ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUÒNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỀN XUÂN THIÊN
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁ C CÔNG TY
m m
THƯƠNG MẠI TỔNG HỢP NHẬT BẢN
■ ■ B
TẠI VIỆT NAM
■ ■
G hụyênnếănh: Kình tế chính trị x ã hội
G hủ
ngtm
M ã s ố : 50201
LUẬ N Á N THẠC s ĩ KHOA HỌC K IN H TẾ
Người hướng dẫn Khoa h ọ c: GS.TS. Lê Văn Viện
H à N ộ i : 1 9 9 5
MỤC LỤC
LÒI NÓI ĐẦU
1. Cơ sở lựa chọn đề tài
2. Tình hình nghiên cứu
3. Mục đích nghiên cứu
4. Đối tượng phạm vi nghiên cứu
5. Những đóng góp của luận án
6. Phương pháp nghiên cứu
NỘI DUNG NGHIÊN cứu
Chương I. sự XUftT HlêN củn CÁC CÔNG TV THƯƠNG MỌI TổNG HỢP
NHỘT BẢN TIỊI VIỄT NAM và vm TRÒ củn NÓ
• • *
I. Sự xuất hiện của các công ty TMTHNB tại Việt Nam
1. Tình hình quốc tế và trong nước thúc đẩy sự xuất hiện các cõne
ty TMTHNB tại Việt Nam
PHẦN KẾT LUẬN
Phụ lục các văn phòng đại diện các công ty TMTHNB tại Việt Nam
TÀI LIỆU THAM KHẢO
CÁC BÀI BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỂ TÀI LUẬN ÁN
LỜI N ÓI Đ Ầ U
1. c ơ sở LựA CHỌN ĐỂ TÀI :
Trước đây vào những năm đầu của thế kỷ XX, khi nối đến
phương Đông người ta thường có ý nghĩ về một sứ sở nghèo nàn
và lạc hậu, đối lập với nền văn minh của phương Tây. Suy nghĩ
này đến nay không còn phù hợp nữa bởi lẽ nhân loại đang chứng
kiến sự phát triển thần tốc của nên kinh kế Nhật Bản được mệnh
danh là hiện tượng thần kỳ thứ nhất trong lịch sử phát triển của
nền kinh tế thế giới, cả thế giới bàng hoàng về nước Nhật: bị bại
trận trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, nguổn tài nguyên hạn
chế; nhưng chỉ sau 20 năm vươn lên và sau đó, lần lượt xác lập
vị trí kinh tế, lần lượt "mua cả thế giới " và hiện là siêu cường
về kinh tế. Nước Nhật trở thành một trong ba trung tâm kinh tế
lớn nhất của thế giới hiện nay. đó là Mỹ, Nhật bản và Tây Âu.
Nhật Bản là cường quốc công nghiệp hiên đại hàng đầu thế giới
và là một nước có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhất trong một
thời gian dài. Nhân tố nào đã quyết định sự thành công của đất
nước này. Điều kỳ diêu ở đây là Nhật Bản thành công từ một
quốc gia hoang tàn sau chiến tranh, nguồn tài nguyên hết sức
nghèo nàn. "Nếu cần phải kể ra một số nhân tố góp phần vào sự
tăng trưởng mạnh của nền kinh tế Nhật Bản từ sau chiến tranh
thế giới II, thì chắc chắn đó là khả năng không nước nào sánh
được của quốc gia này trong ngoại thương, Trung tâm mạng lưới
hoạt động buôn bán, tiếp thị và tài chính khắp thế giới này ]à 9
Shogo Shosha ( Công ty thương mại tổng hợp) khổng lổ, chúng
TMTHNB.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN cứ u :
Quan hệ kinh tế giữa Việt nam và Nhậĩ Bản đã trải qua một
thời gian khá lâu dài. Cho đến nay đã có một số công trình
nghiên cứu về quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản. Đáng chú ý
là tác phẩm : Quan hệ Nhật Bản Việt Nam 1951-1987 của Giáo
sư tiến sĩ Shiraishi Masaya. Cuốn sách này mới đề cập chủ yếu
và tổng quátlịch sử quan hệ của Nhật Bản với Việt Nam từ sau
chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 19B7 và chưa nói gì đến
những phát triển gần đây nhất.
