Cải cách kinh tế ở Trung Quốc sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) và những gợi ý về chính sách cho Việt Nam - Pdf 25



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
NGUYỄN MẠNH CƢỜNG CẢI CÁCH KINH TẾ Ở TRUNG QUỐC SAU KHI GIA
NHẬP TỔ CHỨC THƢƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) VÀ
NHỮNG GỢI Ý VỀ CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM

Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số : 5.02.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN NGỌC THANH Hà Nội - 2005 2
Môc lôc
Trang

2.2.2.Công nghiệp 47
2.2.3. Nông nghiệp 55
2.2.4.Dịch vụ 57
2.2.5. Ngoại thƣơng 66
2.2.6. Đầu tƣ nƣớc ngoài 73
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG 78
CHƢƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC VÀ NHỮNG GỢI Ý
VỀ CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM KHI GIA NHẬP WTO 84
3.1.BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC 84
3.1.1.Chính sách thuế và áp dụng điều khoản bảo hộ phi thuế quan
thông dụng quốc tế 85
3.1.2. Đẩy mạnh thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài 87
3.1.3. Sáp nhập xí nghiệp, đẩy mạnh cải cách hệ thống doanh nghiệp
Nhà nƣớc 88
3.1.4. Giải quyết vấn đề dƣ thừa lao động nông thôn 89
3.1.5. Chính sách tiền tệ 91
3.2. QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM 93
3.2.1. Tính tất yếu và triển vọng gia nhập WTO của Việt Nam 93
3.2.2.Thuận lợi và khó khăn khi Việt Nam gia nhập WTO 95
3.3.2.1.Thuận lợi 95
3.2.2.2. Khó khăn 97
3.3. GỢI Ý VỀ CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM 99
3.3.1. Tăng cƣờng sự phối hợp giữa các Bộ, ngành 99
3.3.2. Chủ động mở cửa thị trƣờng trong nƣớc để mở cửa thị trƣờng
nƣớc ngoài 100
3.3.3. Xây dựng nền kinh tế thị trƣờng phát triển 102
3.3.4.Hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế, thƣơng mại 106 4

tế thế giới như gia nhập ASEAN, là thành viên của APEC, ASEM và đang trong
quá trình hoàn tất việc đàm phán gia nhập WTO. Vì vậy, việc nghiên cứu cải
cách chính sách kinh tế của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO là rất cần thiết
và là những gợi ý về chính sách cho Việt Nam. 6
2.Tình hình nghiên cứu :
Cho đến nay đã có một số nghiên cứu về việc Trung Quốc gia nhập WTO
nhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào cải cách chính sách kinh tế của Trung
Quốc sau khi gia nhập WTO để từ đó đưa ra những gợi ý về chính sách cho Việt
Nam. Nghiên cứu của TS Trần Văn: Ảnh hưởng của việc Trung Quốc gia nhập
WTO và quan hệ kinh tế thương mại song phương giữa Trung Quốc và ASEAN.
Nghiên cứu của ông đã đề cập đến những thuận lợi và khó khăn mà thương mại
thế giới nói chung và thương mại song phương giữa Trung Quốc và ASEAN nói
riêng, trong đó có Việt Nam gặp phải sau khi Trung Quốc gia nhập WTO.
Nghiên cứu chưa đi sâu vào việc nghiên cứu các chính sách kinh tế cụ thể của
Trung Quốc mà chỉ đưa ra những kết quả về thương mại của Trung Quốc là
chính. Từ đó đưa ra những so sánh về ảnh hưởng của Trung Quốc đối với
thương mại thế giới trước và sau khi nước này ra nhập WTO. Nghiên cứu này
chưa đưa ra được những cải cách chính sách của Trung Quốc trong các lĩnh vực
sau khi gia nhập WTO để phát triển kinh tế của mình.
Ngoài ra còn một số nghiên cứu khác nhưng cũng chưa tập trung sâu vào
cải cách chính sách kinh tế của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO để từ đó đưa
ra những gợi ý về chính sách cho Việt Nam.
3.Mục đích nghiên cứu :
Nghiên cứu cải cách chính sách kinh tế của Trung Quốc sau khi gia nhập
WTO trong các lĩnh vực ngoại thương, đầu tư nước ngoài, ngân hàng, nông
nghiệp, công nghiệp, dịch vụ vv Trên cơ sở đó đưa ra những gợi ý về chính
sách cho Việt Nam.

nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn quan tâm đến
đề tài này. Tôi xin chân thành cảm ơn TS.Nguyễn Ngọc Thanh - người đã tận
tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài này. 8

CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ WTO
VÀ KINH TẾ TRUNG QUỐC

1.1.WTO - MỤC TIÊU VÀ NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG
1.1.1.Sự hình thành WTO
Năm 1944, khi chiến tranh thế giới thứ hai đang đi vào giai đoạn kết thúc
thì tại Bretton Woods, 44 quốc gia tư bản đã tổ chức một hội nghị quốc tế gọi là
hội nghị Bretton Woods. Tại hội nghị này, các quốc gia đã thành lập hai tổ chức
kinh tế là Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế
(IBRD - Tiền thân của Ngân hàng thế giới sau này). Đồng thời đã đi đến một
quyết định là thành lập ra một Tổ chức Thương mại quốc tế, gọi tắt là ITO.
Trong khuôn khổ Liên hợp quốc, đã có 03 Hội nghị quốc tế được tổ chức
(London, tháng 10/1946; Geneva, tháng 08/1947; La Havana, từ tháng 11/1947
đến tháng 03/1948) nhằm soạn thảo ra văn kiện thành lập ITO có tên gọi là
“Hiến chương La Havana”. Mục tiêu của ITO được qui định trong Hiến chương
La Havana là tạo việc làm đầy đủ và tăng trưởng thương mại. Vì vậy, để đạt
được hai mục tiêu nói trên, Hiến chương đã đề ra bốn biện pháp hành động chủ
yếu: tái thiết và phát triển kinh tế; tất cả các nước đều được tiếp cận với các
nguồn cung cấp nguyên liệu và các yếu tố sản xuất khác trên cơ sở bình đẳng;
cắt giảm các trở ngại đối với thương mại quốc tế; hợp tác và tư vấn với ITO.
Tuy nhiên, quá trình đàm phàn để đi đến Hiến chương ITO đã cho thấy những
bất đồng sâu sắc giữa Mỹ, Tây Âu với các nước đang phát triển về mục tiêu và

10
chấp quốc tế, điều hoà những mâu thuẫn và va chạm về mậu dịch quốc tế giữa
các nước.
GATT đã thông qua những chế độ và cơ chế về mậu dịch của các nước
đang phát triển, có một tác dụng nhất định trong việc thúc đẩy sự phát triển về
kinh tế và mậu dịch của các nước đang phát triển.

Hàng năm các thành viên nhóm họp để vạch ra chính sách cơ bản của
GATT, mỗi quốc gia thành viên có một phiếu. Chế độ đa phiếu được tôn trọng
nhằm tránh việc rời xa các nghĩa vụ cụ thể mà GATT qui định. Các tiểu ban hoà
giải được xác lập nhằm giải quyết các tranh chấp trong thương mại.
Từ năm 1947 đến năm 1994, đã có 8 vòng đàm phán thương mại đa
phương được tiến hành trong khuôn khổ GATT 1947. Nội dung của các vòng
đàm phán đã được mở rộng từ cắt giảm thuế quan và các biện pháp phi thuế
quan đến cải cách hệ thống pháp lý, cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT.
Nhưng do trào lưu toàn cầu hoá kinh tế diễn ra ngày càng nhanh, mạnh và
sâu sắc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nên GATT đã bộc lộ nhiều bất
cập và hạn chế. Điều này chủ yếu biểu hiện ở những điểm sau:
Về vị trí, GATT chỉ là một bản hiệp định mang tính tạm thời chứ không
phải là một tổ chức quốc tế chính thức, không có tư cách chủ thể luật quốc tế. Vị
trí không chính thức này của GATT đã gây trở ngại cho nó trong việc tiến hành
các hoạt động thông thường, hạn chế nó trong việc phát huy chức năng của
mình, làm giảm bớt quyền lực của nó với tư cách là một tổ chức quản lý và điều
hoà các hoạt động mậu dịch quốc tế. 11
Phạm vi quản lý của GATT quá nhỏ hẹp vì chỉ hạn chế ở lĩnh vực mậu
dịch và kinh tế, mậu dịch dịch vụ phát triển hết sức nhanh chóng, ngày càng
đóng vai trò quan trọng. Hơn nữa sự phát triển của nền kinh tế thế giới ngày

