MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ
CHẤT LƢỢNG TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ
1.1
Khái niệm chung về chất lƣợng tăng trƣởng kinh tế
7
1.2
Những tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lƣợng tăng trƣởng
kinh tế
1.2.1
Tiêu chuẩn về năng suất
10
1.2.2
Tiêu chuẩn về phúc lợi xã hội
13
1.2.3
Tiêu chuẩn về ổn định kinh tế và phát triển bền vững
18
1.2.4
Tiêu chuẩn về thể chế chính phủ
26
1.3
Vai trò của việc đảm bảo chất lƣợng tăng trƣởng kinh tế
1.3.1
Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng
thiện phúc lợi xã hội
2.2.3
Thành công và hạn chế trong vấn đề ổn định kinh tế vĩ mô và
phát triển bền vững
49
2.2.4
Thành công và hạn chế trong vấn đề đổi mới thể chế chính phủ,
ổn định chính trị - xã hội
58
2.3
Những nguyên nhân dẫn đến thành công và hạn chế về chất
lƣợng tăng trƣởng kinh tế ở các nƣớc ASEAN-5
2.3.1
Nguyên nhân dẫn đến thành công
62
2.3.2
Nguyên nhân dẫn đến hạn chế
70
CHƢƠNG 3: VẬN DỤNG KINH NGHIỆM ASEAN-5
TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ CHO VIỆT NAM
3.1
Mục tiêu tăng trƣởng và phát triển ở Việt Nam
3.1.1
Quan điểm của Đảng và chính phủ về tăng trưởng và phát triển
kinh tế
78
112 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AFTA
Khu vực thương mại tự do ASEAN
ASEAN
Hiệp hội các nước Đông Nam á
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GATT
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
GINI
Hệ số đo bất bình đẳng về thu nhập
GNP
Tổng sản phẩm quốc dân
HDI
Chỉ số phát triển con người
NIEs
Các nền kinh tế công nghiệp mới
PPP
Phương pháp đồng giá sức mua
R&D
Nghiên cứu và triển khai
TFP
Năng suất lao động tổng nhân tố
WB
kinh tế của nước đó cũng nhanh hơn, ổn định hơn và chất lượng tăng trưởng
kinh tế cũng tốt hơn. Trái lại, ở những nước không có chiến lược phát triển
kinh tế hợp lí, chỉ dựa vào xuất khẩu nguyên liệu thô (như dầu khí ) và tận
dụng lao động ít được đào tạo, thể chế chính trị mang tính bè phái như
Inđônêxia và Philippin, tăng trưởng kinh tế của các nước đó thường không
cao và bất ổn định, chất lượng tăng trưởng thấp. Tựu chung lại, tốc độ tăng
trưởng kinh tế có liên quan mật thiết đến chất lượng tăng trưởng kinh tế và
ngược lại. 2
Sự khác biệt trong sử dụng chính sách thúc đẩy tăng trưởng và phát
triển kinh tế ở các nước ASEAN sẽ quyết định thành công của mỗi nước trong
chất lượng tăng trưởng. Đó là bài học kinh nghiệm quý giá cho các nước công
nghiệp hóa đi sau, trong đó có Việt Nam. Chiến lược "Đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn
minh và vững bước đi lên" (Trích báo cáo chính trị tại Đại hội đảng lần thứ
VIII) của chính phủ Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu nhưng cũng tồn
tại rất nhiều khó khăn cần giải quyết. Do vậy, việc học hỏi kinh nghiệm của
các nước ASEAN là rất cần thiết để Việt Nam tránh được những bước phát
triển sai lầm hoặc không cần thiết. Xuất phát từ những thực tế trên và với
kiến thức đã được học, đề tài "Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế
của một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam" sẽ mang
tính thiết thực và bổ ích giúp Việt Nam thực hiện thành công chiến lược
