An toàn nợ nước ngoài của Việt Nam Đặng Văn Thanh Trường Đại học Kinh tế
Luận văn Thạc sĩ ngành: Kinh tế Chính trị; Mã số: 60 31 01
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Thanh
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến nợ nước ngoài, đặc biệt là
cơ sở lý luận về an toàn nợ nước ngoài gồm phương pháp, chỉ tiêu so sánh, đánh
giá Nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài bao gồm cả kinh nghiệm thành công và
hạn chế trong việc đảm bảo an toàn nợ nước ngoài. Đánh giá thực trạng an toàn nợ
Việt Nam trong giai đoạn 2001 đến 2010. Đưa ra phương hướng và một số giải pháp
cơ bản đảm bảo an toàn nợ nước ngoài của Việt Nam trong giai đoạn sắp tới.
Keywords. Nợ nước ngoài; Kinh tế tài chính; An toàn nợ; Việt Nam
Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều cho vay và đi vay, việc vay nợ nước
ngoài trở thành phổ biến cho các nước giàu và ngèo. Nguồn vốn vay nợ nước ngoài luôn luôn
là động lực thúc đẩy đầu tư phát triển cho toàn bộ nền kinh tế của mỗi quốc gia. Bên cạnh đó,
việc vay nợ, đặc biệt là nợ của Chính phủ không được nghiên cứu kỹ về sự an toàn, cũng như
quản lý an toàn nợ sẽ dẫn tới khủng hoảng nền kinh tế, nổi bật như Hy Lạp, Ai Len hiện nay,
nào?
- Cần có giải pháp gì để đảm bảo an toàn nợ nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn
2011 – 2015?
2.Tình hình nghiên cứu
Nhìn chung, trong việc nghiên cứu về nợ nước ngoài ở Việt Nam, các tài liệu chính
chủ yếu là các bài báo hoặc tạp chí được trình bầy dưới dạng nêu vấn đề và sự việc. Tuy
nhiên, cũng có một số đề tài nghiên cứu sâu về việc vay nợ nước ngoài ở Việt Nam, nối bật:
Luận án tiến sỹ của tác giả Đào Quang Thông (1992) “Các giải pháp giải quyết nợ
nước ngoài của Việt Nam”đã đưa ra khái niệm cơ bản về nợ nước ngoài, thực trạng nợ nước
ngoài của Việt Nam, phương hướng và biện pháp giải quyết nợ nước ngoài. Tuy nhiên, đề tài
chưa đưa được ra tình hình nợ nước ngoài của các nước trên thế giới và khu vực, để từ đó rút
ra kinh nghiệm cho Việt Nam. Ngoài ra, đề tài chưa đưa được ra các chiến lược vay nợ nước
ngoài để từ đó có những khuyến cáo, đảm bảo vay nợ nước ngoài được an toàn và bền vững.
Luận văn cao học của tác giả Hà Quốc Quyền (1996) “Một số vấn đề quản lý nợ
nước ngoài của ngân hàng nhà nước Việt Nam” chuyên sâu về nâng cao hiệu quả của Ngân
hàng Nhà nước trong quản lý nợ nước ngoài của chính phủ. Luận văn chưa đưa ra được các
số liệu tổng thể về nợ nước ngoài ở Việt Nam, cơ cấu, quy mô nợ và việc trả nợ hàng quí,
hàng năm. Ngoài ra luận văn chưa đưa ra được các cơ sở lý luận về việc vay nợ nước ngoài,
các giải pháp để vay nợ nước ngoài được an toàn.
Luận văn cao học của tác giả Nguyễn Duy Vũ (1998)“Nguyên nhân của khủng
hoảng nợ. Bài học cho Việt Nam” đã nêu ra những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ và
sử dụng mô hình hồi quy tương quan gồm 15 quan sát để xác nhận tác động của những biến
này. Tuy nhiên luận văn chưa đưa ra được cơ sở lý luận về việc vay nợ nước ngoài, quy mô
nợ nước ngoài ở việt Nam so với các chỉ tiêu chính của nền kinh tế như GDP, xuất khẩu và
chưa phân tích được việc vay nợ nước ngoài có an toàn không, để từ đó tìm ra các giải pháp,
phương hướng vay cho Việt Nam trong thời gian tới.