quyết tranh chấp của GATT không thể thực thi có hiệu quả. Như vậy, khi nước
thành viên, nhất là những nước thành viên có qui mô mậu dịch và thực lực kinh
tế hùng hậu vi phạm các nguyên tắc mậu dịch đa phương đã không bị trừng phạt
một cách đích đáng, do vậy thường xuyên đặt toàn bộ thể chế mậu dịch đa
phương trước nguy cơ tan rã.
Đứng trước những hạn chế nội tại không thể giải quyết của GATT và để
đáp ứng nhu cầu phát triển toàn cầu hoá mậu dịch và kinh tế quốc tế ngày càng
phức tạp, các bên tham gia vòng đàm phán Urugoay (1986 – 1993, 123 nước) đã
đi đến thống nhất quyết định thành lập một thể chế mậu dịch đa phương mới -
Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization – WTO) vào ngày
01/01/1995.
WTO có trụ sở tại Geneva và Tổng cán sự đầu tiên là ông R.Ruggiero,
người Italia. Ngày 31/12/1994, các nước và khu vực tham gia GATT trước đây
sau khi đồng loạt tiếp nhận bản Hiệp định đàm phán Urugoay đã trở thành các
bên đầu tiên tham gia ký kết điều ước của WTO. WTO là tổ chức quốc tế lớn
nhất và đầu tiên trong việc thiết lập các thoả thuận và cam kết chung trên qui mô
toàn cầu trong lĩnh vực thương mại và phát triển kinh tế nói chung. WTO ra đời
đã đánh dấu sự ra đời của một thể chế mậu dịch đa phương mới, từ đó, mậu dịch
quốc tế đã bước vào một thời đại mới - thời đại của WTO.
1.1.2.Mục tiêu và nguyên tắc hoạt động của WTO 13
1.1.2.1.Mục tiêu của WTO
WTO có 3 mục tiêu sau:
Thúc đẩy tăng trưởng hàng hoá và dịch vụ trên thế giới, phục vụ cho sự
phát triển ổn định, bền vững và bảo vệ môi trường.
Thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất đồng và
tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khổ của hệ thống
thương mại đa phương, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Công pháp quốc

nước này cũng phải dành sự ưu đãi đó cho tất cả các nước thành viên khác.
Thông thường, nguyên tắc MFN được quy định trong các Hiệp định thương mại
song phương. Khi nguyên tắc MFN được áp dụng đa phương đối với tất cả các
nước thành viên WTO thì cũng đồng nghĩa với nguyên tắc bình đẳng và không
phân biệt đối xử vì tất cả các nước sẽ dành cho nhau sự “đối xử ưu đãi nhất”.
Mặc dù được coi là “hòn đá tảng” trong hệ thống thương mại đa phương,
Hiệp định GATT 1947 và WTO vẫn quy định một số ngoại lệ và miễn trừ quan
trọng đối với nguyên tắc MFN. Ví dụ như điều XXIV của GATT quy định các
nước thành viên trong các Hiệp định thương mại khu vực có thể dành cho nhau
sự đối xử ưu đãi hơn mang tính chất phân biệt đối xử với các nước thứ ba, trái
với nguyên tắc MFN. GATT 1947 cũng có hai miễn trừ về đối xử đặc biệt và ưu
đãi hơn với các nước đang phát triển. Miễn trừ thứ nhất là quyết định ngày
25/06/1971 của Đại hội đồng GATT về việc thiết lập “Hệ thống ưu đãi phổ cập”
(GSP – Global System of Trade Prefrences among Developing Countries) chỉ áp
dụng cho hàng hoá xuất xứ từ các nước đang phát triển và chậm phát triển.
Trong khuôn khổ GSP, các nước phát triển có thế thiết lập một số mức thuế ưu
đãi hoặc miễn thuế quan cho một số nhóm mặt hàng có xuất xứ từ các nước
đang phát triển và chậm phát triển và không có nghĩa vụ phải áp dụng những
mức thuế quan ưu đãi đó cho các nước phát triển khác theo nguyên tắc MFN. 15
Miễn trừ thứ hai là quyết định ngày 26/11/1971 của Đại hội đồng GATT về
“Đàm phán thương mại giữa các nước đang phát triển”, cho phép các nước này
có quyền đàm phán, ký kết những Hiệp định thương mại dành cho nhau những
ưu đãi hơn về thuế quan và không có nghĩa vụ phải áp dụng cho hàng hoá đến từ
các nước phát triển. Trên cơ sở quyết định này, Hiệp định về “Hệ thống ưu đãi
thương mại toàn cầu giữa các nước đang phát triển” đã được ký kết năm 1989.
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (National Treatment – NT), quy định tại