Cuốn sách : thành công của Nhật Bản những bài học về
phát triển kinh tế của giảo sư Hisao Kanamori - trong cuốn sách
này tác giả đã nêu lên bức tranh tổng quát của nền kinh tế Nhật
Bản sáu chiến tranh và những nguyên nhân dẫn đến nền kinh tế
tăng trưởng cao. Đặc biệt là tác phẩm : Sogo Shosha - đội tiên
phong của nền kinh tế Nhật Bản của tác giả YOSHINARA
KUNIO - Trong tác phẩm này tác giả đã làm rõ vai trò của các
Công ty TMTHNB đối với Nhật Bản góp phần làm nên "kỳ tích
kinh tê Nhật Bản". Nhưng cho đến nay vai trò và hoạt động của
các Công ty TMTHNB tại Việt Nam và đặc biệt là hợp tác kinh tế
3
Việt - Nhật từ năm 1988 lại nay chưa có cồng trình nào nghiên
cứu.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN cứu :
Trong những năm gần đây quan hệ kinh tê giữa Việt Nam
và Nhật Bản đã có những bước phát triển mới. Nhật Bản trở
thành bạn hàng đứng vị trí số 1 trong quan hệ buôn bán với Việt
Nam. Quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Nhật Bản chủ yếu
được thực hiện qua hoạt động của các Cồng ty thương mại tổng
hợp hàng đầu của Nhật. Các công ty như Mitsuibussan, Nissho
4. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN c ứ u CỦA LUẬN ÁN :
Ổ Việt Nam có rất nhiều công ty TMTHNB đang hoạt động.
Bên cạnh các công ty lởn còn có các công ty vừa và nhỏ. Luận án
này chỉ tập trung tìm hiểu hoạt động của các công ty thương mại
tổng hợp hàng đầu tiêu biểu của Nhật Bản tại Việt Nam. Đó là
các công ty Mitsui Bussan, Mitsubishi, Marubeni, Sumitomo và
Nissho-Iwai và một số công ty khác. Thông qua việc tìm hiểu
hoạt động của các cồng ty TMTHNB tiêu biểu sẽ giúp cho chúng
ta hiểu sâu hơn các đặc điểm riêng có về các công ty TMTHNB.
Các cồng ty này đã có quan hệ kinh tế với Việt Nam từ rất láu.
nhưng luận án chỉ giới hạn tìm hiểu hoạt động của các công ty
5
Hà Nội- là thầy hướng dẫn đã có nhiều ý kiến quý báu đóng góp
cho bản luận án. Đồng thời tác giả chân thành cảm ơn tới các cơ
sở thực tế, các đồng chí trong Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tê, các
thầy phản biện đã có nhiều ý kiến thiết thực cho bản luận án
khoa học này.
5. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN :
Sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế Nhật Bản và ảnh
huởng của nó đối với nền kinh tế thế giòi nói chung và Châu Á
nói riêng đang là chủ đề hấp dẫn thu hút sự nghiên cứu của nhiều
nhà kinh tế trong nước và quốc tế. ở Việt Nam một trung tâm
chuyên nghiên cứu về kinh tế Nhật Bản đã được thành lập tại
Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia. Hiện tại cũng
như tương lai sẽ công bố nhiều ấn phẩm nghiên cứu về kinh tế
Nhật Bản. Song cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên
cứu về hoạt động của các công ty TMTHNB tại Việt Nam. Luận
án này sẽ đi sâu nghiên cứu vai trò, các lĩnh vực hoạt động và
chiến lược hoạt động của các công ty TMTHNB tại Việt Nam.
Về những đống góp bước đầu. luận án sẽ là một tư liệu
8
KẾT CẤU CỦA BẢN LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận án bao gồm 2
chương lớn :
Chương I : Sự xuất hiện của các cống ty thương mại tổng
hợp Nhật Bản (TMTHNB) tại Việt Nam và vai trò
của nó.
Chương II : Hoạt động của các công ty TMTHNB tại Việt
Nam : Các vấn đề và kiến nghị.