công nghiệp hóa đất nước trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, nhiều học giả trong và ngoài nước có các công trình
nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn dưới nhiều góc độ khác nhau. Ở
trong nước, trước hết phải kể đến các tác phẩm "Chất lượng tăng trưởng kinh
Asian Countries led Economic Development” của Helen Hughes ( Economic
Record, 1995) nói lên những thành tựu về tăng trưởng và chất lượng tăng
trưởng kinh tế của một số nước Châu á; “Indonesia: The Strange and Sudden
Death of a Tiger Economy” của Hal Hill (2000) phản ảnh về những yếu kém
trong chất lượng tăng trưởng kinh tế của Inđônêxia sau khủng hoảng 1997 do
sai lầm chính sách từ phía chính phủ; “Anatomy of Poverty during
Adjustment: The Case of the Philippines” của Arsenio M. Balisacan (1995),
phản ánh sự kém hiệu quả của chính sách xóa đói giảm nghèo của chính phủ
Philippin; “The Dimensions of Environmental Change and Management in
the South East Asian Region” của Harold Brookfield (1993) phản ánh những
vấn đề về bảo vệ môi trường trong phát triển kinh tế của các nước Châu á
trong đó có các nước ASEAN-5. Ngoài ra, những ấn phẩm của Ngân hàng
thế giới và UNDP hàng năm cũng cung cấp những số liệu cập nhật về các chỉ
số kinh tế - xã hội thay đổi theo từng năm của từng nước ASEAN.
Tình hình nghiên cứu từ trước đến nay cho thấy chủ yếu các tác phẩm
đều đi vào phân tích các vấn đề chung cũng tăng trưởng kinh tế, mối quan hệ 4
giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội, tác động của công
nghiệp hóa đến phân hóa giàu nghèo, phát triển nguồn nhân lực, dịch vụ y tế
xã hội, những thách thức đối với sự phát triển kinh tế bền vững. Chưa có một
công trình nghiên cứu nào đi sâu vào phân tích đầy đủ các khía cạnh của chất
lượng tăng trưởng kinh tế, so sánh mức độ thành công và thất bại của các
nước ASEAN-5 trong việc thực hiện tăng trưởng và phát triển kinh tế, đặc
biệt là chưa đưa ra những bài học kinh nghiệm cụ thể và đầy đủ cho Việt
Nam. Do vậy, với việc nghiên cứu về chất lượng tăng trưởng kinh tế ở các
nước ASEAN-5, luận văn sẽ góp phần đánh giá một cách đây đủ và hệ
thống chất lượng tăng trưởng kinh tế của các nước ASEAN-5 và rút ra các
bài học kinh nghiệm quý báu và thiết thực nhất cho Việt Nam.
quả của đồng vốn đầu tư, các chính sách phân phối thu nhập và cải thiện mức
sống của dân cư, cơ sở hạ tầng, tình trạng tham nhũng
Về thời gian, luận văn tập trung chủ yếu vào giai đoạn từ 1970 cho đến
nay, nghĩa là khi các nước ASEAN-5 bắt đầu tiến hành công nghiệp hóa
hướng về xuất khẩu. Đặc biệt luận văn sẽ chú trọng phân tích hai giai đoạn
nhỏ: trước khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997 và từ sau khủng
hoảng đến nay.
Đối với Việt Nam, thời gian nghiên cứu để áp dụng kinh nghiệm của
các nước ASEAN-5 sẽ được tính từ năm 1986, sau khi thực hiện chính sách
"Đổi mới" kinh tế.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp sử dụng trong khoa học xã hội và trong kinh tế
học như quy nạp, duy vật biện chứng , luận văn sẽ sử dụng các phương pháp
thống kê, tổng hợp, phân tích kinh tế để tìm ra những căn cứ, số liệu minh
họa. Bên cạnh đó, trong luận văn sẽ sử dụng các phương pháp phân kỳ,
nghiên cứu so sánh nhằm tìm ra những nét đặc thù giữa các nước, giữa các
giai đoạn.
