ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHUẤT QUANG CẢNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN
HUYỆN PHÚC THỌ THEO HƢỚNG
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 603101
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN HỮU SỞ
15
1.2.2 Phát triển bền vững………………………………………….
18
1.2.3. Nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ………
27
1.2.4. Các chỉ tiêu phản ánh đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn theo hướng phát triển bền vững …………………………….
34
1.2.5. Các yếu tố tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn theo hướng phát triển bền vững…………………………
38
1.4 Kinh nghiệm của một số nước chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn theo hướng phát triển bền vững ở Châu Á……………………
42
1.4.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản…………………………………….
42
1.4.2 Kinh nghiệm của Đài Loan…………………………………….
44
1.4.2 Kinh nghiệm của Thái Lan…………………………………….
46
Chƣơng 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
Phúc Thọ theo hƣớng phát triển bền vững
50
2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng phát triển bền vững ở huyện Phúc Thọ……………
50
2.1.1 Vị trí địa lý……………………………………………………
50
2.1.2 Dân số và nguồn nhân lực……………………………………
51
Phúc Thọ theo hướng phát triển bền vững giai đoạn 2000 – 2010……
73
2.3.1 Những kết quả đạt được………………………………………
73
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân………………………………
75
Chƣơng 3: Quan điểm, mục tiêu và giải pháp cơ bản đảm bảo
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn huyện Phúc Thọ
theo hƣớn phát triển bền vững
82
3.1. Bối cảnh mới chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn huyện Phúc
Thọ theo hướng phát triển bền vững
82
3.1.1. Bối cảnh Trong nước
82
3.1.2 Bối cảnh của địa phương
84
3.2 Quan điểm, mục tiêu và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn huyện Phúc Thọ theo hướng phát triển bền
vững
86
3.2.1 Quan điểm
86
3.2.2 Mục tiêu
86
3.2.2.1 Mục tiêu tổng quát
87
3.2.2.2 Mục tiêu cụ thể
87
3.2.3 Những giải pháp cơ bản thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu
i
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
STT
Từ viết
tắt
Tiếng Anh
Tiếng Việt
1
AFTA
Asean FreeTrade Area
Khu vực mậu dịch tự do Asean
2
APEC
Asia Pacific Economic
Cooperation
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu
Á - Thái Bình Dương
3
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
4
CNTB
Chủ nghĩa tư bản
12
ICOR
Incremental Capital -
Output Rate
Chỉ số đo mức độ đầu tư để có
1% tăng trưởng
13
KH&CN
Khoa học và công nghệ
14
KHHGD
Kế hoạch hóa gia đình
15
KTNT
Kinh tế nông thôn
16
NSNN
Ngân sách nhà nước
17
ODA
Official Development
Assistance
Hỗ trợ phát triển chính thức
ii
18
Tổ chức Thương mại Thế giới iii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
I/ DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1
Một số chỉ tiêu về dân số của huyện giai đoạn 2000 –
2010
47
Bảng 2.2
Tình hình chuyển dịch cơ cấu GDP theo ngành trên
địa bàn huyện Phúc Thọ giai đoạn 2000 – 2010
54
Bảng 2.3
Cơ cấu giá trị ngành sản xuất nông nghiệp của huyện
Phúc Thọ giai đoạn 2000 – 2010
55
Bảng 2.4
Một số chỉ tiêu về diện tích, năng suất, sản lượng một
số loại cây trồng chính thời kỳ 2000 – 2010………
57
Bảng 2.5
Diễn biến ngành chăn nuôi huyện Phúc Thọ
giai đoạn 2000 – 2010
60
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Hà Nội là Thủ đô, trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị và an ninh của cả
nước. Trong những năm gần đây, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói
chung, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở thành phố
diễn ra mạnh mẽ và thu được những thành tựu quan trọng góp phần rất lớn
vào sự phát triển chung của cả nước. Trong quá trình đó, huyện Phúc Thọ
cũng có sự vươn lên nhất định. Là một huyện nghèo của thành phố, có nhiều
tiềm năng để phát triển nông nghiệp, công nghiệp và các ngành dịch vụ, có vị
trí địa lý tương đối thuận lợi… nhưng chưa được khai thác hợp lý, dẫn tới đời
sống của nhân dân còn khó khăn, khoảng cách tụt hậu so với thành phố nói
chung và các quận, huyện ngoại thành nói riêng còn khá lớn. Điều đó đang
đặt ra những thách thức lớn đối với sự phát triển chung của thành phố và
huyện Phúc Thọ.