9
NỘI DUNG NGHIÊN cứu
CHƯƠNG I
Sự XUẤT HIỆN CỦA CÁ C CÔNG TY THƯƠNG MẠI
TỔNG HỌP NHẬT BẢN (TMTHNB)
TẠI VIỆT NAM VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ
I. Sự XUẤT HIỆN CỦA CÁC CÔNG TY TMTHNB TẠI VIỆT NAM
1, Tình hình quốc tế và trong nước thúc đẩy sự xuât hiện
các công ty TMTHNB tại Việt Nam :
Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện
đại đã thúc đẩy lưc lượng sản xuất phát triển, phân cồng lao
đông xã hội và quốc tế hoá đời sống kinh tế ngày càng sâu rộng,
sụ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế các nước ngày càng
chặt chẽ hơn. Trong điều kiện hiện nay nền kinh tế thế giới đã
phát triển tới mức mà các quan hệ kinh tế quốc tế có tác dụng
chi phối đáng đế đối với sự phát triển kinh tế của mỗi nước và
ngược lại những biến động kinh tế trong mỗi nước đều ít nhiều
có tác động tới sự phát triển chung của nền kinh tế thế giới.
Có thể nói nền kinh tế thế giới là một thể thống nhất bao
gồm các nền kinh tê quốc gia dân tộc liên quan chặt chẽ và tác
động tương hỗ lẫn nhau dựa trên phân công lao động quốc tế và
hộ. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai nước Nhật đã phải bắt
đầu từ đống tro tàn. Đất nước mọi thứ đều thiếu. Người Nhật đã
buộc phải hy sinh lợi ích cá nhân cho sự nghiệp chiến tranh
trước năm 1945, bây giờ bắt đầu dành nghị lực cho các mục tiêu
kinh tế. Hơn nữa cảm thấy bị thấp kém hơn Mỹ và các nước phát
triển khác ở phương Tây, người Nhật đã coi việc phát triển kinh
tế là một nguồn tự hào dân tộc mới. Bối cảnh quốc tế sau chiến
tranh cũng đã khuyến khích họ định hướng mục tiêu của nước
Nhật vào phát triển kinh tế. Nhiều nước, nhất là những nước bị
Nhật chiếm đóng rất sợ chủ nghĩa bành trướng Nhật Bản. "Nhật
Bản không thế là một nước khổng lồ về quân sự được nữa. Như
vậy Nhật Bản không có cách lực chọn nào khác ngoài việc trờ
thành một cường quốc kinh tế"[17, trg 26], Để trở thành một
cường quốc kinh tế, nhưng Nhật Bản các nguồn tài nguyên hạn
chế và sau chiến tranh nguồn vốn rất ít; Nên cần tăng sản xuất
và tích luỹ vốn phải dần dần thông qua con đường ngoại thương.
Công nghiệp Nhật cần thị trường nước ngoài để xuất khẩu sản
phẩm và cũng cần nhập khẩu tài nguyên thiên nhiên (và thực
phẩm) từ nước ngoài. Từ đố, các cơ quan kinh tế vả ngoại giao
Nhật Bản đã coi chính sách ngoại giao kinh tế là nhiệm vụ quan
trọng nhất.
Trong thời kỳ trước chiến tranh, Nhật Bản có hai bạn hàng
kinh tế quan trọng: Mỹ và Châu Á. Quan hệ kinh tế với Mỹ
12
không phải là vấn đề khó khăn đối với Nhật. Nước Mỹ đã trực
tiếp và gián tiếp khuyến khích việc khôi phục và phát triển kinh
tế sau chiến tranh của Nhật Bản, cung cấp những nguồn tài chính
dưới nhiều hình thức khác nhau. Nước Mỹ là nước đầu tiên ký
hiệp định thương mại và hàng hải với Nhật Bản (tháng 4 - 1953).
Trong một số nước ở Châu Á, quan trọng nhất đối với Nhật Bản
Inđônêxia. Vì thế Nhật trở thành nước nhập khẩu lớn nhất của
các nước ASEAN - Khoảng một phần tư, nhưng chủ yếu vẫn là
dầu khí, gỗ và các nguyên liệu thô khác.
Có thể nói ASEAN là thị trường quan trọng của các công ty
Nhật Bản.
Việt Nam nằm ở vị trí Đông Nam Á cùng khu vực với các
nước ASEAN, cũng tương đối giống nhau về điều kiện tự nhiên
và một số điểm về mặt xã hội nên từ lâu đã thuộc chiến lược
bành trướng Châu Á của Nhật Bản. Cho tới nay, sức bành trướng
anh hữởng kinh tê của Nhật trong khu vưc tăng nhanh. Đối với
những biến động từ bên ngoài; Có thể được xem như chính sách
toàn cầu của Nhật.
Kể từ năm 1987 trở về trước, do nhiều lý do nên Việt Nam
đã bị hạn chế trong quan hệ đối với Nhật Bản. Quan hệ Nhật -
14
Việt bị ràng buộc bởi quan hệ Nhật - Mỹ và quan hộ Việt - Mỹ.
Người Nhật đã nói thẳng vấn đề này.
"Đối với Nhật Bản, có nhiểu nước còn quan trọng hơn Việt
Nam. Mặt khác, đối với Việt Nam, cũng có nhiều nước còn quan
trọng hơn Nhật Bản"[10, trg 13].
Những năm trước đây quan hệ Nhật - Mỹ và quan hệ Nhật -
ASEAN vẫn là quan trọng nhất đối với Nhật Bản và hiện nay
cũng như sau này vẫn là như vậy; Có thể về mặt mức độ sẽ được
điều chỉnh nhưng cục diện chính vẫn khống thay đổi. Đối với
Việt Nam từ năm 1987 trở về trước quan hệ Việt Nam - Liên Xô
vẫn là quan hệ quan trọng nhất đối với Việt Nam. Tình hình trên
đã hạn chế đến hoạt động của các công ty thương mại tổng hợp
Nhật Bản tại Việt Nam. Từ năm 1988 Việt Nam bắt đầu thực hiện
cổng cuộc đổi mới kinh tế sâu rộng. Với việc mở cửa nền kinh tế
và với tinh thần Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong
nước trên thế giới. Từ tháng 6 năm 1991 Mitsui đã mở văn phòng
đại diện tại Hà Nôi và thành phố Hồ Chí Minh.
16
Mitsui là một trong ba tập đoàn thương mại và cỏng nghiộp
lớn nhất Nhật Bản.
2.2. Mitsubishi
Thành lập vào năm 1870 với doanh số bán ra 8677 tỉ Yên.
Là một trong những tập đoàn thương mại và công nghiệp lớn
nhất thế giới, có phạm vi hoạt động giàu tiềm năng bao gồm
công nghiệp ô tô, dầu khí, xi măng, công nghiệp điện, các hoạt
động dịch vụ v.v Tổ chức của công ty Mitsubishi có những nét
độc đáo, bao gồm : Ngành chức năng, ngành kinh doanh, ngành
chuẩn bị cho kinh doanh. Ba ngành này tổng cộng có 13 nhóm
cống tác với hơn 40 phòng chức năng nghiêp vụ.
Ngành chức năng có 5 nhóm là : tổng hợp nhân sư, lưu
chuyển hàng hoá, quản lý kiểm tra, hệ thống OA. Trong phạm vi
chức năng của mình, tích cực hỗ trợ cho công việc kinh doanh và
các nhóm doanh nghiệp[ 43, trg ].
Ngành kinh doanh, một ngành có thể nói là đội quân thực
chiên để thu lãi bao gồm 7 nhóm là : thông tin, nhiên liêu, kim
loại, cơ khí, thực phẩm, hoá chất, tơ sợi nguyên liệu. Ngành nàv
đang triển khai nhiểu hoạt động kinh doanh với vũ khí là mạng
lưới trên quy mô toàn thế giới và tính chuyên môn cao. Trong
những năm gần đây, ngoài hoạt động kinh doanh xuất khẩu nhập
khẩu tài nguyên và nguyên vật liệu, nganh này còn đang triển
khai kinh danh sang lĩnh vực tiêu dùng. _ .
___
— ,
17
Ngành chuẩn bị cho kinh doanh. Trong năm 1989, đã thành
hàng, bảo hiểm, dầu khí, sắt thép, hoá chất, điện tử, phương tiện
giao thồng, xây dựng, bất động sản. Năm 1991 Sumitomo đã
thành lập 2 văn phòng đại diện tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh. Ngoài các công ty thương mại tổng hợp lớn như đã được
giới thiệu trên đây còn có các công ty lớn khác như Marubeni,
Toyota, C.Iton và nhiều cồng ty vừa và nhỏ khác đã có quan hệ
hợp tác kinh tế với Việt Nam.
Qua các công ty tiêu biểu ở trên, chúng ta nhận thấy : cống
ty thương mại tổng hợp theo kiểu Nhật Bản ngoài đặc trưng
chung là một cống ty làm nhiệm vụ trao đổi hàng hoá và dịch vụ
còn có đặc trưng riêng là quy mô hoạt động trên phạm vi thế giới
(có mạng lưới ở nhiều nước), kinh doanh nhiều hàng hoá, hợp
tác liên kêt với nhiều ngành từ khai thác, chế biến đến tiêu thụ
sản phẵm và chiêm một tỉ lệ lớn trong kim ngạch ngoại thương
của Nhật Bản.
"Nếu chỉ quan niêm các công ty thương mại là những công
ty tham gia vào các hoạt động buôn bán, thì ở Nhật Bản cố vô số
các công ty thương mại, từ một cồng ty khổng lồ sử dụng trên
19
10.000 người, có cấc văn phòng ở khắp thế giới đến cồng ty một
người mà tài sản lớn nhất của nó là một chiếc điện thoại đặt
trong một văn phòng chung với công ty khác". [ 32, trg 20 ]
Nhưng các công ty thương mại tổng hợp tức Sogo Shosha lấ
một tổ chức riêng của Nhật Bản. Ví dụ như Mitsui Bussan Sogo
Shosha đứng hàng thứ hai ở Nhật Bản, chiếm khoảng 10% xuất
nhập khẩu ở Nhật Bản, sử dụng 13.000 người, duy trì một mạng
lưới 181 văn phòng ở các thành phố lớn trên thế giới, và xử lý
nhiều loại sản phẩm khác nhau như gang thép, các kim loại màu,
hoá chất, dệt, lương thực, thực phẩm, và máy móc. Một cống ty
thương mại lớn và đa dạng như thế khồng hề có ở một nước nào
sau:
- Đầu tư Công nghiệp
Mọi người đều biết rằng: Tư bản thương nghiệp là tiền thân
của tư bản công nghiệp. Vì vậy, khi xem xét hoạt đông đầu tư
của các Công ty thương mại lớn của Nhật, ta thấy rõ có nhiều
khoản đầu tư công nghiệp. Ví dụ, vào cuối thời kỳ trước chiến
tranh, Mitsui Bussan có nhiều công ty con chế tạo và có cả
những cổ phần lớn ở nhiều công ty đã được thành lập. " Nó còn
21
nắm những cổ phần lớn trong các công ty sản xuất thép Nippon,
công ty công nghiệp điện hoá chất, nhà máy bột mỳ Nippon - đó
là những công ty của tập đoàn tài phiệt Mitsui". [ 32, trg 247 ]
Ngày nay tất cả các Sogo Shosha đều có nhiều công ty con
hoặc công ty liên kết chế tạo. Ví dụ, vào giữa năm 1975, C.Itoh
có 108 công ty thuộc tập đoàn của mình (tập đoàn C.I toh), trong
đó có 31 công ty thuộc ngành chế tạo. Khi nghiên cứu công
nghiệp hoá ở các khu vực đang phát triến như Đóng Nam Á,
người ta có cảm giác rằng một mô hình tham gia tiêu biểu của
một công ty thương mại vào ngành chế tạo là thông qua mối
quan hệ với một công ty nước ngoài. Lúc đầu, công ty thương
mại này trở thành một đại lý cho công ty nước ngoài, và khi đã
có lợi để lập một cơ sở sản xuất ở thị trường này thì cóng ty
thương mại sẽ lập một hợp doanh với một nhà máy cung cấp
nước ngoài. Theo một ý nghĩa nào đó, đây là mối quan hệ lý
tưởng, vì công ty nước ngoài cung cấp kỹ thuật, và công ty
thương mại thì có bí quyết tiêu thụ. Ví dụ, hầu hết đầu tư công
nghiệp của Nhật Bản ở Đông Nam Á đều là các liên doanh, và
các bến đối tác của họ là các cồng ty thương mại.
Có thể, một cồng ty thương mại không thích đầu tư công
nghiệp." vào những năm đầu kỷ nguyên Minh Trị, Masuda