ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
PHẠM THANH HIỀN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP GIA
CÔNG
CỦA TRUNG QUỐC SAU KHI GIA NHẬP WTO
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Hà Nội - 2010
Tên bảng
Trang
Bảng 1.1
Chi phí về lao động sản xuất
7
Bảng 1.2
Chi phí về lao động sản xuất
8
Bảng 2.1
Tình hình thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài của
Trung Quốc từ 1979 đến 2001
39
Bảng 2.2
Cơ cấu xuất khẩu theo hình thức (1997 – 2001)
40
Bảng 2.3
Cơ cấu giá trị gia công xuất khẩu của Trung Quốc
năm 1993
41
Bảng 2.4
Nguồn nhập khẩu của Trung Quốc theo hình thức
thƣơng mại và thị trƣờng năm 1993 và năm 2002
42
Bảng 2.5
Nguồn xuất khẩu của Trung Quốc theo hình thức
thƣơng mại và thị trƣờng năm 1992 và năm 2002
44
Bảng 2.6
Xếp hạng 10 môi trƣờng đầu tƣ hấp dẫn nhất thế giới
64
3
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu
Nội dung
4
MỤC LỤC Trang
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
i
DANH MỤC CÁC BẢNG
ii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
iii
MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP GIA CÔNG Ở TRUNG QUỐC
Trung Quốc trƣớc khi gia nhập WTO
32 5
2.1.2. Đánh giá chung về chính sách phát triển công nghiệp gia công của
Trung Quốc trƣớc khi gia nhập WTO
37
2.1.3. Một số vấn đề đặt ra đối với công nghiệp gia công của Trung Quốc
sau khi gia nhập WTO
49
2.2. Sự điều chỉnh chính sách phát triển công nghiệp gia công của
Trung Quốc sau khi gia nhập WTO
52
2.2.1. Quan điểm định hƣớng phát triển công nghiệp gia công của Đảng
cộng sản Trung Quốc sau khi gia nhập WTO
52
2.2.2. Một số chính sách cụ thể
56
2.2.3. Đánh giá chung hiệu quả chính sách phát triển công nghiệp gia
công Trung Quốc sau tám năm gia nhập WTO (2001 – 2009)
80
2.3. Bài học rút ra từ kinh nghiệm của Trung Quốc
86
2.3.1. Bài học kinh nghiệm từ những thành tựu
86
2.3.2. Bài học kinh nghiệm từ những hạn chế
90
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG
NGHIỆP GIA CÔNG VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong gần 20 năm trở lại đây, quá trình phân công lao động xã hội đã
phát triển mạnh mẽ vƣợt ra khỏi phạm vi quốc gia và có xu hƣớng toàn cầu.
Với mục tiêu tối thiểu hoá chi phí, các nƣớc phát triển đã và đang chuyển
những công đoạn đơn giản trong quá trình sản xuất sản phẩm công nghiệp của
mình sang thực hiện tại các nƣớc đang phát triển. Do đó, ở những quốc gia
đang phát triển trong thời gian qua, một lĩnh vực công nghiệp mới mang tên
“công nghiệp gia công” đã hình thành và ngày càng phát triển.
Sự hình thành và phát triển của công nghiệp gia công ở những nƣớc này
đã đem cho họ rất nhiều lợi ích dựa trên lợi thế mà các nƣớc đang phát triển
có đƣợc : Đó là dân số đông, sản xuất nông nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu,
trong quá trình công nghiệp hóa nông nhàn còn lƣợng lao động dƣ thừa nhiều,
trình độ khoa học kỹ thuật còn thấp kém. Mặt khác, đặc điểm của công nghiệp
gia công lại chỉ sử dụng nhiều lao động và kỹ thụât sản xuất đòi hỏi ở mức độ
thấp. Vì vậy, phát triển công nghiệp gia công giúp cho họ có thể giải quyết
hàng loạt vấn đề lớn nhƣ : giải quyết việc làm cho ngƣời lao động, tăng thu
nhập cho nhân dân, là cầu nối để tiếp cận khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm
sản xuất tiên tiến trên thế giới; thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá nông
nghiệp, nông thôn….