Để thực hiện chủ trương đi đầu, về sớm trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, thực sự là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của cả nước thì
yêu cầu đối với Thủ đô Hà Nội là phải phát triển nhanh, mạnh và bền vững.
Trong đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đồng thời đảm bảo phát triển bền vững ở các
huyện ngoại thành là nhiệm vụ kinh tế đặc biệt quan trọng và cần được ưu
tiên.
Để rút ngắn chênh lệch về sự phát triển so với thành phố nói chung, các
huyện ngoại thành khác của Hà Nội nói riêng, đòi hỏi Phúc Thọ phải đẩy
nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
áp dụng tiến bộ, khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất và nuôi trồng, tạo ra các
sản phẩm có giá trị kinh tế cao từ đó nâng cao tỷ trọng ngành công nghiệp,
2
dịch vụ. Bên cạnh đó phải làm tốt công tác quản lý xã hội, gìn giữ những giá
trị văn hóa truyền thống và môi trường sinh thái trong lành. Để làm được,
Phúc Thọ cần phải giải phóng được mọi nguồn lực, phát huy các lợi thế để
trên chủ yếu đi sâu vào các khía cạnh nghiên cứu của vấn đề chuyển dịch cơ
cấu kinh tế hoặc phát triển bền vững mà chưa đi sâu phân tích mối quan hệ
giữa chuyện dịch cơ cấu kinh tế và phát triển bển vững ở Việt Nam nói chung
mà cụ thể là huyện Phúc Thọ. Đề tài này sẽ cố gắng làm rõ mối quan hệ của
hai vấn đề trên ở huyện Phúc Thọ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Hệ thống hóa một số vấn đề chung về chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, vấn đề về phát triển bền vững,
mối quan hệ, tác động giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển bền vững,
khái quát một số kinh nghiệm của một số địa phương, một số quốc gia trong
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển bền vững. Từ đó nhằm trả lời các câu
hỏi:
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững là gì? Làm
thế nào để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển bền
vững?
- Những kết quả đạt được trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
nông thôn huyện Phúc Thọ trong những năm qua, nguyên nhân, tồn tại cần
phải giải quyết ?
Nhiệm vụ: Trên cơ sở phân tích đó đề xuất quan điểm, phương hướng,
giải pháp để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Phúc Thọ
theo hướng phát triển bền vững.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp gồm:
- Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử.
4
- Các phương pháp khác như thống kê, phân tích, so sánh và phương
pháp tổng hợp.
Trên cơ sở những dữ liệu, số liệu, thông tin thu thập và tổng hợp được từ
các cơ quan Đảng, Nhà nước, các công trình nghiên cứu, sách báo, tạp chí, bài
viết, vv để làm rõ hơn quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát
6
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN THEO HƢỚNG
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1.1. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế nông thôn
1.1.1 Cơ cấu kinh tế
1.1.1.1 Khái niệm
triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất, đó là tính thống nhất giữa
lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong khái niệm cơ cấu kinh tế, là kết
quả của sự phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất, quan hệ
sản xuất và kiến trúc thượng tầng.
Cơ cấu kinh tế còn thể hiện trên cả hai mặt: chất lượng và số lượng, cơ
cấu là một sự phân chia về chất lượng và một tỷ lệ về số lượng của những quá
trình sản xuất xã hội.