có thể bị kiện khi ngay cả về mặt pháp lý họ không vi phạm các điều khoản nào
trong Hiệp định GATT nếu các nước này có những hành vi trái với “nguyên tắc
cạnh tranh công bằng”.
Tóm lại, theo quy định trong Hiệp định thành lập, WTO đã khắc phục
được những hạn chế của GATT trước đây:
Thứ nhất, WTO là một tổ chức pháp nhân có tư cách chủ thể luật quốc tế.
Tổ chức này có điều lệ rõ ràng chứ không phải chỉ mang tính chất cộng đồng
như GATT, các thành viên của nó có khả năng pháp định tất yếu khi WTO thực
hiện chức năng của mình.
Thứ hai, WTO có phạm vi hoạt động rộng hơn GATT. Sự ra đời của
WTO giúp tạo ra cơ chế pháp lý điều chỉnh thương mại thế giới trong các lĩnh
vực mới là dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ, đồng thời đưa vào khuôn khổ
thương mại đa phương hai lĩnh vực là dệt may và hàng nông sản.
Thứ ba, WTO có chức năng giải quyết tranh chấp hiệu lực hơn GATT,
bởi vì thoả ước khó có thể thực thi nếu không đạt được sự nhất trí. WTO đã khắc
phục được những hạn chế nội tại của GATT đồng thời cũng mang lại cho các
nước đang phát triển những quyền lực lớn hơn, có thể xoá bỏ được hiện tượng 17
các nước phát triển lợi dụng cơ chế giải quyết tranh chấp lỏng lẻo của GATT để
chèn ép các nước đang phát triển ở một mức độ tương đối.
Nói chung, so với GATT, WTO lớn mạnh hơn cả về lượng và chất. Phạm
vi hoạt động của WTO bao trùm lên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Cơ chế ra quyết định cũng như cơ chế giải quyết tranh chấp đã được bổ sung
cho phù hợp với tình hình mới. Cho dù có sự khác biệt như thế, WTO vẫn theo
đường lối của GATT để nhằm hạn chế những thiệt hại trong thương mại, cũng
tương tự như IMF hạn chế những thiệt hại trong giao dịch về tài chính, làm giảm
sút tính cạnh tranh.
Sự ra đời của WTO vào ngày 10/01/1995 là bước dạo đầu cho triển vọng

phương thức cần thiết để phù hợp với những trình độ phát triển kinh tế khác
nhau, tăng cường áp dụng hàng loạt biện pháp tương ứng. Đồng thời phải nỗ lực
tích cực để đảm bảo cho các nước đang phát triển, nhất là các nước chậm phát
triển nhất giành được phần tương ứng với nền kinh tế của mình trong tăng
trưởng thương mại quốc tế. Tôn chỉ của WTO thực sự là tiến bộ, có sức hấp dẫn
tất cả các quốc gia.
Có thể nhận thấy tính tất yếu khách quan của xu hướng hội nhập kinh tế
quốc tế nói chung và gia nhập WTO ở một số khía cạnh sau:
Thứ nhất, trên toàn thế giới và trong mỗi quốc gia đều đã có sẵn một mức
nào đó các điều kiện vật chất - kỹ thuật như tiềm lực kinh tế kỹ thuật, sức mạnh
quân sự chính trị, nền tảng văn hoá xã hội và khi các tiềm lực này phát triển
mạnh mẽ, đạt đến một điểm mà tại đó bản thân các tiềm lực này đòi hỏi một môi
trường rộng lớn hơn để phát triển. Khi đó, các nguồn lực sẽ di chuyển từ quốc
gia này sang quốc gia khác và ngược lại. Bất cứ một nền kinh tế nào không thể 19
không tham gia vào quá trình này. Đây chính là những điều kiện cơ bản để các
quốc gia tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế.
Thứ hai, nhìn nhận một cách khách quan, toàn bộ quá trình Toàn cầu hoá
là một tất yếu vì lợi ích thu được từ quá trình trên đối với mỗi quốc gia là xu
hướng chủ đạo. Nếu quốc gia nào không theo xu hướng đó thì chắc chắn sẽ phải
chịu tổn thất phát triển to lớn hơn nhiều, là tự chặn con đường tiến lên của mình
trong thời đại ngày nay. Vấn đề đặt ra ở đây không còn là cân nhắc xem nên
tham gia vào quá trình hội nhập hay không mà là hội nhập như thế nào, theo lộ
trình nào để lợi ích thu được từ đó là lớn nhất và hậu quả rủi ro là nhỏ nhất.
Bên cạnh những tất yếu khách quan mà mỗi quốc gia phải hội nhập kinh
tế quốc tế, thì còn một lý do khác nữa cũng thúc đẩy các nước muốn gia nhập
WTO, đó chính là những lợi ích to lớn mà tổ chức này đem lại cho các nước
thành viên. Có thể nêu ra một số lợi ích chủ yếu mà các thành viên sẽ nhận được