6. Những đóng góp mới của luận văn 6
Tác giả hy vọng luận văn sẽ có những đóng góp cơ bản sau:
Thứ nhất, tóm tắt, đánh giá các lý thuyết chủ yếu về tăng trưởng kinh
tế, những tiêu chuẩn đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế, mối quan hệ
qua lại giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế.
Thứ hai, hệ thống hóa một cách có chọn lọc những công trình của các
nhà nghiên cứu Việt Nam và học giả nước ngoài về tăng trưởng kinh tế, chất
lượng tăng trưởng kinh tế, những vấn đề liên quan đến việc nâng cao chất
1.1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CHẤT LƢỢNG TĂNG TRƢỞNG
KINH TẾ
Chất lượng tăng trưởng kinh tế là một nội dung trong kinh tế học phát
triển. Để hiểu rõ khái niệm này, trước hết phải bắt đầu từ việc nghiên cứu
khái niệm “tăng trưởng kinh tế”.
Theo kinh tế học phát triển [8], tăng trưởng kinh tế thường được quan
niệm theo hai nghĩa. Theo nghĩa thứ nhất, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng
về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Đó là kết
quả của tất cả các hoạt động sản xuất và dịch vụ của nền kinh tế tạo ra. Nó
được tính bằng mức tăng bình quân tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một
thời kỳ nhất định (thường là một năm). Tốc độ tăng trưởng kinh tế thể hiện
trực tiếp trình độ mở rộng quy mô sản lượng đầu ra và có quan hệ phụ thuộc
vào sự tăng lên của quy mô sử dụng các nguồn đầu vào. Theo nghĩa này, tăng
trưởng kinh tế biểu hiện về mặt số lượng của quá trình phát triển kinh tế. Theo
nghĩa thứ hai, tăng trưởng kinh tế được hiểu theo nghĩa rộng hơn cả về mặt
lượng và mặt chất. Về mặt lượng, tăng trưởng kinh tế được biểu hiện ra ở quy
mô, trình độ, tốc độ, nhịp điệu của sự gia tăng sản lượng và quy mô kinh tế.
Về mặt chất lượng, tăng trưởng kinh tế chính là sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế
xã hội. Tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội thường được đo bằng các tiêu chí như
năng suất lao động; hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào của tăng trưởng là
vốn, lao động, tài nguyên, đất đai; đổi mới khoa học công nghệ, phát triển
nguồn lực con người; giải quyết bất bình đẳng xã hội; phát triển cân đối
ngành, vùng… Nói cách khác, chất lượng tăng trưởng kinh tế chính là tính
quy định vốn có của nó, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho hiện 8
tượng tăng trưởng kinh tế khác với các hiện tượng khác. Chất lượng tăng
trưởng kinh tế được quy định bởi chất của các yếu tố cấu thành và phương
thức liên kết giữa các yếu tố cấu thành tạo nên tăng trưởng kinh tế.
9
Tuy nhiên, trên thực tế, tiến bộ công nghệ không thể tự nhiên có mà do
con người tạo ra thông qua một quá trình nghiên cứu và đổi mới liên tục.
Giữa những năm 1980, các nhà kinh tế học đã nỗ lực xây dựng các mô hình
tăng trưởng nhấn mạnh rằng tăng trưởng kinh tế là hệ quả nội sinh của một
hệ thống kinh tế. Những mô hình này được gọi là tăng trưởng nội sinh
(endogenous growth). Trọng tâm của các mô hình này là nhằm nội tại hóa các
biến “ngoại sinh” của mô hình Solow - đó chính là tiến bộ khoa học công
nghệ.
Các mô hình này tập trung vào hai nguyên nhân đưa tới sự tiến bộ công
nghệ: tích lũy vốn nhân lực và hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D).
Một mặt, họ coi R&D đóng vai trò tiên quyết trong quá trình sáng chế và đổi
mới mà nhờ đó nền kinh tế thu được những sản phẩm và công nghệ mới có
chất lượng cao hơn. Mặt khác, sự tích lũy vốn nhân lực chính là quá trình qua
đó nâng cao kỹ năng đem lại lợi ích cho bất kỳ một hoạt động sản xuất hay
sáng tạo nào, trong đó có R & D.