Tựu trung, có thể hiểu, cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế, là tổng
thể các mối quan hệ lao động và phát triển kỹ thuật một cách mạnh mẽ làm
thay đổi toàn bộ hay phần lớn về chất lượng cũng như số lượng tương đối ổn
định của các yếu tố kinh tế hoặc các bộ phận của lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất trong một hệ thống tái sản xuất xã hội, với những điều kiện kinh
tế, xã hội nhất định vào một khoảng thời gian nhất định.
1.1.1.2 Phân loại cơ cấu kinh tế.
Để quan sát sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế, nhất thiết phải nghiên
cứu làm rõ các loại hình cơ cấu kinh tế. Từ góc độ nhìn nhận của quá trình
phân công lao động xã hội và tái sản xuất xã hội, có thể phân chia cơ cấu kinh
tế theo các loại cơ cấu khác nhau. Các cơ cấu đều biểu hiện tính chất, đặc
8
trưng chủ yếu của chúng, cụ thể gồm: cơ cấu ngành kinh tế, xét theo góc độ
phân công lao động xã hội theo ngành; cơ cấu kinh tế lãnh thổ, xét theo góc
độ phân công lao động theo vùng lãnh thổ; cơ cấu thành phần kinh tế, xét theo
góc độ quan hệ sở hữu; cơ cấu kinh tế kỹ thuật, xét theo góc độ trình độ khoa
học công nghệ
Cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế là tổ hợp ngành kinh tế được hình thành trên các
tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối quan hệ tổng hợp giữa các ngành với nhau và
phản ánh trình độ phân công lao động xã hội của nền kinh tế và trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất. Cơ cấu ngành kinh tế quyết định cơ cấu lãnh thổ
trọng công nghiệp chiếm trong GDP lớn và tỷ trọng nông, lâm, thủy sản qua
chế biên cao nhưng năng suất lao động thấp, ngân sách thu được ít, để tạo ra
một đơn vị GDP cần mức tiêu hao năng lượng lớn… thì cơ cấu kinh tế đó
không hiệu quả.
Cơ cấu theo hai nhóm ngành dựa trên phương thức, công nghệ sản xuất:
Nông nghiệp và phi nông nghiệp. Việc phân chia cơ cấu kinh tế thành hai
nhóm ngành này để quan sát trình độ của cơ cấu, yếu tố quan trọng để thúc
đẩy sự tăng trưởng kinh tế. Khi phân tích theo hai nhóm ngành này, chúng ta
cần quan sát phương thức, công nghệ tạo ra sản phẩm. Khi nhóm ngành phi
nông nghiệp càng phát triển và chiếm tỷ trọng càng lớn thì nền kinh tế càng
phát triển ở trình độ cao. Nhóm ngành nông nghiệp gồm các ngành nông
nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp; nhóm ngành phi nông nghiệp gồm các ngành
công nghiệp, xây dựng, dịch vụ. Đối với các nước đang phát triển thì việc
xem xét cơ cấu kinh tế theo kiên này có ý nghĩa to lớn. Việc chuyên dân cư
nông thôn sang sống tại các đô thị và chuyển lao động nông nghiệp sang làm
10
việc trong các khu vực phi nông nghiệp gồm các ngành công nghiệp, xây
dựng và dịch vụ. Đối với các nước đang phát triển thì việc xem xét cơ cấu
kinh tế theo kiểu này có ý nghĩa to lớn. Việc chuyển dân cư nông thôn sang
sống tại các đô thị và chuyển lao động nông nghiệp sang làm việc trong các
khu vực phi nông nghiệp là vấn đề có tính quy luật tiến tới sự hiện đại; sự
chuyển động này đến một mức độ nào đó thì nền kinh tế được coi là đã phát
triển. Ở các nước đang phát triển, các ngành nông nghiệp thường chiếm tỷ
trọng lớn trong nền kinh tế, khi đó công nghệ của nền kinh tế không cao.
