Chính sách tín dụng của Hàn Quốc trong thời kỳ công nghiệp hoá và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
NGUYỄN CHÍ LONG CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG CỦA HÀN QUỐC TRONG THỜI KỲ CÔNG
NGHIỆP HÓA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn: TS. Vũ Phương Thảo
Hà nội - 2004


2.2. CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG CỦA HÀN QUỐC TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP
HOÁ. 32
2.2.1. Chính sách tín dụng của chính phủ Hàn Quốc trong thời kỳ tái thiết
nền kinh tế ( từ sau chiến tranh Triều Tiên đến trước 1960) 33
2.2.2. Thời kỳ 1962 - 1971. 35
2.1.3. Thời kỳ 1972-1979. 46

138
2.3. ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HOÁ CỦA HÀN QUỐC. 59
2.3.1. Những tác động tích cực của chính sách tín dụng đối với quá trình
công nghiệp hoá 59
2.3.2. Những hậu quả xấu của chính sách tín dụng đối với nền kinh tế 72
2.4. PHÂN TÍCH CÁC NGUYÊN NHÂN QUY ĐỊNH TÍNH HIỆU QUẢ CỦA CHÍNH
SÁCH TÍN DỤNG CỦA CHÍNH PHỦ HÀN QUỐC TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP
HOÁ. 79
CHƯƠNG 3 CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP
HOÁ VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CÁC KINH NGHIỆM CỦA HÀN QUỐC 87
3.1. CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP
HOÁ. 87
3.1.1. Khái quát chung về quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam. 87
3.1.2. Nội dung chính sách tín dụng của Việt nam trong thời kỳ công
nghiệp hoá. 93
3.1.3. Đánh giá tác dụng của chính sách tín dụng đối với công nghiệp hoá.
104
3.2. NHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC.
3.2.1. Những nét tương đồng. 118
3.2.2. Những điểm khác biệt 121
3.3. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM 125
3.3.1. Nâng cao năng lực tín dụng của hệ thống Ngân hàng Việt Nam . 125

với tất cả các nước kém phát triển cần phải tiến hành công nghiệp hoá để phát
triển kinh tế trong đó có Việt Nam.Việt Nam bắt đầu tiến hành công nghiệp
hoá trong những điều kiện có nhiều điểm tương đồng với Hàn Quốc như
cùng một điểm xuất phát, sự thiếu hụt về nguồn vốn. Việt nam đang rất cần
học hỏi các kinh nghiệm từ bên ngoài đặc biệt là từ những nước có hoàn cảnh
giống mình như Hàn Quốc để phục vụ cho việc thực hiện công nghiệp hoá
thành công ở Việt Nam. Nghiên cứu kinh nghiệm của Hàn Quốc trong việc sử

2
dụng chính sách tín dụng phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá nhằm rút ra
những bài học có ý nghĩa đối với Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hoá
là cần thiết. Do vậy, chúng tôi chọn đề tài này để làm luận án thạc sỹ kinh tế .
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Ở Việt Nam, trong vài năm trở lại đây, cùng với việc thành lập Ban
nghiên cứu Hàn Quốc thuộc Trung tâm Khoa học và Nhân văn Quốc gia, một
số vấn đề về kinh tế Hàn Quốc như chính sách xuất khẩu, chính sách công
nghiệp hoá, chương trình cải tổ nền kinh tế Hàn Quốc sau khủng hoảng kinh
tế 1997 đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu.
Vấn đề chính sách tín dụng của Hàn Quốc trong thời kỳ công nghiệp
hoá cũng đã được một số học giả của Viện Kinh tế thế giới nghiên cứu và
công bố trên một số tạp chí kinh tế. Nhưng cho đến nay, ở Việt Nam, chưa
có một công trình nào đề cập một cách có hệ thống về chính sách tín dụng của
chính phủ Hàn Quốc trong những giai đoạn cụ thể của tiến trình công nghiệp
hoá và những tác dụng tích cực cũng như những hạn chế của nó đối với sự
nghiệp công nghiệp hoá và tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc để từ đó rút ra
những bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo tốt cho Việt Nam.
Tại Hàn Quốc, chính sách tín dụng và sự nghiệp công nghiệp hoá của Hàn
Quốc đã được một số học giả thuộc Viện phát triển Hàn Quốc như Yoon Je
Cho và Joon Kyung Kim nghiên cứu. Đặc biệt, từ sau khủng hoảng kinh tế
năm 1997, khi sự can thiệp sâu của chính phủ vào lĩnh vực tài chính và công

Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, xem xét
chính sách tín dụng của chính phủ Hàn Quốc trong trạng thái phát triển qua
các thời kỳ và đặt nó trong mối quan hệ với các giải pháp kinh tế vĩ mô khác. 4
Các phương pháp khác như phương pháp so sánh, phương pháp thống kê
cũng được sử dụng phục vụ cho mục đích của đề tài.

6.Những đóng góp chính của luận án
- Khẳng định sự cần thiết khách quan và vai trò quan trọng của chính phủ
đối với việc tạo nguồn lực và thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá trong
giai đoạn đầu của sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc.
- Luận giải vai trò của chính sách tín dụng như là một công cụ có hiệu quả
mà chính phủ có thể sử dụng phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu công
nghiệp hoá và tăng trưởng kinh tế.
- Làm rõ thực chất của chính sách tín dụng của Hàn Quốc trong thời kỳ
công nghiệp hoá và những tác động tích cực cũng như những hậu quả xấu
của nó đôí với quá trình phát triển kinh tế của Hàn Quốc.
- Tổng kết những bài học mà Việt Nam có thể học hỏi được từ kinh nghiệm
của Hàn Quốc nhằm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá-
hiện đại hoá.

7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn chính sách tín dụng của Hàn Quốc
trong thời kỳ công nghiệp hoá
- Chương 2: Phân tích thực trạng chính sách tín dụng của Hàn Quốc trong
thời kỳ công nghiệp hoá
- Chương 3: Chính sách tín dụng của Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp

cầu đầu tư của xã hội.
Tín dụng tồn tại và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của
những quan hệ hàng hoá - tiền tệ. Mục đích và tính chất của tín dụng do mục
đích và tính chất của nền sản xuất hàng hoá quyết định. Sự vận động của tín
dụng luôn luôn chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế của phương thức sản
xuất trong xã hội đó.
Cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hoá, tín dụng đã trải qua một
quá trình phát triển từ phạm vi hẹp đến phạm vi rộng, từ đơn giản đến phức
tạp về kĩ thuật và nghiệp vụ. Các hình thức tín dụng cũng ngày càng phong
phú hơn. Căn cứ vào thời hạn tín dụng, người ta chia tín dụng ra thành ba
loại, đó là: tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn. Căn cứ
vào tính chất luân chuyển vốn, tín dụng gồm hai loại là tín dụng trực tiếp và
tín dụng gián tiếp. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng, ta có tín dụng
sản xuất và lưu thông hàng hóa, tín dụng tiêu dùng, v.v…
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, nguồn cung cấp tín dụng chính
là các tổ chức kinh doanh và các cá nhân trong đó tín dụng do các ngân hàng
cung cấp là phổ biến.
Khái niệm chính sách tín dụng
Thực chất chính sách tín dụng là cung ứng vốn và phương tiện thanh
toán cho các tổ chức kinh doanh trong nền kinh tế thông qua các nghiệp vụ
tín dụng ngân hàng, dựa trên các quỹ cho vay được tạo lập từ các nguồn tiền
gửi của xã hội và một hệ thống lãi suất mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp với sự
vận động của cơ chế thị trường.
Nội dung cơ bản của chính sách tín dụng bao gồm các vấn đề có liên
quan đến việc cấp tín dụng như: quy mô của các khoản cho vay, mức lãi