Romer (1986), dựa trên ý tưởng của Arrow (1962) về quá trình học hỏi
qua thực tế triển khai (learning by doing) và các hiệu ứng phụ (spillover
effects), đã chỉ ra rằng các hoạt động đổi mới (cụ thể là kỹ năng làm việc của
công nhân) sẽ diễn ra trong quá trình sản xuất và sau đó là thông qua đầu tư.
Mặt khác, Lucas (1988) nhấn mạnh rằng tích lũy vốn nhân lực không chỉ diễn
ra trong quá trình sản xuất, mà chủ yếu thông qua giáo dục và đào tạo. Do đó,
sự tăng trưởng của một nền kinh tế cũng phụ thuộc vào việc từng cá nhân
phân bổ thời gian vào làm việc và tăng cường tích lũy vốn nhân lực của mình
như thế nào.
Vào những năm 1990, xuất phát từ quan điểm cho rằng học hỏi kiến thức
chỉ có thể xảy ra khi những kiến thức cơ bản chủ đạo đã được đào tạo ở đâu
đó, các mô hình về tăng trưởng nội sinh trên cơ sở R&D (R & D – based
endogenous growth) đã ra đời. Các mô hình này đều dựa trên động cơ cá nhân
tốc độ tăng trưởng dài hạn và tránh được những biến động kinh tế từ bên
ngoài.
2) Tăng trưởng kinh tế phải đi kèm với phát triển môi trường bền vững.
3) Tăng trưởng kinh tế phải đạt được mục tiêu cải thiện phúc lợi xã hội
và xóa đói giảm nghèo.
4) Tăng trưởng kinh tế cần phải kết hợp với việc đổi mới thể chế chính
phủ để có thể thúc đẩy tăng trưởng ở tỷ lệ cao hơn.
1.2. NHỮNG TIÊU CHUẨN CƠ BẢN ĐỂ ĐÁNH GIÁ CHẤT 11
LƢỢNG TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ
1.2.1. Tiêu chuẩn về năng suất
Những lý luận trên đây về tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế
cho thấy nguồn gốc của tăng trưởng do nhiều yếu tố tạo thành và vai trò của
mỗi yếu tố phụ thuộc vào từng hoàn cảnh và thời kỳ phát triển của mỗi nước.
Đối với các nước nghèo, vốn vật chất có vai trò quan trọng. Đối với các nước
công nghiệp thì vai trò của TFP lại quan trọng hơn. Theo Robert Solow, hệ số
năng suất lao động tổng nhân tố (TFP) là tổng hợp của các yếu tố như sự thay
đổi công nghệ, tăng trưởng kỹ năng sản xuất, vốn nhân lực và các yếu tố khác
liên quan tới tăng trưởng kinh tế. Hệ số TFP càng lớn thì hiệu quả kinh tế
càng tốt và năng suất lao động càng cao.
Nhiều nghiên cứu cho rằng, các nước đang phát triển cần không ngừng
tăng cường hiệu quả sử dụng vốn về kích thích động cơ tăng trưởng GDP nói
riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung. Tích lũy tư bản truyền thống là
nhân tố nội tại quan trọng nhất cho tăng trưởng kinh tế và điều này đã được
hầu hết các lý thuyết kinh tế đề cập đến. Đầu tư có thể đưa đến những thay
đổi to lớn trong sản xuất, làm tăng năng suất và sản lượng, cải tiến cơ sở hạ
tầng và phục vụ tốt hơn cho công tác nghiên cứu và triển khai. Tuy nhiên
tập trung cho đào tạo nguồn nhân lực trong các ngành khoa học kỹ thuật sẽ
giúp các nước đẩy nhanh quá trình tăng năng suất lao động và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng.