Là một nƣớc đang phát triển có nguồn lao động dồi dào, tài nguyên thiên
nhiên phong phú, nƣớc ta thấy rõ đƣợc những lợi ích to lớn của công nghiệp 7
gia công đem lại, chính phủ Việt Nam từ năm 1996 đã đề ra nhiều chính sách
nhằm phát triển lĩnh vực này. Tuy nhiên, trải qua 10 năm, đến nay công
nghiệp gia công ở Việt Nam vẫn còn nhiều mặt yếu, phát triển dƣới mức tiềm
năng, sức cạnh tranh rất thấp… Một trong những trở ngại lớn nhất là do hình
ảnh nƣớc Việt Nam năng động, đang đổi mới chƣa đƣợc khẳng định và quảng
bá sâu rộng trên toàn thế giới, các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài chƣa tin tƣởng vào
tìm hiểu, nghiên cứu những chính sách phát triển công nghiệp gia công của
Trung Quốc, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam là hết sức cần
thiết. Với lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Chính sách phát triển công
nghiệp gia công của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO và bài học kinh
nghiệm đối với Việt Nam” làm đề tài tốt nghiệp cao học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Sau khi gia nhập WTO, từ một nƣớc nông nghiệp, Trung Quốc nổi lên
nhƣ là một cƣờng quốc trong lĩnh vực công nghiệp gia công. Có đƣợc thành
tựu nhƣ vậy đầu tiên phải kể tới vai trò định hƣớng, quản lý đúng đắn, kịp
thời của các chính sách kinh tế mà Trung Quốc đã ban hành. Chính vì vậy,
trong thời gian qua, chính sách phát triển công nghiệp nói chung và công
nghiệp gia công của Trung Quốc nói riêng đã đƣợc nhiều học giả nghiên cứu.
Có thể nêu lên một số công trình chủ yếu sau:
- Lê Đăng Minh (2007), Trung Quốc gia nhập tổ chức thương mại thế
giới (WTO). Tác động và giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh một số
ngành công nghiệp, Viện kinh tế, Hà nội .
- Tập thể tác giả viện nghiên cứu Trung Quốc (2003), “Tìm hiểu vấn đề
công nghiệp hoá ở Trung Quốc”, Nxb Khoa học xã hội.
- Phạm Sỹ Thành (2005) , “Trung Quốc - Từ công nghiệp hoá truyền
thống đến con đƣờng công nghiệp hoá kiểu mới”, Tạp chí nghiên cứu Trung
Quốc, Số 3 (tr 19 – 30) . 9
- Phan Thái Quốc (2001), Trung Quốc quá trình công nghiệp hoá trong
20 năm cuối thế kỷ XX, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội
Trong chừng mực nhất định các tác giả đã chỉ ra đƣợc những vấn đề cơ
bản trong chính sách phát triển công nghiệp gia công Trung Quốc. Tuy nhiên,
việc phân tích chính sách phát triển công nghiệp gia công ở Trung Quốc sau
khi gia nhập WTO để từ đó vận dụng vào việc xây dựng chính sách phát triển
thứ XVI năm 2002 – thời điểm Trung Quốc bắt đầu gia nhập WTO.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp sử dụng những phƣơng pháp sau:
- Phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử.
- Phƣơng pháp trừu tƣợng hoá khoa học.
- Các cặp phƣơng pháp : phƣơng pháp phân tích và phƣơng pháp tổng
hợp; phƣơng pháp lôgic và lịch sử.
- Phƣơng pháp trừu tƣợng hóa khoa học
- Phƣơng pháp thống kê, so sánh
6. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn:
- Tổng hợp và phân tích những chính sách phát triển công nghiệp gia
công tiêu biểu của Trung Quốc kể từ khi gia nhập WTO đến nay.