nước phải sửa đổi hệ thống pháp luật trong nước để phù hợp với quy định của
WTO cũng đồng thời ảnh hưởng đến một số lĩnh vực, gây những khó khăn nhất
thời. Điều đáng lưu ý là phải làm sao tận dụng tối đa những lợi thế của việc
tham gia tổ chức này và giảm thiểu những khó khăn.
Đối với Trung Quốc, họ có thể lợi dụng cơ chế giải quyết tranh chấp mậu
dịch của WTO để củng cố hệ thống luật pháp trong nước cũng như giải quyết
các mâu thuẫn thương mại một cách công bằng và hợp lý hơn, từ đó có thể tránh
được một số vấn đề gặp phải khi tranh chấp mậu dịch đơn phương xảy ra để
đảm bảo quyền lợi chính đáng của Trung Quốc. 21
Thứ ba, quốc gia gia nhập WTO sẽ được nâng cao vị thế quốc tế và tạo
thế đứng vững chắc hơn trong quan hệ quốc tế. Các nhà kinh tế đã ví WTO như
một con tàu đang chạy, nếu như một nước không nhanh chóng nhảy lên tàu thì
khoảng cách giữa họ và con tàu ngày càng xa, hay nói cách khác, họ sẽ bị tụt
hậu lại sau. Thực tế cho thấy WTO là một diễn đàn thương lượng nhằm tạo
thuận lợi cho thương mại phát triển; ngoài những cam kết đã được thoả thuận,
các thành viên sẽ tiếp tục sẽ tiếp tục thảo luận và thương lượng các Hiệp định
mới về thương mại và đầu tư. Do đó, là thành viên sẽ có điều kiện tham gia vào
quá trình quản lý nền kinh tế thông qua việc tham dự các vòng đàm phán để thu
thập thông tin, chiều hướng thương mại quốc tế, bảo vệ quan điểm của nước
mình về những vấn đề mới.
Đối với Trung Quốc, gia nhập WTO sẽ tăng cường rất nhiều quyền phải
phát ngôn và quyền chủ động của Trung Quốc trên thế giới, nhất là trong những
công việc kinh tế quốc tế, đồng thời cũng tạo ảnh hưởng tích cực đối với việc
hoàn thành sự nghiệp thống nhất dân tộc Trung Hoa.
Trong xu thế toàn cầu hoá, Tổ chức thương mại thế giới đã ra đời và hoạt
động với 4 nguyên tắc: Tối huệ quốc, đãi ngộ quốc gia, mở cửa thị trường và
cạnh tranh công bằng. WTO đã tạo lập một cơ chế thương mại mới cho các nước

làm người dân Trung Quốc có tầm nhìn rộng hơn, có ý thức công dân cao hơn
Dưới tác động của quá trình toàn cầu hoá về kinh tế, dù cho muốn hay
không thì mỗi quốc gia vẫn phải tham gia vào quá trình này. Việc chủ động
tham gia vào quá trình này sẽ giúp cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển
ổn định. Đặc biệt là các nước đang thực hiện công cuộc xây dựng và phát triển
nền kinh tế của mình. 23
1.2.2.2.Thách thức
Bên cạnh những lợi ích có được khi gia nhập WTO, Trung Quốc cũng
phải đối diện với một số thách thức và vấn đề khi nước này gia nhập WTO.
Một là, sau khi gia nhập WTO, thuế quan giảm tác động đến thị trường
trong nước của Trung Quốc, mức bảo hộ đối với ngành nghề cũng giảm đi,
những ngành vốn thiếu sức cạnh tranh quốc tế trong thời gian ngắn sẽ rơi vào
tình trạng kinh doanh khó khăn. Tuy nhiên, đối với Trung Quốc, một nước đã
thực hiện quy chế mậu dịch mấy chục năm còn phải dần dần giảm bớt biện pháp
hàng rào phi thuế quan thực hiện trước đây như giấy phép, hạn ngạch, hạn chế
ngoại hối, tiêu chuẩn kiểm nghiệm kỹ thuật và quy chế MFN đối với việc thâm
nhập thị trường của các nước Gia nhập WTO sẽ mang lại những thách thức
cho một số ngành nghề lâu nay dựa vào bảo hộ của Nhà nước, giá thành sản
phẩm cao, sức cạnh tranh trên thị trường kém. Như nông nghiệp Trung Quốc
một thời gian dài dựa vào bù lỗ của Nhà nước, thuế nhập khẩu cao tới 21%.
Trung Quốc cam kết sau khi gia nhập WTO một thời gian ngắn sẽ giảm thuế còn
17%, có sản phẩm quan trọng còn giảm tới 14,5%. Sau khi mở cửa thị trường,
nông sản phẩm nước ngoài với giá rẻ thâm nhập vào thị trường Trung Quốc
không chỉ tác động mạnh tới thị trường nông phẩm trong nước mà còn làm cho
vấn đề dư thừa lao động nông thôn vốn đã nghiêm trọng lại nghiêm trọng hơn.
Ngành chế tạo xe hơi Trung quốc hiện nay với mức thuế nhập khẩu cao
tới 80-100%, sau khi gia nhập WTO Trung Quốc cam kết trong vòng 6 năm sẽ

không phù hợp với các quy tắc của WTO trong luật ngoại thương của Trung
Quốc là chế độ thẩm duyệt đối với các doanh nghiệp ngoại thương, với tiêu
chuẩn căn cứ là những điều kiện không phù hợp với quy tắc của WTO như việc
cân đối trong thu chi ngoại hối, khối lượng xuất khẩu ròng 25
Thách thức đối với thể chế, quyết sách của Chính phủ: Đây là một vấn đề
hết sức quan trọng vì sai lầm về quyết sách là sai lầm lớn nhất. Chỉ một quyết
sách sai về “đại nhảy vọt” đã làm cho Trung Quốc tổn thất hàng trăn tỷ Nhân
dân tệ. Duy trì thể chế đề ra quyết sách như vậy là không thể phù hợp với cơ chế
thị trường XHCN, càng không phù hợp với tiến trình nhất thể hoá kinh tế.
Thách thức về nguy cơ an ninh và chủ quyền quốc gia: Trong giai đoạ
n đầu khi thích nghi với nhất thể hoá với nền kinh tế thế giới sẽ lộ rõ sự
yếu kém trong khả năng thích nghi và tính linh hoạt của Chính phủ Trung Quốc
và nếu có sai sót sẽ gây ra nguy cơ với chủ quyền quốc gia. Do đó, Chính phủ
Trung Quốc phải tìm ra biện pháp vừa có thể thoả mãn được những cam kết
quốc tế khi gia nhập WTO, vừa kiên trì phương châm tự chủ kinh doanh, tự phát
triển, đảm bảo giữ vững chủ quyền an ninh quốc gia và an ninh kinh tế.
Thách thức các nhân tố không thích ứng trước tình hình mới trong thể chế
quản lý hành chính, cơ chế vận hành và phương thức quản lý: Sau khi gia nhập
WTO, có những yêu cầu cao hơn đối với các cơ sở công cộng của Chính phủ.
Chính phủ vừa phải đảm bảo sự toàn vẹn lợi ích của chủ thể kinh tế nước mình,
vừa phải phù hợp với các quy tắc và thông lệ quốc tế. Chính phủ phải thay đổi
quan niệm từ quản lý các doanh nghiệp sang phục vụ các doanh nghiệp, xoá bỏ
thói quen cũ là quản lý Thương mại bằng các biện pháp hành chính, từng bước
thích ứng tạo thói quen làm việc theo pháp luật và theo thông lệ quốc tế.
Bốn là, thách thức về mặt pháp chế: Một đặc điểm của WTO là định ra một
trật tự mang tính chất pháp chế đối với các thành viên, đòi hỏi các thành viên phải
đảm bảo pháp luật; quy tắc, trình tự hành chính của Trung Quốc phải phù hợp với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status