- Đầu tư nhằm nâng cao chất lượng giáo dục sẽ có vai trò quan trọng hơn
trong phát triển công nghệ bởi nó tạo ra lực lượng lao động có kỹ năng cao,
tạo nên năng lực đổi mới, vận dụng công nghệ phù hợp với điều kiện trong
nước, tránh được những rủi ro trong quá trình đổi mới công nghệ.
- Đầu tư nguồn nhân lực chất lượng cao phải bắt nguồn từ việc ưu tiên
cho việc phổ cập giáo dục cơ sở, để từ đó tạo nên một lực lượng lao động có
giáo dục và có kỹ năng cao hơn, tạo điều kiện cho việc mở rộng giáo dục bậc
cao.
Lợi ích của việc phát triển khoa học công nghệ trong việc gia tăng TFP
cũng là rất rõ ràng. Mô hình Solow đã chứng minh sự thay đổi công nghệ đã
làm mở rộng sản xuất ở nước Mỹ ở mức độ rất lớn nhờ tăng nhanh năng suất
lao động. Mô hình này được nhiều nước châu Á ủng hộ trong việc nhập khẩu
công nghệ từ nước ngoài để bù đắp những thiếu hụt và lạc hậu công nghệ
trong nước. Nhờ tập trung tiếp thu và phát triển công nghệ, nhiều nước mới
công nghiệp hóa đã có sự chuyển biến mạnh mẽ trong các lĩnh vực: +) tạo nên
sự tăng trưởng nhanh về vị trí quan trọng tương đối của các doanh nghiệp lớn 13
đang sử dụng công nghệ hiện đại và sự giảm sút tương ứng của các doanh
nghiệp thủ công nhỏ (cũng như trong nông nghiệp và khu vực phi chính
thức); và +) tạo nên sự chuyển hướng mạnh mẽ trong cơ cấu sản xuất theo
ngành, từ nông sản và các sản phẩm công nghiệp sử dụng nhiều lao động sang
các hàng hóa ngày càng phức tạp và công nghệ cao hơn. Tuy nhiên, để có sự
dịch chuyển nhanh chóng trong cả hai lĩnh vực như trên, cần phải có một mối
quan hệ khăng khít giữa đầu tư và đổi mới công nghệ. Ở các nước đang phát
triển, việc tiếp nhận sự chuyển giao công nghệ thường thông qua hình thức
nhận chuyển giao công nghệ, không nâng cao được năng suất lao động, không
tạo ra được sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế nhanh chóng, tạo ra tác động nhỏ
hơn đến tăng trưởng kinh tế.
1.2.2. Tiêu chuẩn về phúc lợi xã hội
Khía cạnh tiếp theo phản ánh chất lượng tăng trưởng kinh tế của một
quốc gia là việc xem xét vấn đề ai có lợi từ tăng trưởng kinh tế. Có thể nói
tăng trưởng kinh tế là điều kiện thiết yếu cho sự phát triển kinh tế, nâng cao
phúc lợi con người. Các chỉ tiêu phản ánh việc nâng cao phúc lợi của người
dân trong quá trình tăng trưởng kinh tế bao gồm:
1.2.2.1. Các chỉ tiêu phản ánh việc cải thiện và nâng cao các nhu cầu
cơ bản của con người.