Luận án tiến sĩ của tác giả Tạ Thị Thu với đề tài (2002)“Một số vấn đề về chiến lược
vay trả nợ nước ngoài dài hạn ở Việt Nam” đã nêu nên thực trạng và thách thức của nợ nước
chỉ tiêu chính của nền kinh tế như GDP, xuất khẩu, doanh thu Đặc biệt chưa có đề tài nào
đưa được ra các cơ sở lý luận về an toàn nợ, từ đó đánh giá việc vay nợ ở Việt Nam có bền
vững hay không, qua đó tìm ra phương hướng và các giải pháp để việc vay nợ nước ngoài ở
Việt Nam được an toàn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích của đề tài:
Phân tích, đánh giá mức độ an toàn nợ nước ngoài của Việt Nam trong giai đoạn
2001 đến 2010, qua đó đưa ra các giải pháp đảm bảo an toàn nợ nước ngoài tại Việt Nam
trong giai đoạn 2011 – 2015.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến nợ nước ngoài, đặc biệt là cơ sở lý
luận về an toàn nợ nước ngoài gồm phương pháp, chỉ tiêu so sánh, đánh giá
- Nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài bao gồm cả kinh nghiệm thành công và hạn
chế trong việc đảm bảo an toàn nợ nước ngoài. - Đánh giá thực trạng an toàn nợ Việt Nam trong giai đoạn 2001 đến 2010.
- Đưa ra phương hướng và một số giải pháp cơ bản đảm bảo an toàn nợ nước ngoài
của Việt Nam trong giai đoạn sắp tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nợ nước ngoài của Việt Nam bao gồm nợ của Chính phủ và
nợ nước ngoài của các doanh nghiệp do Chính phủ bảo lãnh.
- Phạm vi nghiên cứu: Thời gian từ năm 2001 đến hết năm 2010
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá các chỉ số đánh giá
an toàn nợ trong mối quan hệ với các biến số vĩ mô. Từ đó làm rõ thực trạng an toàn nợ nước
ngoài của Việt Nam.
- Sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu về tình hình nợ nước ngoài ở
việt nam với tình hình nợ nước ngoài của các nước khác.
- Phương pháp dự báo tính đến các rủi ro như lãi suất, tỷ giá của những năm sắp
với khoản tiền đó. Các chủ thể trong quan hệ nợ là chủ nợ và con nợ. Chủ nợ là người cho
vay có trách nhiệm cung cấp các khoản tiền cho người đi vay. Có thể là một quốc gia, một tổ
chức quốc tế, một doanh nghiệp hoặc một cá nhân nước ngoài
Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng tái thiết quốc tế
(BIS), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra định nghĩa nợ nước ngoài một
cách bao quát hơn như sau:
“Tổng vay nợ nước ngoài là khối lượng nghĩa vụ nợ vào một thời điểm nào đó đã
được giải ngân và chưa hoàn trả, được ghi nhận bằng hợp đồng giữa người cư trú về việc
hoàn trả các khoản gốc cùng với lãi hoặc không lãi, hoặc về việc hoàn trả các khoản lãi cùng
với gốc hoặc không cùng với các khoản gốc”.
1.1.2. Phân loại nợ nước ngoài
Trong số các luồng vốn vào, có những luồng vốn gây nợ và không gây nợ. Luồng
gây nợ bao gồm: nợ dài hạn, trái phiếu, nợ ngắn hạn, tín dụng thương mại. Luồng không gây
nợ bao gồm đầu tư trực tiếp nước ngoài ròng, danh mục đầu tư (dạng mua cổ phiếu), viện trợ
không hoàn lại chính thức trong đó không tính hợp tác kỹ thuật. ODA được xếp một phần vào
luồng không gây nợ (phần cho không) và một phần vào luồng gây nợ (khoản cho vay).
Chủ yếu nợ nước ngoài được phân loại theo các tiêu chí sau:
Phân loại theo điều kiện vay: ưu đãi và không ưu đãi.
Phân loại theo thời hạn vay: ngắn hạn và dài hạn
Phân loại theo chủ đề đi vay: nợ chính thức (khu vực công) và nợ tư nhân (khu
vực tư). Nợ chính thức hay nợ chính phủ bao gồm nợ của các tổ chức Nhà nước (đối với một
liên bang thì gồm cả nợ của các bang trong liên bang) và nợ của cơ quan hành chính, tỉnh,
thành phố.
Phân loại theo chủ thể cho vay: nợ đa phương và nợ song phương. Nợ đa phương
đến chủ yếu từ các cơ quan của Liên hợp quốc, Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ Quốc tế, các
ngân hàng phát triển khu vực, các cơ quan đa phương như OPEC và liên chính phủ. Trong
khi đó, nợ song phương đến từ chính phủ một nước như các nước thuộc OECD và các nước
khác hoặc đến từ một tổ chức quốc tế nhân danh một chính phủ duy nhất dưới các dạng hỗ
đến các chỉ tiêu cơ bản như sau:
Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu: Xuất khẩu là nguồn cung ngoại tệ duy nhất để trả nợ
nước ngoài và phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng tổng sản lượng, tiêu dùng, nhập khẩu, điều
kiện đối ngoại.