Để xác định một quốc gia đã thuộc vào nhóm các nước phát triển hay
chưa, chúng ta cần dựa trên kết quả phân tích cơ cấu giữa các nhóm ngành
nông nghiệp và phi nông nghiệp. Theo nhiều nhà kinh tế, một nước khi các
ngành phi nông nghiệp chiếm trên 85% lao động xã hội và tạo ra khoảng trên
80% GDP thì nước đó được coi là quốc gia phát triển.
thì ở nơi đó hay lãnh thổ đó có vai trò động lực.
Cơ cấu kinh tế lãnh thổ là kết quả của phân công lao động xã hội theo
lãnh thổ. Nếu cơ cấu ngành kinh tế được hình thành từ quá trình thực hiện
chuyên môn hóa sản xuất thì cơ cấu lãnh thổ hình thành từ việc phân bố sản
xuất theo không gian địa lý. Cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu ngành kinh tế là hai
mặt của cơ cấu kinh tế. Bản chất của chúng đều là kết quả của sự phân công
lao động xã hội. Cơ cấu lãnh thổ hình thành đồng thời với cơ cấu ngành và
thống nhất trong vùng kinh tế. Trong một vùng cụ thể, cơ cấu lãnh thổ phản
ánh sự biểu hiện của cơ cấu ngành trong điều kiện lãnh thổ đó.
Chúng ta phải chia lãnh thổ thành những vùng có quy mô lớn để hoạch
định chiến lược, chính sách phát triển. Các vùng lớn đó có ý nghĩa như những
khung sườn để các địa phương nằm trong đó làm căn cứ hoạch định chính
sách phát triển cho địa phương mình.
12
Như vậy, chúng ta cần phải xem xét cơ cấu lãnh thổ dưới các góc độ:
(1) cơ cấu giữa lãnh thổ phát triển và lãnh thổ chậm phát triển; (2) cơ cấu giữa
các lãnh thổ động lực và các lãnh thổ còn lại. Đây là các dạng cơ cấu lãnh thổ
động lực và các lãnh thổ còn lại. Đây là các dạng cơ cấu lãnh thổ cần được
phân tích để có được chính sách phát triển hài hòa giữa các vùng lãnh thổ. Do
nhiều nguyên nhân khác nhau đã dẫn đến sự chênh lệch về trình độ phát triển
kinh tế - xã hội giữa các vùng. Trình độ phát triển của các vùng được thể hiện
bằng một trong những chỉ tiêu tổng hợp là GDP bình quân đầu người.
Một cơ cấu lãnh thổ được coi là hợp lý phải đạt được ba nhóm mục tiêu:
(1) đạt được những mục tiêu toàn vùng: phải hoàn thành những nhiệm vụ kinh
tế quốc dân, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các nguồn
lực khác có trong vùng, hoàn thiện cơ cấu kinh tế của vùng để phát triển tối
ưu kinh tế vùng trước mắt cũng như trong lâu dài, tạo cơ sở vật chất kỹ thuật,
những điều kiện kinh tế - xã hội khác cho việc phát triển nhanh chóng kinh tế,
nâng cao đời sống của nhân dân trong vùng, bảo vệ môi trường; (2) đạt được
phù hợp với hoàn cảnh của nhiều nước đang phát triển.
Cơ cấu thành phần kinh tế
Việc phân loại cơ cấu của nền kinh tế theo thành phần kinh tế là để xem
có bao nhiêu loại hình kinh tế tồn tại, phát triển trong hệ thống kinh tế dưới
góc độ sở hữu; trong đó loại hình kinh tế nào có ý nghĩa quyết định đối với
nền kinh tế. Các thành phần kinh tế nước ta gồm: kinh tế nhà nước; kinh tế
tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài.
Khi coi phân công lao động xã hội là cơ sở hình thành cơ cấu ngành, cơ
cấu lãnh thổ, thì chế độ sở hữu lại là cơ sở hình thành cơ cấu thành phần kinh
tế. Một cơ cấu thành phần kinh tế hợp lý phải dựa trên cơ sở hệ thống tổ chức
14
kinh tế với chế độ sở hữu có khả năng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng
sản xuất, sự phân công lao động xã hội và quan hệ sản xuất làm biến đổi các
hiện tượng và quá trình kinh tế của từng vùng cũng như trên phạm vi cả nước.
Cơ cấu thành phần kinh tế cũng là nhân tố tác động đến cơ cấu ngành
kinh tế và cơ cấu lãnh thổ. Sự tác động đó là một biểu hiện sinh động của mối
quan hệ hữu cơ giữa các loại cơ cấu trong nền kinh tế. Trong đó, cơ cấu
ngành kinh tế có vai trò quan trọng hơn cả. Cơ cấu ngành và thành phần kinh
tế chỉ có thể được chuyển dịch đúng đắn trên phạm vi không gian lãnh thổ
một cách hợp lý và có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy phát triển các ngành và
thành phần kinh tế trên từng lãnh thổ nói riêng và cả nước nói chung.
Trong quá trình phát triển kinh tế chắc chắn sẽ tồn tại và phát triển các
hình thức sở hữu đối với của cải và tài sản xã hội. Mọi hoạt động kinh tế và
kết quả của nó đều có chủ. Sự phân định cơ cấu loại hình kinh tế có sự khác
biệt theo ngành. Các loại hình kinh tế liên kết chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau
cùng phát triển, tạo ra những điều kiện tốt nhất để giải phóng triệt để sức sản
xuất của đất nước.
1.1.2 Cơ cấu kinh tế nông thôn
Mục tiêu của quá trình này gồm các vấn đề: từ chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, cơ cấu cây trồng vật nuôi, cơ cấu mùa vụ ngoài đồng, nhằm xóa đói giảm
nghèo, công bằng xã hội, đô thị hóa nông thôn. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với
việc hợp tác hóa và phát triển nông nghiệp chế biến nông sản trên cơ sở thực
hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ
thuật và công nghệ sinh học vào trong sản xuất, nâng cao năng suất, chất
lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp phù hợp với đặc điểm của
từng vùng, từng địa phương. Cùng với sự phát triển công nghiệp và tiểu thủ
16
công nghiệp, các hình thức dịch vụ như thương mại, tín dụng, kỹ thuật nông
nghiệp, vận tải, thông tin, văn hóa, giải trí được phát triển rộng rãi ở nhiều
vùng nông thôn.
Trong những năm gần đây, cơ cấu kinh tế nông thôn nước ta đang
chuyển dịch theo hướng tích cực: giảm tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp,
tăng giá trị sản xuất công nghiệp và dịch vụ. Trong khi sản xuất nông nghiệp,
lâm ngư nghiệp vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và khá ổn định trong
nhiều năm, việc phục hồi làng nghề thủ công truyền thống, phát triển làng
nghề mới, phát triển công nghiệp nông thôn, đặc biệt là công nghiệp chế biến
cùng với vùng nguyên liệu được chú trọng đầu tư phát triển. Trong quá trình
này đã xuất hiện những mô hình tổ chức là mầm mống của xu hướng phát
triển trong tương lại của nông thôn, đó là việc hình thành và phát triển các
cụm công nghiệp nhỏ ở các làng nghề truyền thống ở ngoại thành Hà Nội,
Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng Yên Sự phát triển này được coi là phù hợp với
xu thế khách quan của phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ở nông
thôn, không những giải quyết khó khăn về mặt bằng sản xuất, khắc phục tình
trạng ô nhiễm môi trường mà còn phù hợp với yêu cầu đô thị hóa nông thôn
một cách khoa học, tạo thuận lợi cho việc mở rộng giao lưu hàng hóa Trong
những năm gần đây, ngày càng có nhiều doanh nghiệp công nghiệp với trình
được mùa thì nông dân lại lo mất giá, nguyên nhân là do khâu tiêu thụ, và chế
biến rất hạn chế.
1.2.2 Phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một khái niệm mới, khái niệm này hiện đang là
mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới. Mỗi quốc gia sẽ dựa theo
đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để hoạch định chiến