- Nêu đƣợc những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam từ việc phân
tích chính sách phát triển công nghiệp gia công của Trung Quốc sau khi gia
nhập WTO.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển ngành công nghiệp gia công
Việt Nam từ khi gia nhập WTO.
7. Bố cục của luận văn 11
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm
3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách phát triển công
nghiệp gia công ở Trung Quốc.
Chƣơng 2: Chính sách phát triển công nghiệp gia công của Trung Quốc
sau khi gia nhập WTO.
Chƣơng 3: Một số đề xuất về chính sách phát triển công nghiệp gia công
của Việt Nam sau khi gia nhập WTO rút ra từ bài họcTrung Quốc.
Tại Anh mất 15 giờ để sản xuất 1 đơn vị lúa mỳ, trong khi tại Bồ Đào
Nha chỉ mất 10 giờ. Do đó, chi phí sản xuất 1 đơn vị lúa mỳ tại Bồ Đào Nha
chỉ bằng 10/15 = 2/3 chi phí lao động sản xuất 1 đơn vị lúa mỳ tại Anh. Vì
vậy, Bồ Đào Nha có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất lúa mỳ.
Ngƣợc lại, tại Anh chỉ mất 10 giờ để sản xuất 1 đơn vị rƣợu vang, trong
khi tại Bồ Đào Nha mất tới 20 giờ. Do đó, chi phí sản xuất 1 đơn vị rƣợu vang 13
ở Anh nhỏ hơn chỉ bằng 10/20 = ½ chi phí sản xuất 1 đơn vị rƣợu vang tại Bồ
Đào Nha. Vì vậy, Anh có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất rƣợu vang.
Nhƣ vậy, theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, Anh và Bồ
Đào Nha đều sẽ thu đƣợc lợi nếu Bồ Đào Nha chuyên môn hóa sản xuất lúa
mỳ, nhập khẩu rƣợu vang của Anh; Anh chuyên môn hóa sản xuất rƣợu vang,
nhập khẩu lúa mỳ của Bồ Đào Nha.
Sự ra đời của lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith trên đây đã đặt
nền tảng lý luận cho sự ra đời của thƣơng mại quốc tế. Tuy nhiên, theo lý
thuyết này, chỉ có những nƣớc có lợi thế tuyệt đối so với nƣớc khác về một
mặt hàng và kém lợi thế tuyệt đối về mặt hàng khác thì mới có lợi khi tham
gia thƣơng mại quốc tế. (Nhƣ trong ví dụ trên, Anh có lợi thế tuyệt đối về
rƣợu vang, nhƣng kém lợi thế tuyệt đối về lúa mỳ, Bồ Đào Nha có lợi thế
tuyệt đối về lúa mỳ nhƣng kém lợi thế tuyệt đối về rƣợu vang). Còn lại,
những nƣớc không có lợi thế tuyệt đối về mặt hàng nào thì lý thuyết này chƣa
đề cập đến.
Trên cơ sở đó, năm 1817, phát triển lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam
Smith, nhà kinh tế học ngƣời Anh - David Ricardo đã nghiên cứu và đƣa ra
lý thuyết lợi thế tƣơng đối (lý thuyết lợi thế so sánh).
Lý thuyết lợi thế tƣơng đối chỉ ra rằng chuyên môn hóa quốc tế sẽ mang
lại lợi ích cho tất cả các quốc gia nếu mỗi quốc gia chuyên môn hóa sản xuất
xuất khẩu các hàng hóa mà mình có ƣu thế tƣơng đối và chuyển những ngành
có chi phí tƣơng đối thấp hơn và nhập khẩu hàng hóa có chi phí tƣơng đối cao
hơn. Cụ thể : Anh chuyên môn hóa sản xuất lúa mỳ và nhập khẩu rƣợu vang
từ Bồ Đào Nha, Bồ Đào Nha chuyên môn hóa sản xuất rƣợu vang và nhập
khẩu lúa mỳ từ Anh.