Tăng trưởng tài sản nợ nước ngoài so với khả năng trả nợ bao gồm: i) trả nợ (trả nợ
gốc và lãi riêng) cho các khoản nợ cũ và nợ mới dự kiến; ii) tỷ lệ lãi/xuất khẩu là thước đo
tương đối tốt về gánh nặng nợ của một nền kinh tế; iii) tỷ lệ trả nợ (DRS – tổng nợ chia cho
tổng xuất khẩu). Tỷ lệ trả nợ nên nhỏ hơn 10% nếu lớn hơn 25% là đáng lo ngại[11,tr.25].
Các thước đo mức độ ưu đãi: các khoản vay ODA chứa đựng một yếu tố viện trợ -
do lãi suất của các khoản vay này thấp hơn lãi suất thị trường. [11, tr.26].
Ngoài ra, khi đánh giá các chỉ tiêu liên quan đến nợ nước ngoài cũng cần đánh giá
khả năng bị tác động trước những yếu tố bên ngoài có thể làm giảm năng lực trả nợ như [11,
tr.27]:
Mức độ tập trung xuất khẩu: nếu một nền kinh tế phụ thuộc vào một hoặc hai mặt
hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập xuất khẩu, thì cần cảnh giác hơn với
việc vay nợ nhiều so với một nước có cơ cấu xuất khẩu đa dạng;
Khả năng bị tác động bởi những thay đổi tỷ giá: Các nước cần dự báo tác động đối
với việc trả nợ bằng USD do sự lên giá hợp lý của các đồng tiền chính khác và liên hệ những
tác động này với những thay đổi dự kiến trong thu xuất khẩu và chi nhập khẩu sử dụng cùng
một mô hình tỷ giá.
Mức dự trữ: các nước có khả năng bị tác động do xuất khẩu tập trung hoặc rủi ro lãi
suất và tỷ giá cần duy trì mức dự trữ cao hơn. Họ cần liên hệ mức dự trữ tối thiểu với các
thước đo quy mô của các loại cơn sốt mà họ có thể gặp phải liên quan đến thu nhập xuất khẩu
hoặc tăng gánh nặng trả nợ.
1.1.3.3. Vai trò của an toàn nợ nước ngoài với phát triển kinh tế - xã hội.
Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy việc phát triển kinh tế - xã hội an toàn và bền
vững luôn luôn gắn liền với việc vay nợ nước ngoài ở mức độ cho phép, đủ khả năng cân đối
trả nợ gốc và lãi theo hợp đồng đề ra. Muốn vậy các quốc gia cần có chiến lược để đảm bảo
cho việc vay nợ nước ngoài được an toàn, không để xẩy ra như Hy Lạp, Ai Len
Tăng thêm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư trong nước, góp phần thu hút, mở
năng xuất khẩu của Trung Quốc rất cao và (2) đặc biệt là mức dự trữ ngoại tệ của Trung
Quốc khá lớn.
1.2.1.4. Philippines
Philippines là một quốc gia nợ nần cao không chỉ trong quá khứ mà còn ở hiện tại,
được xem như một hình mẫu về các cơ chế chính sách an toàn nợ nước ngoài không hợp lý
trong thập niên 80.
Hệ thống tài chính yếu kém tác động mạnh mẽ lên nền kinh tế vĩ mô nói chung, lên
tính thanh khoản và khả năng trả nợ nước ngoài nói riêng. Hậu quả là nợ nước ngoài gia tăng,
tiết kiệm tài chính thấp và dễ bị tổn thương
1.2.1.5. Hy Lạp
Việc xây dựng cơ chế chính sách để đảm bảo an toàn nợ, đặc biệt là nợ nước ngoài
của Hy Lạp là rất lỏng lẻo, khiến cho nền kinh tế đất nước phải lâm vào tình trạng khủng
hoảng điển hình như hiện nay.
1.2.2. Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam
Thứ nhất, đảm bảo duy trì ba cân đối vĩ mô chính. Ba cân đối này bao gồm: cân đối
giữa nguồn tài trợ từ tiết kiệm, kể cả tiết kiệm từ bên ngoài và nhu cầu đầu tư; cân đối giữa
thu và chi ngân sách; cân đối giữa nguồn ngoại tệ vào và ra.
Thứ hai, không nên quá phụ thuộc vào nguồn vốn vay bên ngoài. Thứ ba, duy trì một tỷ lệ nợ ngắn hạn hợp lý.
Thứ tư, cần có lộ trình tự do hóa các giao dịch trên tài khoản vốn thích hợp. Hoặc là
kiểm soát chặt luồng vốn như Trung Quốc hoặc tự do hóa luồng vốn khi đủ năng lực quản lý
và xử lý các tình huống bất lợi phát sinh như Malaysia.
Thứ năm, cần đảm bảo một cơ sở thể chế an toàn nợ nước ngoài mang tính pháp lý
cao.
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG AN TOÀN NỢ
NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2001 – 2010
Nếu như vào năm 2005 nghĩa vụ trả nợ chiếm 16,6% tổng thu ngân sách nhà nước
thì đến năm 2010, con số dự kiến vào khoảng 21,4%. Mức lãi suất trung bình hằng năm đối với các khoản vay nước ngoài của Chính phủ
tăng từ 1,3% năm 2001 lên 1,6% năm 2005, khoảng 2,1% năm 2010 và có xu hướng tiếp tục
tăng lên sau năm 2010
2.2. An toàn nợ nƣớc ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn 2001-2010
Với cơ cấu danh mục nợ hiện tại; dự kiến các yếu tố kinh tế vĩ mô; định hướng huy
động, sử dụng vốn vay và trả nợ nước ngoài của quốc gia, có thể tính được mức độ rủi ro, các
chỉ tiêu an toàn về nợ của Việt Nam
2.2.1. Rủi ro tỷ giá hối đoái
Trong thời gian qua, danh mục nợ của Chính phủ đã gặp phải rủi ro từ các biến
động bất lợi về tỉ giá, ảnh hưởng đến các chi phí trả nợ nước ngoài và giá trị danh nghĩa của
nợ nước ngoài theo đồng nội tệ. Các rủi ro này bao gồm việc mất giá của đồng tiền Việt Nam
so với các loại ngoại tệ của khoản vay và biến động về tỉ giá giữa các loại ngoại tệ dẫn đến
việc tăng giá của các ngoại tệ so với đồng tiền Việt Nam.
2.2.2. Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất được xác định là thay đổi về chi phí trả nợ do có một thay đổi về lãi
suất sẽ tác động đến nợ có lãi suất thả nổi và tác động đến tất cả các khoản nợ huy động ở các
mức lãi suất thị trường. Vì phần lớn nợ nước ngoài của Chính phủ đều có mức lãi suất ưu đãi
cao và cố định nên trong ngắn hạn có ít rủi ro lãi suất với danh mục nợ nước ngoài của Chính
phủ
Hiện nay, thu nhập bình quân trên đầu người của Việt Nam đang vượt ngưỡng 1000
USD/người/năm, vì vậy điều kiện vay ODA ngày càng kém ưu đãi hơn.
2.2.3. Rủi ro tái cấp vốn
Do tất cả các khoản nợ nước ngoài của Chính phủ có thời gian trả nợ và ân hạn dài,
chủ yếu là từ các nguồn vốn song phương và đa phương nên có rất ít rủi ro tái cấp vốn.
Khoản tái cấp vốn duy nhất gắn với trái phiếu quốc tế của Chính phủ phát hành năm 2005 trị
giá 750 triệu USD, đáo hạn vào tháng 1 năm 2016. Do khoản này cho Vinashin vay lại nên
Bảng 2.5. CÁC CHỈ TIÊU VỀ NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA QUỐC GIA TÍNH LÃI SUẤT VÀ
RỦI RO
CHỈ TIÊU
2011
2012
2013
2014
2015
Nợ nước ngoài của quốc
gia so với GDP (%)
36,5
37,3
37,7
38
38,1
Nghĩa vụ trả nợ nước
ngoài quốc gia so XK (%)
5,6
6,0
6,2
6,4
6,5
Nguồn: Tính toán từ số liệu của Bộ Tài chính (2010)
Tóm lại, các chỉ số nợ nước ngoài tại Việt Nam cho giai đoạn tới ở mức độ khó
khăn rất nhiều so với giai đoạn trước. Tuy nhiên, với cách điều hành linh hoạt và có sự giám
sát chặt chẽ các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô so với các chỉ số vay và trả nợ nước ngoài, đảm bảo nợ
nước ngoài được an toàn thì nền kinh tế vẫn phát triển nhanh và bền vững.
2.3.2. Một số tồn tại về an toàn nợ và nguyên nhân
Vay nợ nước ngoài của Chính phủ và được Chính phủ bảo lãnh càng ngày càng tăng
trong khi tổng GDP không kịp tăng để đảm bảo ổn định nền kinh tế.
3.1.2.2. Gắn với khả năng xuất khẩu
Xuất khẩu là một chỉ tiêu quan trọng thể hiện nguồn thu ngoại tệ chủ yếu của nền
kinh tế, gắn liền với thặng dư của cán cân thương mại, cán cân vãng lai và sự cân bằng của
cán cân thanh toán quốc tế. Khi xuất khẩu tăng cao và tổng kim ngạch xuất khẩu lớn cho thấy
nguồn ngoại tệ của nước đi vay tự có lớn, kèm theo nếu nhập khẩu thấp và hợp lý thì thặng
dư cán cân thương mại cao, sẽ có nguồn ngoại tệ lớn để dành cho trả nợ, không gây ra thâm
hụt và mất cân đối lớn đối với cán cân thanh toán quốc tế. Nhưng nếu tỷ lệ Tổng nợ/ Tổng
kim ngạch xuất khẩu trên 150% là đáng lo ngại. Thực tế, chỉ có một số nước đang phát triển
tránh được việc ra hạn nợ với tỷ lệ Tổng nợ/ Tổng kim ngạch xuất khẩu trên 200%.
3.1.2.3. Vay và trả nợ nước ngoài với cân đối ngân sách nhà nước
Vay nợ nước ngoài quan hệ chặt chẽ với cân đối NSNN ở phương diện nợ nước ngoài
của Chính phủ. Nguồn trả nợ nước ngoài của Chính phủ luôn luôn được cân đối trong chi ngân
sách nhà nước, do vậy khi tỷ lệ trả nợ trong chi NSNN thấp thì ngân sách đó mới có thể lành mạnh
được, còn nếu quá cao thì trở thành vấn đề báo động vì nó sẽ làm ảnh hưởng to lớn đến chi đầu tư
phát triển và chi thường xuyên.
3.1.2.4. Các mối tương quan khác
Tất cả những chỉ tiêu nêu trên đều nằm trong một mối quan hệ qua lại với nhau,
phản ánh sự lành mạnh của nền kinh tế và khả năng hấp thụ cũng như khả năng trả nợ nước
ngoài của nền kinh tế đó. Như vậy, trong công tác quản lý nợ nước ngoài cần đề cập nhiều
khía cạnh khác nhau trên một tổng thể để tìm ra một lời giải có lợi cho nền kinh tế.
3.2. Một số giải pháp đảm bảo an toàn nợ nƣớc ngoài ở Việt Nam trong giai
đoạn 2011-2015
3.2.1. Tiếp tục nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn vay nước ngoài
3.2.2. Duy trì giới hạn nợ ở mức an toàn
3.2.3. Tăng cường giám sát và hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý
3.2.4. Các chính sách cơ bản nhằm đảm bảo an toàn nợ nước ngoài
3.2.4.1. Chính sách tài khoá - tiến tới cân bằng tổng đầu tư trong nước với tiết kiệm
nội địa.
Câu hỏi đặt ra là Việt Nam sẽ huy động các nguồn vốn này từ đâu, khi mà lãi suất
ngoại tệ có xu hướng gia tăng, đồng thời các điều kiện vay ODA ngày càng chặt hơn.
Nam vào tình huống phải xem xét lại chính sách vay nợ của mình. Làm sao để huy động
được tối đa nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước một cách an toàn, mà không gây
khủng hoảng hoặc gánh nặng nợ cho nền kinh tế sau này. Từ đòi hỏi thực tế này, luận văn đã
nghiên cứu và đưa ra các lý luận về an toàn nợ nước ngoài, đánh giá thực trạng và phân tích
sự an toàn nợ nước ngoài ở Việt Nam; qua đó đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm đảm
bảo an toàn nợ nước ngoài của Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2015
References
Tiếng Việt
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê (2002) “Niên giám thống kê
2001” Nxb. Thống Kê.
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê (2003) “Niên giám thống kê
2002” Nxb. Thống Kê.
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê (2004) “Niên giám thống kê
2003” Nxb. Thống Kê.
4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê (2005) “Niên giám thống kê
2004” Nxb. Thống Kê. 5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê (2006) “Niên giám thống kê
2005” Nxb. Thống Kê.
6. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê (2007) “Niên giám thống kê
2006” Nxb. Thống Kê.
7. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê (2008) “Niên giám thống kê
2007” Nxb. Thống Kê.
8. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê (2009) “Niên giám thống kê
2008” Nxb. Thống Kê.
9. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê (20010) “Niên giám thống kê
2009” Nxb. Thống Kê.
10. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê (2011) “Niên giám thống kê