Để xác định tăng trưởng kinh tế có nhằm mục đích nâng cao chất lượng
cuộc sống hay không, kinh tế học phát triển đã đưa ra một số chỉ tiêu cơ bản
nhất phản ánh các nhu cầu cơ bản của con người, bao gồm:
- Các chỉ tiêu phản ánh mức sống như thu nhập bình quân đầu người
trong một năm, tỷ lệ cung cấp calo bình quân đầu người/ngày, lượng lương
thực bình quân đầu người
- Các chỉ tiêu phản ánh tuổi thọ bình quân và chăm sóc sức khỏe, cụ thể
là: tuổi thọ bình quân, tỷ lệ sinh, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, tỷ lệ y bác sĩ bình
quân đầu người, tỷ lệ chi tiêu công cộng về sức khỏe
- Các chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển nguồn nhân lực: bao gồm tỷ lệ
biết chữ của lực lượng lao động, tỷ lệ mù chữ, số năm đi học bình quân, chi
tiêu ngân sách giành cho giáo dục, tốc độ tăng dân số bình quân, tỷ lệ thất
nghiệp Đặc biệt, để đánh giá các chỉ tiêu phát triển liên quan đến con người,
Liên hợp quốc đã đưa ra chỉ số phát triển con người nhằm kết hợp và lượng
hóa ba thành phần cơ bản có liên quan đến sự phát triển con người, đó là tuổi
thọ bình quân, trình độ văn hóa (gồm tỷ lệ biết đọc biết viết và số năm đi học
bình quân) và thu nhập bình quân đầu người (tính theo phương pháp đồng giá
sức mua – PPP). HDI được tính toán bằng công thức sau:
trường sống, ví dụ như những bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội, môi
trường
Thứ hai, đầu tư nguồn nhân lực sẽ giúp người dân nhận thức tốt hơn các
hành vi sinh đẻ, nuôi dạy con cái, giảm tỷ lệ sinh, nâng cao thu nhập bình 16
quân đầu người, hạn chế sự tàn phá môi trường, tăng tuổi thọ bình quân và
mức sống nói chung.
Thứ ba, đầu tư nguồn nhân lực, thông qua giáo dục, sẽ giúp người dân
hiểu rõ hơn về quyền con người của họ, từ đó mở rộng cơ chế dân chủ và
nâng cao những quyền lợi cá nhân từ tăng trưởng kinh tế.
Các nghiên cứu của World Bank đều cho rằng ở những nước có số năm
đi học bình quân đầu người càng cao thì tỷ lệ tăng trưởng càng nhanh. Tuy
nhiên, ở mỗi quốc gia, cơ hội tiếp cận chi phí đầu tư giáo dục của các tầng lớp
dân cư là rất khác nhau, do đó những tác động của nó đối với nền kinh tế cũng
khác nhau. Ở các nước phát triển, do nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực có trình
độ tăng cao, nên đầu tư của nhà nước và của tư nhân cho giáo dục cũng tăng
nhanh. Ở những nước đang phát triển, chất lượng giáo dục thấp nên người
nghèo phải chịu những thiệt thòi trong việc tiếp cận các cơ hội giáo dục tốt
hơn để có thể tìm kiếm được việc làm, nâng cao thu nhập và các phúc lợi xã
hội khác. Bất bình đẳng trong việc tiếp cận các cơ hội giáo dục và các dịch vụ
y tế thường là rất lớn ở các nước đang phát triển. Vì vậy, việc phân phối cơ
hội công bằng trong giáo dục và y tế là một trong những mục tiêu mà chính
phủ các nước thường theo đuổi nhằm tạo ra sự phát triển cân đối nguồn vốn
nhân lực, mở rộng quy mô sản xuất và cải thiện phúc lợi xã hội.
1.2.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh công bằng xã hội và giảm tỷ lệ nghèo đói
Thực tế cho thấy không phải ở tất cả các nước nghèo mọi người đều có
thu nhập thấp và ngược lại, ở các nước giàu mọi người đều có thu nhập cao.
Trong quá trình tăng trưởng kinh tế, tất nhiên sẽ dẫn đến sự chênh lệch trong
trong xã hội, tạo điều kiện phân phối công bằng phúc lợi xã hội. Tuy nhiên,
nó dẫn đến hạn chế các nguồn lực phát triển, khó tạo nên tăng trưởng kinh tế
cao và không có tác dụng khuyến khích người lao động.
Quan điểm thứ ba nhấn mạnh đến phát triển toàn diện. Đây là sự lựa
chọn trung gian giữa hai quan điểm trên. Quan điểm này cho rằng tăng trưởng
kinh tế cần phải kết hợp giải quyết tốt công bằng xã hội và bảo vệ tài nguyên
môi trường. Theo quan điểm này, tuy tốc độ tăng trưởng có hạn chế nhưng
các vấn đề xã hội được quan tâm giải quyết.