Mặc dù lý thuyết lợi thế tƣơng đối của David Ricacđô đã phát triển và
giải quyết đƣợc hạn chế trong lý thuyết lợi thế tƣơng đối của Adam Smith,
nhƣng mức độ chuyên môn hóa mà ông nêu ra mới chỉ dừng lại ở dạng thành
phẩm (nhƣ Bồ Đào Nha chuyên sản xuất rƣợu, Anh chuyên môn hóa sản xuất
lúa mỳ). Phát triển lý thuyết trong thời đại ngày nay, thời đại mà trình độ phân
công lao động quốc tế đã đạt mức rất cao, mỗi quốc gia không còn sản xuất
toàn bộ thành phẩm mà chỉ sản xuất một vài chi tiết, bộ phận, của sản phẩm.
Ứng dụng lý thuyết lợi thế tƣơng đối trong trƣờng hợp này, tất cả các quốc gia 15
sẽ có lợi khi chuyên môn hóa sản xuất công đoạn có chi phí sản xuất nhỏ hơn
công đoạn khác và chuyển những công đoạn sản xuất cho chi phí sản xuất cao
hơn sang nƣớc khác. Thông thƣờng, nƣớc có nền tảng công nghệ cao thì
chuyên môn hóa các công đoạn kỹ thuật phức tạp (thƣờng là những nƣớc phát
triển), còn những công đoạn cần nhiều lao động, kỹ thuật thấp thì thuê các
nƣớc đang phát triển có trình độ công nghệ thấp, nguồn lao động dồi dào với
chi phí lƣơng thấp thực hiện. Trên cơ sở đó, ở các nƣớc đang phát triển đã
hình thành một lĩnh vực công nghiệp mới, đƣợc gọi là công nghiệp gia công.
1.1.2. Khái niệm và nội dung của công nghiệp gia công
1.1.2.1. Khái niệm công nghiệp gia công
Hiện nay có nhiều cách hiểu về công nghiệp gia công, từ những góc độ
khác nhau thì công nghiệp gia công đƣợc hiểu theo những cách khác nhau.
Theo nghĩa hẹp, công nghiệp gia công đƣợc hiểu là lĩnh vực sản xuất
kinh doanh mà doanh nghiệp trong nƣớc làm thuê cho doanh nghiệp có
nguyên vật liệu ở nƣớc ngoài.
nguyên thiên nhiên nhƣ than, khoáng sản, dầu mỏ, đất đai… chƣa đƣợc khai
thác hoặc khai thác chƣa hiệu quả. Gia công sản phẩm ở các nƣớc này sẽ giúp
cho các doanh nghiệp nƣớc ngoài tận dụng đƣợc nguồn tài nguyên thiên nhiên
dồi dào đó.
Thứ ba, các nƣớc đang phát triển thƣờng có dân số đông nên là những
thị trƣờng tiêu thụ hàng hóa rộng lớn, lƣợng cầu cao. Theo lý thuyết về chu
chuyển tƣ bản của Mác, thời gian chu chuyển của tƣ bản tỷ lệ nghịch với tốc
độ chu chuyển của tƣ bản. Các doanh nghiệp nƣớc ngoài nếu gia công sản
phẩm ngay tại thị trƣờng tiêu thụ sẽ tiết kiệm thời gian và chi phí lƣu thông,
rút ngắn đƣợc thời gian chu chuyển, tăng tốc độ chu chuyển của tƣ bản nhờ
đó thu đƣợc nhiều lợi nhuận hơn. 17
Mặc dù gia công ở nƣớc đang phát triển có những nguồn lợi nhƣ trên,
nhƣng khi gia công ở nƣớc ngoài, các doanh nghiệp luôn luôn giữ vững
nguyên tắc “không bao giờ gia công ngoài giá trị cốt lõi” nhằm giữ bí mật
công nghệ, đảm bảo sức cạnh tranh; nghĩa là thuê gia công nhƣng luôn phải
giữ lại các yếu tố để duy trì khả năng cạnh tranh và tài sản trí tuệ. Vì vậy, họ
chủ yếu chỉ thuê gia công những công đoạn đơn giản, kỹ thuất phổ thông nhƣ
là công đoạn chế biến nguyên liệu thô, lắp ráp, hoàn thiện thành phẩm…
* Các hình thức hoạt động của công nghiệp gia công
Ở nƣớc đang phát triển, hoạt động gia công đƣợc thực hiện dƣới hai hình
thức sau:
- Hình thức thứ nhất là chế độ gia công thuần tuý. Đây là hình thức gia
công mà doanh nghiệp gia công nhận nguyên liệu, thiết bị hoặc công nghệ từ
nƣớc ngoài, thực hiện khâu gia công, lắp ráp, sau đó chuyển thành phẩm cho
nƣớc ngoài và nhận phí gia công. Với hình thức này, doanh nghiệp gia công
không chịu trách nhiệm về nguyên vật liệu đầu vào và trong quá trình gia
công, nguyên liệu vẫn thuộc sở hữu của khách hàng (bên thuê gia công),
khách hàng nào mà doanh nghiệp lựa chọn.
Hình thức gia công này thƣờng đƣợc tổ chức bằng cách : doanh nghiệp
nƣớc ngoài chọn một đối tác trong nƣớc để ký kết hợp đồng gia công. Doanh
nghiệp nhận gia công có nhiệm vụ tìm nguồn cung nguyên liệu, nhập khẩu
dây chuyền sản xuất, quản lý toàn bộ quá trình điều hành, giám sát sản xuất.
Khi sản xuất ra sản phẩm, công ty nƣớc ngoài sẽ căn cứ vào các yêu cầu chất
lƣợng trong hợp đồng để nghiệm thu sản phẩm. Theo hình thức này, các
doanh nghiệp nhận gia công vẫn là doanh nghiệp độc lập, làm thuê cho các
doanh nghiệp nƣớc ngoài.
Thực hiện gia công theo hình thức này cũng có ƣu điểm và nhƣợc điểm
riêng: 19
+ Ƣu điểm : doanh nghiệp nhận gia công trong nƣớc có thể thực hiện gia
công cho nhiều đối tác, mạng lƣới bạn hàng rộng lớn, không bị phụ thuộc
hoàn toàn vào một doanh nghiệp nào, nhờ vậy lợi nhuận ổn định, độ rủi ro
thấp.
+ Nhƣợc điểm : doanh nghiệp gia công phải tự tìm nguồn cung nguyên
liệu và dây chuyền sản xuất đáp ứng đúng yêu cầu của khách hàng, tự giám
sát quá trình sản xuất đảm bảo sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lƣợng nên trách
nhiệm của doanh nghiệp là rất lớn. Ngoài ra, thực hiện gia công theo hình
thức này, xét ở tầm vĩ mô, các doanh nghiệp trong nƣớc không thể tiếp thu
khoa học công nghệ một cách trực tiếp từ doanh nghiệp thuê gia công.
Từ những phân tích trên, mỗi hình thức gia công đều có ƣu nhƣợc điểm
riêng, ƣu điểm của hình thức này lại là nhƣợc điểm của hình thức kia và
ngƣợc lại. Vì vậy, để phát huy tối đa ƣu điểm và khấu trừ nhƣợc điểm cho
nhau, chính phủ các nƣớc đang phát triển thƣờng thực hiện nhiều chính sách
để phát triển cả hai hình thức công nghiệp gia công trên. Tuy nhiên, với ƣu
điểm thu hút đƣợc khoa học công nghệ trực tiếp từ bên thuê gia công, hình
1.1.3.1. Khái niệm chính sách phát triển công nghiệp gia công
* Khái niệm chính sách kinh tế
Từ trƣớc đến nay đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về chính sách
kinh tế. Có thể kể tới một vài quan niệm đƣợc nhiều học giả thừa nhận nhƣ:
- Chính sách kinh tế là tổng thể các quan điểm, các chuẩn mực, các biện
pháp và các thủ thuật mà nhà nƣớc sử dụng để tác động lên các đối tƣợng và
khách thể trong nền kinh tế nhằm đạt đến các mục tiêu, chiến lƣợc đã lựa
chọn của đất nƣớc.
- Chính sách kinh tế là một công cụ quản lý của nhà nƣớc để điều hành
các hoạt động kinh tế theo những mục tiêu nhất định. 21
- Chính sách kinh tế là một quyết sách của nhà nƣớc nhằm giải quyết
một vấn đề đặt ra trong đời sống kinh tế của đất nƣớc thông qua hoạt động
thực thi của các ngành, các cấp có liên quan trong bộ máy nhà nƣớc.
Bổ sung cho quan niệm này có nhiều ý kiến cho rằng không phải bất cứ
quyết sách nào giải quyết các vấn đề trong đời sống kinh tế cũng đƣợc gọi là
chính sách kinh tế. Những quyết sách đột xuất hay ngẫu nhiên của nhà nƣớc
nhƣ cho các doanh nghiệp nghỉ bù chủ nhật… không đƣợc coi là chính sách
kinh tế. Theo ý kiến này, chính sách kinh tế phải là những quyết sách tác động
lâu dài và sâu sắc tới hoạt động của các cá nhân hoặc cộng đồng.
Từ những quan niệm trên, trong phạm vi nghiên cứu của mình, tác giả
cho rằng chính sách kinh tế là hệ thống những công cụ mà nhà nước sử
dụng để điều tiết các mối quan hệ kinh tế quan trọng có tầm ảnh hưởng
sâu sắc trong đời sống kinh tế nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược quốc
gia xét trong từng thời kỳ nhất định.
Dựa trên tiêu chí lĩnh vực tác động, chính sách kinh tế làm nhiều loại:
+ Chính sách phát triển ngành nông nghiệp
+ Chính sách phát triển ngành công nghiệp
ngành có ƣu điểm là sử dụng nhiều lao động, trình độ công nghệ phù hợp với
các nƣớc đang phát triển. Mặt khác, lại có nhƣợc điểm là công nghệ thƣờng
lạc hậu, đơn giản, gây ô nhiễm môi trƣờng. Vì vậy, phát triển ngành công
nghiệp này một cách hiệu quả không hề đơn giản, phải sử dụng cùng một lúc
rất nhiều công cụ thực hiện đƣợc các chức năng sau:
- Chức năng kích thích sự phát triển của ngành:
Chính sách phát triển công nghiệp gia công trƣớc hết phải kích thích sự
phát triển của ngành công nghiệp gia công. Khác với những ngành công
nghiệp khác nhƣ công nghiệp khai khoáng, công nghiệp chế biến… phần lớn
dựa vào nguồn lực trong nƣớc, công nghiệp gia công chủ yếu dựa vào nguồn 23
lực bên ngoài, cụ thể là nguồn vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI). Vì vậy,
để phát triển ngành công nghiệp này đầu tiên cần phải thực hiện tốt các chính
sách thu hút FDI vào công nghiệp gia công.
- Chức năng định hƣớng:
Chức năng định hƣớng của chính sách phát triển công nghiệp gia công
phụ thuộc vào chiến lƣợc phát triển kinh tế của từng quốc gia. Nếu quốc gia
chủ trƣơng phát triển công nghiệp gia công thành một ngành thế mạnh thì
chính sách phát triển công nghiệp gia công phải hƣớng tất cả hoạt động của
tất cả các chủ thể kinh tế, các nguồn lực và các hoạt động đối nội, đối ngoại
của nhà nƣớc phục vụ cho sự phát triển của ngành này. Trong trƣờng hợp
quốc gia chủ trƣơng thay đổi chiến lƣợc phát triển công nghiệp gia công thì
các chính sách phát triển công nghiệp gia công phải thể hiện rõ đƣợc định
hƣớng này.
- Chức năng điều tiết
Những nƣớc đang phát triển thƣờng có sự phát triển không đồng đều
giữa các vùng, các hoạt động công nghiệp gia công thƣờng chỉ tập trung ở
vùng đồng bằng và thành phố lớn, còn lại các vùng nông thôn và miền núi hầu