7
xuất và, kỳ hạn cho vay, các yêu cầu đảm bảo cho các khoản vay, phạm vi
cho vay, và một số nội dung khác.
Chính sách tín dụng được xây dựng trên những cơ sở sau:

cao hiệu quả sử dụng vốn trong tất cả các thành phần kinh tế thông qua “đi
vay để cho vay”.
* Chính sách tín dụng còn là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy
quá trình mở rộng giao lƣu kinh tế quốc tế.
Hoạt động tín dụng sẽ cung cấp vốn cho các nhà đầu tư kinh doanh
xuất nhập khẩu, từ đó, tạo điều kiện để các tổ chức kinh doanh tham gia vào
thị trường quốc tế.
* Chính sách tín dụng đƣợc sử dụng nhƣ là một công cụ điều
chỉnh nền kinh tế thị trƣờng ở tầm vĩ mô của nhà nƣớc.
Thông qua hoạt động tín dụng làm biến đổi nhiều hoạt động sản xuất
kinh doanh phục vụ của các chủ thể kinh tế theo hướng tối ưu, góp phần làm
cho chu kì hoạt động của tiền tệ rút ngắn về thời gian, nâng cao vòng quay
của tiền tệ. Bằng cách đó tín dụng tác động có hiệu quả đến nhịp độ phát triển
sôi động và cạnh tranh của kinh tế thị trường.
* Chính sách tín dụng có tác dụng chống lạm phát.
Thông qua tín dụng chính phủ có thể điều chỉnh sự chuyển động của
nền kinh tế thị trường khi quá nóng hoặc quá lạnh, tức là khi tăng trưởng quá
mức hoặc khi suy thoái. Thông qua hoạt động nhận gửi và cho vay; huy động
tiết kiệm dài hạn, huy động tiết kiệm đảm bảo giá trị bằng vàng, phát hành
công trái, kì phiếu , chính sách tín dụng có tác dụng điều chỉnh trong cả hai
trường hợp trên.

9
1.2. QUAN ĐIỂM VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ CỦA CHÍNH
PHỦ HÀN QUỐC VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH TÍN
DỤNG ĐỐI VỚI CÔNG NGHIỆP HOÁ
1.2.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội của Hàn Quốc thời điểm
sau chiến tranh.
Triều Tiên đã bị Nhật Bản xâm chiếm từ năm 1910 đến 1945 và đã bị
chia cắt thành miền Nam và miền Bắc từ sau chiến tranh thế giới thứ hai.

độ lạm phát cao của Hàn Quốc khiến cho hầu hết các nhà nghiên cứu về kinh
tế Hàn Quốc đều cho rằng giai đoạn này là thời kỳ ảm đạm nhất của nền kinh
tế Hàn Quốc. Trong thời kỳ những năm 50, chính phủ Hàn Quốc - dưới sự
lãnh đạo của tổng thống đầu tiên Rhee Syng Man - đã không có một chiến
lược phát triển kinh tế toàn diện và chính sách kinh tế trong thời gian này
được đặc trưng bởi hàng loạt các giải pháp điều tiết thiếu mục đích rõ ràng
của chính phủ. Thời kỳ này, chính phủ Hàn Quốc không có một ý tưởng rõ
ràng về phát triển kinh tế và mục tiêu phát triển bị ảnh hưởng bởi ý thức chính
trị về việc xây dựng một quốc gia được bảo đảm bởi lực lượng quân sự Mỹ
với những lời hứa bảo vệ an toàn cho Hàn Quốc, ổn định lạm phát sau chiến
tranh và tìm kiếm những hỗ trợ của Mỹ cho nền kinh tế bị phá huỷ sau chiến
tranh .
1.2.2. Quan điểm về công nghiệp hoá của chính phủ Hàn
Quốc và các công cụ phát triển công nghiệp hoá
1.2.1.1. Quan điểm về công nghiệp hoá của chính phủ Hàn Quốc
* Công nghiệp hoá là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để phát
triển kinh tế.

11
Sau khi Park Chung Hee trở thành tổng thống đầu tiên do dân bầu,
Hàn Quốc đã có những thay đổi lớn trong việc lựa chọn chiến lược phát triển
kinh tế của quốc gia. Được đào tạo tại Học viện quân sự của Nhật Bản, ông
Park Chung Hee đã chịu ảnh hưởng rất lớn của Nhật Bản, coi Nhật Bản như
một khuôn mẫu về sự phát triển kinh tế và mơ tưởng đến việc xây dựng các
ngành công nghiệp, đặc biệt là các ngành công nghiệp nặng ở Hàn Quốc.
Chính phủ Park Chung Hee cho rằng sự giàu có của một quốc gia là
một nền công nghiệp vững mạnh và an ninh quốc gia. Hàn Quốc là quốc gia
nghèo về tài nguyên, nền kinh tế dựa trên nông nghiệp là chủ yếu nên nếu
muốn trở thành quốc gia giàu có thì cần thiết phải phát triển công nghiệp,
đặt công nghiệp hoá là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Sự phát triển kinh

vực này thì mục tiêu của công nghiệp hoá và mục tiêu tăng trưởng kinh tế sẽ
khó thành công. Các nhà chính trị và các nhà hoạch định chính sách kinh tế
của Hàn Quốc đã lựa chọn công cụ tài chính như là một công cụ chủ yếu để
quản lý các nhà công nghiệp thuộc lĩnh vực kinh tế tư nhân. Thông qua kiểm
soát tài chính mà bắt buộc họ phải phục vụ cho lợi ích của quốc gia.
* Hy sinh tiêu dùng và phúc lợi xã hội để dành nguồn vốn cho công
ngiệp hoá
Có thể nói rằng chính sách kinh tế của chính quyền Park Chung Hee
nhằm bảo vệ người sản xuất chứ không bảo vệ cho lợi ích của người tiêu
dùng. Trong điều kiện Hàn Quốc phải tập trung vốn để đầu tư cho phát cho
phát triển triển công nghiệp và trả nợ các khoản vay nước ngoài, tiết kiệm
tiêu dùng được xem là quốc sách. Các phúc lợi xã hội cũng bị thu hẹp lại để
tập trung nguồn vốn vào phát triển công nghiệp.

13
Các tư tưởng này về chính sách công nghiệp của tổng thống Park
Chung Hee được các tổng thống như Chun Doo Whan, Roh Woo Tae, tiếp
tục thực hiện trong những nhiệm kỳ tiếp theo.
1.2.2.2. Quá trình tiến hoá của chính sách công nghiệp hoá của Hàn
Quốc.
+ Công nghiệp hoá trên cơ sở định hướng xuất khẩu
(thời kỳ những năm 60)
Giai đoạn đầu của chính sách công nghiệp hoá của Hàn Quốc
được đặc trưng bởi định hướng khuyến khích xuất khẩu từ năm 1962 đến
1971 khi chính quyền Park thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất và kế hoạh
5 năm lần thứ 2.
Thời kỳ đầu những năm 60, sau khi Tổng thống Park Chung Hee lên
nắm quyền điều hành đất nước, chính quyền Park đã nhấn mạnh rằng phát
triển kinh tế là ưu tiên hàng đầu để hiện đại hoá đất nước. Mục tiêu của giai
đoạn này là tạo ra sự tăng trưởng kinh tế nhanh về số lượng trên cơ sở xây

xuất khẩu trên cơ sở sử dụng nhiều lao động, có lợi thế cạnh tranh với nước
ngoài. Các ngành sợi nhân tạo, hoá dầu, thiết bị điện và các ngành công
nghiệp nhẹ như vải, cao su, gỗ dán được coi là những ngành xuất khẩu chủ
yếu.
Trong giai đoạn này, chính phủ lấy mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu
làm thước đo cho mọi hoạt động kinh doanh. Tốc độ tăng GNP bình quân
năm thời kỳ 1966-1971 là 9,7% trong đó tốc độ của của nghành chế tác
19,8%, tốc độ xuất khẩu đạt cao trên 40%. Kết thúc 2 kế hoạch 5 năm nền
kinh tế Hàn Quốc đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Do biết tận dụng
nguồn lao động dư thừa, có kỹ năng và chi phí rẻ cho quá trình sản xuất các

15
sản phẩm hướng về xuất khẩu, Hàn quốc trong những năm 1960 đã khắc phục
được sự thiếu thốn nghiêm trọng về mặt tài nguyên, vượt qua được những sức
ép về giới hạn thị trường nhỏ bé trong nước để hướng ra xuất khẩu, tạo động
lực cho tăng trưởng kinh tế. Giai đoạn từ 1962 đến 1971 được coi là một giai
đoạn quan trọng nhất trong phát triển kinh tế hiện đại của Hàn Quốc bởi vì nó
đạt được những tiến bộ quan trọng trong xây dựng và phát triển cơ sở công
nghiệp, đạt được những thay đổi cơ bản trong các chiến lược phát triển của
quốc gia thông qua cải cách chính sách và thay đổi thể chế. Tỷ lệ xuất khẩu
trong GNP đã tăng từ 2,4% năm 1961 lên 6,8% vào năm 1966 và 11,2% vào
năm 1971. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu giai đoạn này đạt trên 40%. Sự phát
triển của các nhành công nghiệp phục vụ xuất khẩu kéo theo tỷ lệ việc làm
tăng nhanh. Quá trình đô thị hoá đất nước diễn ra nhanh chóng. GNP đầu
người đã tăng hơn gấp ba trong giai đoạn 1962-1971( từ 87 USD lên 289
USD).
* Công nghiệp hoá trên cơ sở ưu tiên phát triển các ngành
công nghiệp hoá chất và công nghiệp nặng (thời kỳ những năm
70)
Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, khi những hỗ trợ

giữa các nước phát triển cũng trở nên ngày càng gay gắt.
Khi Mỹ rút ra khỏi Đông Nam Á, Hàn Quốc không còn được viện trợ
ưu đãi của Mỹ, công nghiệp Hàn Quốc lệ thuộc nhiều vào Nhật Bản. Hàn
Quốc đang mất dần lợi thế cạnh tranh trong các ngành công nghiệp cần nhiều
lao động không kỹ năng như giầy da, dệt, gỗ dán, do đó, cần phát triển chuyên

17
sâu các ngành công nghiệp cần sự tinh xảo hơn, có giá trị gia tăng và lợi thế
cạnh tranh cao hơn.
Với những điều kiện ngày càng xấu đi của thị trường quốc tế, Hàn
Quốc cần phải giảm bớt sự phụ thuộc của nó vào nguyên liệu và máy móc
nhập khẩu để duy trì được sự ổn định của các lợi thế cạnh tranh. Nếu Hàn
Quốc tiếp tục phải nhập nhiều máy móc thiết bị và nguyên liệu trên thị
trường quốc tế như ở giai đoạn trước thì sản phẩm của Hàn Quốc sẽ khó có
khả năng đạt được lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Mặt khác những thành tích của Nhật Bản trong các ngành như sản xuất
thép, chế tạo ôtô, công nghiệp điện tử đã khuyến khích Hàn Quốc chú ý hơn
đến sự phát triển của các ngành công nghiệp chiến lược.
Thứ hai, sự rút bớt một phần lực lượng quân đội Mỹ đặt ra yêu cầu
là chính phủ cần phải thiết lập một cơ sở công nghiệp cho việc bảo vệ quyền
tự chủ và an ninh quốc gia của mình. Và vì thế, chính phủ xác định rằng cần
sử dụng các công cụ tài chính và thuế để hướng việc sử dụng nguồn lực tập
trung vào các ngành công nghiệp trọng tâm như hoá dầu, sắt, thép, điện tử.
Thứ ba, sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật, sự tăng trưởng mức
tiền lương trong nước, nhu cầu đối với các sản phẩm của HCI cùng với sự
tăng trưởng dần dần mức thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh mãnh
liệt trên thị trường quốc tế đã bắt buộc Hàn Quốc phải sắp xếp lại cơ cấu công
nghiệp của mình để có thể mở rộng phát triển kinh tế.
Đối mặt với những biến đổi kinh tế và chính trị này, chính phủ Hàn
Quốc đã đặt ra mục tiêu mới cho chính sách công nghiệp cho thời kỳ kế

năng cạnh tranh của sản phẩm Hàn Quốc trên thị trường quốc tế.
Do vậy, sau khi kết thúc giai đoạn công nghiệp hoá, từ 1980, chính phủ
đã có những thay đổi cơ bản trong chính sách công nghiệp của mình. Trong

19
phạm vi có giới hạn của luận văn, những thay đổi trong chính sách công
nghiệp của chính phủ từ sau 1980 như chính sách tự do hoá và mở cửa (giai
đoạn 80-89), chính sách toàn cầu hoá ( giai đoạn 90-96) không được đề cập.
1.2.2.3. Các công cụ công nghiệp hoá
* Kiểm soát tín dụng.
Kiểm soát hoạt động của các nhà công nghiệp bằng tín dụng được xem
là công cụ có hiệu lực nhất và là công cụ chủ yếu nhất của các công cụ nhằm
thực hiện chính sách công nghiệp hoá. Sự kiểm soát tín dụng được thực hiện
thông qua kiểm soát lãi xuất vay vốn ưu đãi, thực hiện các khoản cho vay hỗ
trợ theo chỉ định và kiểm soát các khoản vốn vay nước ngoài.
Do tiết kiệm trong nước có giới hạn, sự thiếu vắng thị trường vốn nên
các chủ doanh nghiệp ở Hàn Quốc đã buộc phải dựa vào các khoản vay ngân
hàng để đầu tư mở rộng các công ty của mình. Khi chính phủ nắm quyền sở
hữu hoặc quản lý các ngân hàng thì thực ra đã đặt các chủ doanh nghiệp dưới
sự quản lý chặt chẽ của chính phủ. Và như vậy, việc quản lý tín dụng ngân
hàng trở thành một công cụ chính sách rất quan trọng mà chính phủ có thể sử
dụng . David Cole và Yung Chul Park đã nói rằng: “sự quản lý của Chính phủ
đối với các tổ chức ngân hàng là biện pháp chủ yếu để hướng dẫn và chỉnh
đốn xí nghiệp tư nhân”. Tỷ lệ lãi suất thực quá thấp đối với các khoản vay
ngân hàng do nhà nước quản lý đảm bảo rằng luôn luôn có dư cầu về tín dụng
ngân hàng. Điều này đã tạo ra nhu cầu phân phối tín dụng và tạo điều kiện để
chính phủ thực thi các phương thức chỉ huy thông qua sự kiểm soát của mình
đối với các khoản vay, tỷ lệ lãi suất và thời hạn vay. Một tình trạng tương tự
cũng xuất hiện trong việc phân phối tín dụng nước ngoài, đặt chính phủ vào vị
trí thuận lợi để kiểm soát các công ty theo ý mình.


21
Không giống như việc phá giá đồng tiền, sự tăng giá sẽ dẫn đến tăng
trưỏng nhập khẩu và suy giảm xuất khẩu. Hơn nữa, chính sách này sẽ ảnh
hưởng đến sự ổn định giá cả trên thị trường quốc gia và khó khăn trong việc
tạo nguồn trả các món nợ.
Do chính sách tỷ giá hối đoái có những tác dụng khác nhau đối với các
ngành công nghiệp nên nó được sử dụng như là một công cụ của chính sách
công nghiệp.
1.2.3. Quan điểm của chính phủ về vai trò của nhà nƣớc
đối với quá trình công nghiệp hoá và về việc sử dụng công cụ
tín dụng
1.2.3.1. Quan điểm của chính phủ Hàn Quốc về vai trò của nhà
nƣớc đối với quá trình công nghiệp hoá:
Khi xây dựng kế hoạch 5 năm lần thứ nhất ( năm 1962) chính quyền
Park đã đưa ra một chương trình 5 điểm.
Một là: chính sách kinh tế tập trung hướng vào người sản xuất chứ
không phải hướng vào ngươì tiêu dùng.
Hai là: Chính phủ có quyền lực tuyệt đối trong việc xây dựng các
chính sách kinh tế.
Ba là: Chính sách phát triển kinh tế hướng vào xuất khẩu được xây
dựng trên cơ sở hy sinh nhu cầu và sự tiêu dùng trong nước.
Bốn là: Mọi yếu tố bất ngờ và không chắc chắn được loại bỏ khỏi thị
trường.
Năm là: Để cung cấp nguồn tài chính cho sự phát triển kinh tế và
tránh khỏi sự kiểm soát của nước ngoài đối với những ngành công nghiệp
then chốt của quốc gia, chính phủ chủ trương vay vốn nước ngoài chứ không
cho phép các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện đầu tư trực tiếp.

22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status