0,616 tỷ USD [13, tr.13]. Qua đó cho thấy, việc tính đến an toàn
nợ nước ngoài của Việt Nam là rất cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh
khủng hoảng nợ công đã và đang trở nên trầm trọng ở nhiều nước
trên thế giới.
Việt Nam là một nước đang trong quá trình chuyển đổi,
bước đầu tham gia vào hội nhập với quốc tế và khu vực, các hoạt
động vay, sử dụng vốn vay và trả nợ nước ngoài vẫn còn bộc lộ
nhiều hạn chế. Với các chỉ tiêu giám sát về nợ nước ngoài năm 2010:
tổng số nợ nước ngoài so với GDP là 42,2%, nghĩa vụ trả nợ so với
xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ là 3,4%, nghĩa vụ trả nợ Chính phủ so
2

với thu NSNN là 3,7% [13,tr.12]. Qua đó cho thấy việc vay và trả nợ
vốn vay nước ngoài đã đặt ra những thách thức, cần đưa ra các
phương hướng, giải pháp nhằm đảm bảo an toàn nợ nước ngoài,
không lặp lại khủng hoảng nợ của các nước đi trước .
Trong giai đoạn 2011-2015, nền kinh tế Việt Nam đặt ra
chỉ số tăng trưởng kinh tế GDP là 7-8% [17, tr.2]. Do vậy, việc vay
vốn nước ngoài là rất cần thiết. Nguồn vốn vay ưu đãi ODA sẽ ít đi
và vay thương mại sẽ tăng lên, do Việt Nam đang dần dần thoát khỏi
nước nghèo và lạc hậu trên thế giới; một số nhà tài trợ chính cho Việt
Nam như Nhật bản và các nước thuộc khối EU cũng đang trong tình
trạng gặp khó khăn về kinh tế và thiên tai. Vì thế, việc phân tích
đánh giá vay vốn nước ngoài tính đến các yếu tố rủi ro như vay với
lãi suất cao, vay ngắn hạn, trượt giá đồng Việt Nam để việc vay nợ
được an toàn là rất cần thiết. Do đó tác giả đã chọn đề tài “An toàn
nợ nước ngoài của việt nam”. Đề tài này nhằm trả lời 3 câu hỏi chính

pháp để vay nợ nước ngoài được an toàn.
Luận văn cao học của tác giả Nguyễn Duy Vũ
(1998)“Nguyên nhân của khủng hoảng nợ. Bài học cho Việt Nam”
đã nêu ra những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ và sử dụng
mô hình hồi quy tương quan gồm 15 quan sát để xác nhận tác động
của những biến này. Tuy nhiên luận văn chưa đưa ra được cơ sở lý
luận về việc vay nợ nước ngoài, quy mô nợ nước ngoài ở việt Nam
so với các chỉ tiêu chính của nền kinh tế như GDP, xuất khẩu và
chưa phân tích được việc vay nợ nước ngoài có an toàn không, để từ
đó tìm ra các giải pháp, phương hướng vay cho Việt Nam trong thời
gian tới.
4

Luận án tiến sĩ của tác giả Tạ Thị Thu với đề tài
(2002)“Một số vấn đề về chiến lược vay trả nợ nước ngoài dài hạn ở
Việt Nam” đã nêu nên thực trạng và thách thức của nợ nước ngoài
của Việt Nam trước năm 2001, bước đầu đã nghiên cứu về tính bền
vững trong việc vay nợ nước ngoài. Tuy nhiên, luận án này chưa
phân tích được khả năng an toàn trong việc vay nợ nước ngoài ở Việt
Nam, các cơ sở lý luận, quy mô nợ, hoàn trả nợ ở Việt Nam. Ngoài
ra luận án chưa đưa ra được giải pháp để việc vay nợ cho giai đoạn
tới được an toàn.
Luận án tiến sỹ của tác giả Hạ Thị Thiều Dao (2006)“Nâng
cao hiệu quả quản lý nợ nước ngoài trong quá trình phát triển kinh
tế Việt Nam” đánh giá thực trạng nợ và quản lý nợ của Việt Nam
trong những thập niên qua, hiện tại cũng như xu hướng trong những
năm tiếp theo; trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn
thiện quá trình quản lý nợ nước ngoài của Việt Nam. Luận án chưa
đưa được ra tổng số nợ nước ngoài của Chính phủ, Chính phủ bảo
lãnh và hàng tháng, quí năm Chính phủ phải trả lãi và gốc, chưa đề

biệt chưa có đề tài nào đưa được ra các cơ sở lý luận về an toàn nợ,
từ đó đánh giá việc vay nợ ở Việt Nam có bền vững hay không, qua
đó tìm ra phương hướng và các giải pháp để việc vay nợ nước ngoài
ở Việt Nam được an toàn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích của đề tài:
Phân tích, đánh giá mức độ an toàn nợ nước ngoài của Việt
Nam trong giai đoạn 2001 đến 2010, qua đó đưa ra các giải pháp
đảm bảo an toàn nợ nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn 2011 –
2015.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
6

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến nợ nước
ngoài, đặc biệt là cơ sở lý luận về an toàn nợ nước ngoài gồm
phương pháp, chỉ tiêu so sánh, đánh giá
- Nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài bao gồm cả kinh
nghiệm thành công và hạn chế trong việc đảm bảo an toàn nợ nước
ngoài.
- Đánh giá thực trạng an toàn nợ Việt Nam trong giai đoạn
2001 đến 2010.
- Đưa ra phương hướng và một số giải pháp cơ bản đảm
bảo an toàn nợ nước ngoài của Việt Nam trong giai đoạn sắp tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nợ nước ngoài của Việt Nam bao
gồm nợ của Chính phủ và nợ nước ngoài của các doanh nghiệp do
Chính phủ bảo lãnh.
- Phạm vi nghiên cứu: Thời gian từ năm 2001 đến hết năm
2010
5. Phƣơng pháp nghiên cứu

Vì thời gian nghiên cứu cho lĩnh vực an toàn nợ nước ngoài
ở Việt Nam chưa được nhiều; tài liều về an toàn nợ nước ngoài của
quốc gia chưa được biên tập và soạn thảo rộng trong nước, tác giả
chủ yếu thu thập trên các trang tin trong sách báo để viết lên một
cách tổng quát cho luận văn. Vì vậy, luận văn không thể tránh khỏi
những thiếu sót, nên tác giả rất mong nhận được sự góp ý xây dựng
của các thầy cô, sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh và các độc giả
quan tâm để hoàn thiện luận văn được tốt hơn. 8

Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ AN TOÀN NỢ
NƢỚC NGOÀI CỦA MỘT QUỐC GIA

1.1. Cơ sở lý luận về an toàn nợ nƣớc ngoài
1.1.1. Khái niệm nợ nước ngoài
Nợ nước ngoài theo khái niệm thông thường là tổng số tiền
mà một quốc gia có trách nhiệm và bị ràng buộc phải thanh toán cho
các chủ thể có quyền sở hữu chính thức đối với khoản tiền đó. Các
chủ thể trong quan hệ nợ là chủ nợ và con nợ. Chủ nợ là người cho
vay có trách nhiệm cung cấp các khoản tiền cho người đi vay. Có thể
là một quốc gia, một tổ chức quốc tế, một doanh nghiệp hoặc một cá
nhân nước ngoài
Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân
hàng tái thiết quốc tế (BIS), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
(OECD) đưa ra định nghĩa nợ nước ngoài một cách bao quát hơn như
sau:
“Tổng vay nợ nước ngoài là khối lượng nghĩa vụ nợ vào

viện trợ nhân đạo bằng hiện vật.
1.1.3. An toàn nợ nước ngoài
1.1.3.1. Khái niệm
An toàn nợ nước ngoài được hiểu là việc vay nợ nước
ngoài vẫn được quốc gia đảm bảo trả nợ gốc và lãi theo định kỳ như
trong cam kết hợp đồng vay trả và việc trả nợ nằm trong tầm kiểm
soát chi trả của quốc gia.
Vay nợ nước ngoài là một hoạt động kinh tế năng động.
Vay ngày hôm nay là làm tăng các nguồn lực sẵn có hôm nay, nhưng
sẽ ảnh hưởng đến các nguồn lực có sẵn trong tương lai và làm tăng
10

sự đòi hỏi các nguồn lực trong tương lai. Trong quá trình lập chính
sách vay và trả nợ nước ngoài đòi hỏi phải xác định được an toàn nợ
nước ngoài, thể hiện ở các đặc điểm sau:
Thứ nhất: Tăng trưởng kinh tế là chìa khóa của uy tín tín
dụng và việc nới lỏng trần tín dụng; đầu tư là chìa khóa của tăng
trưởng kinh tế cao (đầu tư bằng vốn trong nước và vốn nước ngoài).
Thứ hai: Nợ nước ngoài chỉ được liên tục tăng nhanh hơn
xuất khẩu khi tỷ trọng nợ trên xuất khẩu nhỏ.
Thứ ba: Lãi suất không phải là chi phí duy nhất của một
khoản vay nước ngoài. Mỗi khoản vay lại đẩy người vay tới gần trần
tín dụng hơn, làm nảy sinh thêm chi phí ngoài lãi suất.
Thứ tƣ: Cần cẩn trọng khi sử dụng tỷ giá hối đoái hiện tại
giữa nội tệ và một rổ tiền tệ trong việc đánh giá một kế hoạch vay
nợ. Việc vay nợ lớn thường làm tăng giá nội tệ lên cao hơn xu hướng
dài hạn của nó, đưa đến sự tính toán đánh giá không được chính xác.
1.1.3.2. Chỉ số đo lường an toàn nợ nước ngoài
Khi giám sát việc nợ nước ngoài xem có được an toàn,
kinh nghiệm được đưa ra bằng việc so sánh với các chỉ tiêu kinh tế vĩ

những thay đổi dự kiến trong thu xuất khẩu và chi nhập khẩu sử
dụng cùng một mô hình tỷ giá.
Mức dự trữ: các nước có khả năng bị tác động do xuất
khẩu tập trung hoặc rủi ro lãi suất và tỷ giá cần duy trì mức dự trữ
cao hơn. Họ cần liên hệ mức dự trữ tối thiểu với các thước đo quy
mô của các loại cơn sốt mà họ có thể gặp phải liên quan đến thu nhập
xuất khẩu hoặc tăng gánh nặng trả nợ.
1.1.3.3. Vai trò của an toàn nợ nước ngoài với phát triển
kinh tế - xã hội.
12

Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy việc phát triển kinh tế -
xã hội an toàn và bền vững luôn luôn gắn liền với việc vay nợ nước
ngoài ở mức độ cho phép, đủ khả năng cân đối trả nợ gốc và lãi theo
hợp đồng đề ra. Muốn vậy các quốc gia cần có chiến lược để đảm
bảo cho việc vay nợ nước ngoài được an toàn, không để xẩy ra như
Hy Lạp, Ai Len
Tăng thêm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư trong nước,
góp phần thu hút, mở rộng các hoạt động đầu tư phát triển kinh tế đất
nước, tạo nên niềm tin cậy của đất nước mình trên bình diện thế giới.
Nợ nước ngoài được an toàn với nền kinh tế sẽ tạo nguồn
vốn bổ sung cho quá trình phát triển và tăng trưởng phát triển kinh tế
được bền vững, qua đó điều chỉnh tốt cán cân thanh toán quốc gia,
góp phần hỗ trợ cho các nước vay nợ tiếp thu được công nghệ tiên
tiến, học hỏi được kinh nghiệm quản lý của các nhà tài trợ nước
ngoài.
Một số nước đã tăng trưởng nhanh, cải thiện tốt mức sống
của nhân dân và một số nước khác đã rơi vào khủng hoảng nền kinh
tế. Nguyên chân của khủng hoảng là Chính phủ đã không chi trả nợ
được, một trong những nguyên nhân chính là chưa xác định rõ được

quá khứ mà còn ở hiện tại, được xem như một hình mẫu về các cơ
chế chính sách an toàn nợ nước ngoài không hợp lý trong thập niên
80.
Hệ thống tài chính yếu kém tác động mạnh mẽ lên nền
kinh tế vĩ mô nói chung, lên tính thanh khoản và khả năng trả nợ
nước ngoài nói riêng. Hậu quả là nợ nước ngoài gia tăng, tiết kiệm
tài chính thấp và dễ bị tổn thương
1.2.1.5. Hy Lạp
14

Việc xây dựng cơ chế chính sách để đảm bảo an toàn nợ,
đặc biệt là nợ nước ngoài của Hy Lạp là rất lỏng lẻo, khiến cho nền
kinh tế đất nước phải lâm vào tình trạng khủng hoảng điển hình như
hiện nay.
1.2.2. Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam
Thứ nhất, đảm bảo duy trì ba cân đối vĩ mô chính. Ba cân
đối này bao gồm: cân đối giữa nguồn tài trợ từ tiết kiệm, kể cả tiết
kiệm từ bên ngoài và nhu cầu đầu tư; cân đối giữa thu và chi ngân
sách; cân đối giữa nguồn ngoại tệ vào và ra.
Thứ hai, không nên quá phụ thuộc vào nguồn vốn vay bên
ngoài.
Thứ ba, duy trì một tỷ lệ nợ ngắn hạn hợp lý.
Thứ tư, cần có lộ trình tự do hóa các giao dịch trên tài
khoản vốn thích hợp. Hoặc là kiểm soát chặt luồng vốn như Trung
Quốc hoặc tự do hóa luồng vốn khi đủ năng lực quản lý và xử lý các
tình huống bất lợi phát sinh như Malaysia.
Thứ năm, cần đảm bảo một cơ sở thể chế an toàn nợ nước
ngoài mang tính pháp lý cao.
1,9%/năm, với thời gian vay và mức lãi suất hiện tại không gây sức
ép cho NSNN về nghĩa vụ trả nợ đến hạn.
2.1.2. Cơ cấu nợ nước ngoài tại Việt Nam
Cơ cấu nợ của Chính phủ tính đến 31/12/2010 cụ thể như
sau: Các chủ nợ chính thức: 27,139 tỷ USD (trong đó: song phương
là 14,69 tỷ USD, đa phương là 12,449 tỷ USD) và các chủ nợ tư
nhân: 5,361 tỷ USD ( trong đó: người lắm giữ trái phiếu là 2,019 tỷ
16

USD, các ngân hàng thương mại là 3,195 tỷ USD, các chủ nợ tư
nhân khác là 0,147 tỷ USD) [13,tr14]
2.1.3. Nợ trong nước và nợ nước ngoài
Trong những năm gần đây, tỷ trọng huy động vay nợ trong
nước của Chính phủ ngày càng tăng (từ 18% năm 2001 lên 41% năm
2010), tỷ trọng vay nợ nước ngoài có xu hướng giảm (từ 82% năm
2001 xuống 70% vào năm 2005 và dự kiến chỉ còn chiếm 59% vào
cuối năm 2010
Điều đáng chú ý là, các khoản vay có lãi suất cao tăng
mạnh trong nửa đầu năm 2010. Nếu không kể các khoản nợ được
bảo lãnh, nợ nước ngoài của Chính phủ tăng tới 11,65% ở khoản vay
lãi suất 3% đến dưới 6%; tăng gấp đôi ở khoản vay lãi suất 6-10%;
và chỉ tăng nhẹ ở các khoản vay có lãi suất dưới 1%; giảm nhẹ ở mức
lãi suất từ 1 đến dưới 3%.
2.1.4. Nghĩa vụ trả nợ
Nếu như vào năm 2005 nghĩa vụ trả nợ chiếm 16,6% tổng
thu ngân sách nhà nước thì đến năm 2010, con số dự kiến vào
khoảng 21,4%.
Mức lãi suất trung bình hằng năm đối với các khoản vay
nước ngoài của Chính phủ tăng từ 1,3% năm 2001 lên 1,6% năm
2005, khoảng 2,1% năm 2010 và có xu hướng tiếp tục tăng lên sau