Để đánh giá mức độ công bằng và bình đẳng trong xã hội, các nhà kinh
tế học và xã hội học đã đưa ra nhiều phương pháp khác nhau. Tuy nhiên, cách
sử dụng phổ biến nhất vẫn là Hệ số Gini và đường cong Lorenz. Đường cong
Lorenz nghiên cứu tình trạng bất bình đẳng giữa 5 nhóm người khác nhau
trong xã hội, mỗi nhóm có 20% dân số từ thu nhập thấp nhất đến thu nhập cao 18
nhất. Trong biểu đồ đường cong Lorenz, khi đường cong càng cách xa đường
45
0
thì bất bình đẳng trong xã hội càng gia tăng. Ngược lại, khi thu nhập của
nhóm người nghèo tăng lên và nhóm người giàu giảm đi, đường cong Lorenz
sẽ gần với đường 45
0
hơn và như vậy bất bình đẳng sẽ được giảm bớt.
Trên cơ sở tính toán từ đường cong Lorenz, hệ số Gini là thước đo
thường được sử dụng phổ biến nhất để đo sự bất bình đẳng xã hội. Về mặt lý
thuyết, giá trị của hệ số Gini là từ 0 (hoàn toàn bình đẳng) đến 1 (hoàn toàn
bất bình đẳng). Về mặt thực tế, giá trị của hệ số Gini là trong khoảng từ 0 đến
1 (0< hệ số Gini<1). WB cho rằng ở những nước có thu nhập thấp, hệ số Gini
thường dao động từ 0,3 đến 0,5, đối với những nước có thu nhập trung bình
Tiêu chuẩn này liên quan đến 5 yếu tố chủ yếu: thất nghiệp, lạm phát,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tiêu chuẩn về chi tiêu chính phủ và bảo vệ tài
nguyên môi trường.
1.2.3.1. Thất nghiệp
Thất nghiệp thường đem lại những tác động tiêu cực đối với cả lĩnh vực
kinh tế và xã hội. Về mặt kinh tế, thất nghiệp làm mất đi những giá trị kinh tế
trong sản xuất hàng hóa và dịch vụ, đồng thời tạo ra những chi phí trợ cấp
thất nghiệp không nhỏ. Do thất nghiệp tăng nhanh, năng suất lao động của
người công nhân và năng lực của toàn bộ nền kinh tế đều có chiều hướng
giảm. Về mặt xã hội, thất nghiệp thường đe dọa tính ổn định của mỗi gia
đình, của nền kinh tế và của toàn xã hội.
Thất nghiệp gồm những người không có việc làm nhưng đang tích cực
tìm việc làm. Theo cách tính thông thường, tỷ lệ thất nghiệp tính bằng tỷ lệ %
giữa tổng số người thất nghiệp với tổng số lực lượng lao động. Với tỷ lệ thất
nghiệp thấp (thường là 4-6%), quốc gia đó được đánh giá là đã tạo nên được
việc làm đầy đủ cho người lao động. Đối với các nước đang phát triển, tỷ lệ
thất nghiệp theo cách tính này chưa phản ánh đúng thực chất về nguồn lao
động chưa được sử dụng hết. Trong thống kê thất nghiệp của các nước đang
phát triển, số người nghèo thường chiếm tỷ lệ rất lớn và khi họ thất nghiệp thì
họ cố gắng không để thời gian đó kéo dài. Do đó ở các nước đang phát triển,
để biểu hiện tình trạng chưa sử dụng hết nguồn lao động, người ta thường
dùng khái niệm là thất nghiệp hữu hình và thất nghiệp trá hình. Thất nghiệp
trá hình thường xảy ra ở các vùng nông thôn hoặc thành thị trong các ngành
nghề không chính thức có năng suất lao động rất thấp và họ có đóng góp rất ít
hoặc không đáng kể vào quá trình sản xuất.