và đa phương nên có rất ít rủi ro tái cấp vốn. Khoản tái cấp vốn duy
nhất gắn với trái phiếu quốc tế của Chính phủ phát hành năm 2005 trị
giá 750 triệu USD, đáo hạn vào tháng 1 năm 2016. Do khoản này
cho Vinashin vay lại nên rủi ro tái cấp vốn thực tế là do doanh
nghiệp gánh chịu.
2.2.4. Rủi ro thanh khoản
18

Rủi ro thanh khoản và rủi ro tài chính do vốn khả dụng hay
sẵn có tiền mặt không chắc chắn. Chính phủ sẽ mất thanh khoản nếu
gặp phải các tình huống luồng tiền ra đột xuất, hay một số tình huống
khác có thể khiến các ngân hàng thương mại hay các định chế khác
chỉ cấp vốn được cho Chính phủ một cách hạn chế hay ngắn hạn.
2.2.5. Rủi ro tín dụng
Có sự xuất hiện rủi ro tín dụng đối với khoản cho các
doanh nghiệp vay lại và các khoản đầu tư của Chính phủ như quỹ
tích lũy trả nợ, tiền gửi ngân hàng và số dư tiền mặt. Việc giới thiệu
các công cụ phái sinh, đặc biệt là các hợp đồng hoán đổi lãi suất liên
tiền tệ, sẽ làm tăng thêm các rủi ro tín dụng của Chính phủ.
2.2.6. Rủi ro hoạt động
Rủi ro hoạt động là rủi ro thiệt hại từ các quy trình nội bộ,
bất cập hoặc hỏng hóc, do con người và hệ thống hay từ các sự kiện
ngoại sinh, bao gồm rủi ro về pháp luật, nhưng không bao gồm rủi ro
chiến lược và uy tín.
2.3. Đánh giá chung
2.3.1. Thành công và các tác động tích cực của an toàn nợ
nước ngoài ở Việt Nam
2.3.1.1. Đánh giá cho giai đoạn 2001-2010
Tính đến năm 2011, Việt Nam hầu như không còn nợ quá
hạn đối với các chủ nợ nước ngoài, đưa tỷ lệ tổng số nợ nước ngoài

6,0
6,2
6,4
6,5
Nguồn: Tính toán từ số liệu của Bộ Tài chính (2010)
Tóm lại, các chỉ số nợ nước ngoài tại Việt Nam cho giai
đoạn tới ở mức độ khó khăn rất nhiều so với giai đoạn trước. Tuy
nhiên, với cách điều hành linh hoạt và có sự giám sát chặt chẽ các
chỉ tiêu kinh tế vĩ mô so với các chỉ số vay và trả nợ nước ngoài,
đảm bảo nợ nước ngoài được an toàn thì nền kinh tế vẫn phát triển
nhanh và bền vững.
2.3.2. Một số tồn tại về an toàn nợ và nguyên nhân
Vay nợ nước ngoài của Chính phủ và được Chính phủ bảo
lãnh càng ngày càng tăng trong khi tổng GDP không kịp tăng để đảm
bảo ổn định nền kinh tế.
Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài so với xuất khẩu càng ngày
càng tăng, dự kiến đến 2015, nghĩa vụ trả nợ/xuất khẩu là 6,5%, đây
là con số báo động.
Đối với vốn vay ODA thì tốc độ giải ngân chậm và không
bảo đảm được tiến độ của dự án đã ký kết.
Chƣơng 3
20

PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN TOÀN NỢ
NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2011-2015
3.1. Phƣơng hƣớng
3.1.1. Dự báo tình hình phát triển kinh tế - xã hội trong và
ngoài nước trong giai đoạn 2011-2015
3.1.1.1. Kinh tế thế giới
IMF (6/2011) dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status