Có rất nhiều nguyên nhân tác động đến tình trạng thất nghiệp ở một
nước. Xét về mặt cung lao động, thất nghiệp xảy ra khi cung lao động tăng 20
đến giá tiêu dùng cao hơn và đẩy lạm phát tiếp tục tăng. 21
Lạm phát tăng thường làm cho cuộc sống của người dân bị ảnh hưởng
nghiêm trọng do giá cả tăng cao. Ở những nền kinh tế tăng trưởng không ổn
định hoặc có những biến cố lớn như thiên tai, chiến tranh, khủng hoảng kinh
tế, biến động chính trị , lạm phát thường có xu hướng tăng cao và điều này
khiến cho chất lượng tăng trưởng kinh tế không thể được duy trì. Để hạn chế
lạm phát, chính phủ các nước thường dùng các biện pháp như: giảm bớt lượng
cung tiền và tăng lãi suất; giảm chi tiêu chính phủ; tăng thuế, đặc biệt là thuế
thu nhập đối với người có thu nhập trung bình và cao; đưa ra các chính sách
chỉ đạo về lương và giá cả; điều chỉnh tỷ giá hối đoái Lạm phát duy trì ở
mức 5-7% [34] được coi là mức lý tưởng để nền kinh tế có thể thực hiện các
mục tiêu tăng trưởng và phát triển của mình.
1.2.3.3. Tiêu chuẩn về chi tiêu chính phủ
Theo quan điểm truyền thống, quy mô chi tiêu của chính phủ được đánh
giá bằng tổng mức chi tiêu và tỷ lệ chi tiêu chính phủ trong GDP. Trong
những năm 1980, đã có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa chi tiêu chính
phủ và tăng trưởng kinh tế. Nhìn chung, các nhà kinh tế học đều thấy rõ
những tác động tích cực giữa quy mô chi tiêu của chính phủ với tăng trưởng
kinh tế, nhưng cũng có nhiều quan điểm đánh giá về mối quan hệ tiêu cực của
hai yếu tố này. Ở nhiều nước đang phát triển, tổng chi tiêu chính phủ và tỷ lệ
vay/GDP nhìn chung là cao và có xu hướng gia tăng, làm tăng các khoản vay
nợ giành cho chi tiêu ở tất cả các nước. Mức độ hiệu quả của chi tiêu chính
phủ là lợi ích ròng mà xã hội thu được được tối đa hóa, ở đó thu - chi chính
phủ là ngang bằng nhau. Chi tiêu chính phủ trong một nền kinh tế là nhằm ba
mục đích: +) cung cấp các hàng hóa và dịch vụ công cộng; +) cải thiện tính
hiệu quả của hệ thống thị trường, đặc biệt trước những biến động từ bên
ngoài; và +) phân phối thu nhập và thực hiện công bằng xã hội cho mọi người
Các chính sách quản lý nợ quốc gia thường được sử dụng là các chính sách tài
chính, tiền tệ để quản lý quy mô các khoản nợ và xác định rõ những đặc trưng
cơ cấu của các khoản nợ. Chính sách quản lý nợ hiệu quả có tác động tích cực
đối với sự ổn định kinh tế, tối thiểu hóa được chi phí lãi suất của các khoản nợ
đó và giúp quốc gia xác định được khi nào cần thiết vay nợ, vay nợ để phục
vụ mục tiêu gì và vay bao nhiêu cho đủ đáp ứng nhu cầu của đất nước đồng
thời tránh được những rủi ro. Nợ nước ngoài lớn, đặc biệt khi tỷ lệ nợ xấu
ngày càng cao, trong điều kiện tiết kiệm quốc gia không đủ chi trả cho các
khoản nợ đó thường dẫn đến sự bất ổn định kinh tế vĩ mô và có nguy cơ gây
ra khủng hoảng kinh tế.
1.2.3.4. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế