1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VŨ THỊ THÁI HÀ
PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ
NÔNG NGHIỆP Ở HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2011
2
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị với đề tài “Phát
triển Hợp tác xã nông nghiệp ở Hải Phòng” là công trình nghiên cứu của cá
nhân dƣới sự hƣớng dẫn của TS. Nguyễn Hữu Sở. Các số liệu, tài liệu trích
dẫn và tài liệu tham khảo trong luận văn là hoàn toàn trung thực, có nguồn
gốc rõ ràng.
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thái Hà
4
MỤC LỤC
Trang
2.3.3. Nguyên nhân 67
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ
NÔNG NGHIỆP Ở HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2010 – 2015 72
3.1. Bối cảnh mới tác động đến sự phát triển HTX nông nghiệp 72
3.1.1. Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế 72
3.1.2. Quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. 72
3.2. Quan điểm, phƣơng hƣớng phát triển HTX nông nghiệp ở Hải Phòng 75
3.2.1. Quan điểm 75
3.2.2. Phƣơng hƣớng 76
3.3. Các nhóm giải pháp chủ yếu 78
3.3.1. Nhóm giải pháp từ phía Nhà nƣớc và chính quyền Thành phố 78
3.3.2. Nhóm giải pháp từ phía HTX nông nghiệp 87
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
i
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Viết tắt
Nguyên nghĩa
1
BHXH
Bảo hiểm xã hội
12
UBND
Ủy ban nhân dân
13
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
14
WTO
Tổ chức Thƣơng mại thế giới ii
DANH MỤC BẢNG, HÌNH, HỘP
Danh
mục Trang
BẢNG
Bảng 1.1.
Sự giống nhau và khác nhau giữa HTX kiểu cũ, HTX
kiểu mới và doanh nghiệp
13
Hình 1.2.
Mô hình HTX của ngƣời lao động (xã viên vừa là đồng
sở hữu lại vừa là ngƣời lao động trong HTX)
17
HỘP
Hộp 1.
Nguyên tắc HTX do ICA đƣa ra
22
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với nền tảng tƣ tƣởng hợp tác và phong trào HTX hơn 200 năm qua, kinh tế
tập thể đã trở thành một loại hình tổ chức phổ biến ở hầu hết các nƣớc trên thế giới;
có ý nghĩa kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội to lớn với mỗi quốc gia. Đối với nƣớc
ta, phát triển kinh tể tập thể mà nòng cốt là HTX là một tất yếu khách quan trong sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và củng cố nền quốc phòng – an ninh đất nƣớc; là
chủ trƣơng lớn, nhất quán và xuyên suốt của Đảng ta trong quá trình phát triển nền
kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Tuy nhiên, sự phát triển
của phong trào HTX mà đặc biệt là HTX nông nghiệp trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) ở nƣớc ta hiện nay lại đang gặp nhiều mâu
thuẫn và khó khăn. Và, sự phát triển HTX nông nghiệp ở Hải Phòng cũng không
hiện thắng lợi quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Hải Phòng nói riêng
và cả nƣớc nói chung, đồng thời góp phần đƣa thành phần kinh tế tập thể thích ứng
kịp thời với thời kỳ hội nhập.
Để góp phần luận giải cho các vấn đề trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Phát
triển hợp tác xã nông nghiệp ở Hải Phòng” làm luận văn thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu
“Kinh nghiệm hoạt động của một số hợp tác xã sau sáu năm thực hiện luật
hợp tác xã”, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ƣơng, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2003. Nội dung cuốn sách bao gồm những nội dung cơ bản và các kết quả
khảo sát nghiên cứu của tập thể cán bộ nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu quản lý
kinh tế trung ƣơng thực hiện ở 33 hợp tác xã đại diện cho các hợp tác xã trong các
ngành, các lĩnh vực kinh tế, địa phƣơng khác nhau của cả nƣớc.
“Kinh tế hợp tác, Hợp tác xã ở Việt Nam thực trạng và định hƣớng phát
triển” do PGS. TS. Nguyễn Văn Bích và TS. Chu Tiến Quang đồng chủ biên, NXB
Nông nghiệp, Hà Nội, 2001. Cuốn sách đã luận giải về cơ sở khoa học và thực tiễn
của sự phát triển kinh tế hợp tác (KTHT) và HTX, giải quyết những vấn đề đặt ra 3
đối với KTHT, HTX ở Việt Nam giai đoạn đó nhằm kiến nghị các chủ trƣơng, giải
pháp phát triển, phù hợp với đƣờng lối đổi mới của Đảng và Nhà nƣớc ta.
“Đổi mới kinh tế tập thể giai đoạn 2002 - 2007” của Ngô Văn Dụ, PGS. TS.
Nguyễn Văn Thạo, TS. Nguyễn Tiến Quân (Đồng chủ biên), NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2009. Trong cuốn sách này, các tác giả tập trung đi sâu nghiên cứu nội
dung đƣờng lối, quan điểm của Đảng, những kinh nghiệm trong thực tiễn phát triển
kinh tế tập thể ở một số ngành, địa phƣơng trong thời gian từ năm 2002 - 2007.
Ngoài ra, các tác giả còn giới thiệu một số thông tin về kinh nghiệm phát triển kinh
tế tập thể đã đƣợc thực nghiệm thành công ở một số nƣớc trên thế giới.
“Phát triển hợp tác xã nông nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá ở nƣớc ta” của GS.TS. Hồ Văn Vĩnh đăng trên Tạp chí Cộng sản, số 81 năm
kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN ở Việt Nam. Đồng thời, định hƣớng và đƣa ra
các khuyến nghị chính sách phát triển sở hữu tập thể và kinh tế hợp tác trong thời
gian tới ở Việt Nam.
“Mô hình tổ chức Hợp tác xã kiểu mới – Góp phần xây dựng xã hội hợp tác,
đoàn kết, cùng chia sẻ sự thịnh vƣợng và quản lý một cách dân chủ” do TS. Nguyễn
Minh Tú (Chủ biên), NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2010. Cuốn sách gồm 4
phần chính: phần thứ nhất tác giả đề cập tới bối cảnh phát triển và các thời kỳ phát
triển hợp tác xã ở nƣớc ta; phần thứ hai tìm hiểu khu vực hợp tác xã ở nƣớc ta đang
đứng ở đâu; phần thứ ba viết về tƣ tƣởng hợp tác xã và một số kinh nghiệm quốc tế
về phát triển hợp tác xã và phần thứ tƣ cũng là phần cuối cùng, tác giả chỉ ra tƣơng
lai phát triển của hợp tác xã ở nƣớc ta.
“Chính sách phát triển hợp tác xã ở Việt Nam” của PGS. TS. Nguyễn Đình
Kháng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 11 (số 427) năm 2008. Qua bài viết này
tác giả khẳng định sự phát triển của HTX đƣợc Nhà nƣớc ta thể chế hoá kịp thời,
phạm vi hoạt động của các HTX đã đƣợc mở rộng góp phần giải quyết các vấn đề
xã hội theo hƣớng tích cực. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đó cũng có
nhiều vấn đề đặt ra cho các HTX trong thời kỳ mới. Và dựa vào hệ thống quan điểm
của Đảng tác giả đƣa ra các giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới, phát triển kinh tế tập
thể trong thời gian tới. 5
“Mô hình hợp tác xã kiểu mới” của TS. Nguyễn Mạnh Hùng đăng trên Tạp
chí Kinh tế và Dự báo, số 2 (Số 418) năm 2008. Trƣớc hết, tác giả chỉ ra sự khác
biệt cơ bản của mô hình HTX kiểu mới (theo Luật HTX năm 2003) so với mô hình
HTX kiểu cũ. Tiếp đó, tác giả trình bày khái quát các hình thức tổ chức hoạt động
của các HTX và khẳng định xu hƣớng chuyên môn hoá trong các HTX là một
hƣớng đi tích cực. Và để minh chứng cho khẳng định đó của mình, tác giả viện dẫn
hàng loạt các mô hình hoạt động thành công của các HTX ở nhiều địa phƣơng trong
cả nƣớc và rút ra những kinh nghiệm của các HTX làm ăn giỏi.
HTX, HTX nông nghiệp; nghiên cứu, đánh giá thành công và hạn chế của quá trình
phát triển HTX nông nghiệp ở Hải Phòng, đồng thời chỉ ra nguyên nhân của những
thành công và hạn chế đó. Từ đó, đƣa ra gợi ý về nhóm giải pháp phát triển HTX
nông nghiệp ở Hải Phòng giai đoạn 2011 - 2015.
- Nhiệm vụ
Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về HTX và sự cần thiết phải phát
triển HTX nông nghiệp;
Phân tích thực trạng HTX nông nghiệp ở Hải Phòng qua các giai đoạn,
đánh giá những kết quả đạt đƣợc và những hạn chế còn tồn tại, đồng thời chỉ ra
nguyên nhân của thực trạng đó;
Đề xuất phƣơng hƣớng, giải pháp để phát triển HTX nông nghiệp ở
Hải Phòng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình phát triển
HTX nông nghiệp ở Hải Phòng.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung khảo sát, nghiên cứu tình hình
phát triển HTX nông nghiệp ở Hải Phòng giai đoạn sau khi Luật HTX năm 1996
đƣợc ban hành. Giải pháp đƣa ra chỉ giới hạn đến năm 2015.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử; tƣ tƣởng Hồ Chí Minh; những quan điểm, chủ trƣơng, chính sách của Đảng
và pháp luật của Nhà nƣớc Việt Nam. Luận văn cũng sử dụng một số phƣơng pháp 7
cụ thể nhƣ: thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, mô tả kết hợp nghiên cứu lý
luận với tổng kết thực tiễn.
Nguồn tƣ liệu đƣợc sử dụng trong quá trình viết luận văn gồm các tác phẩm
kinh điển của C.Mác, F.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh; các Văn kiện, Nghị
quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Thành ủy Hải Phòng; các báo cáo của các
1.1. HTX nông nghiệp và tính tất yếu khách quan của HTX nông nghiệp
1.1.1. Lý luận chung về HTX
1.1.1.1. Khái niệm HTX
Tƣ tƣởng về mô hình HTX khởi nguồn ở Anh và Pháp từ những năm cuối
thế kỷ 18 do tác động của cuộc cách mạng công nghiệp. HTX đầu tiên trên thế giới
có tên gọi là “HTX của những người tiên phong bình đẳng Rochdale” do 28 ngƣời
thợ dệt và những ngƣời thợ thủ công khác ở Rochdale, nƣớc Anh cùng nhau lập ra
năm 1844. Với bản chất nhân văn và khả năng đáp ứng các nhu cầu đa dạng của
ngƣời dân, HTX đã nhanh chóng phát triển sang nhiều lĩnh vực khác nhau và trở
thành một phong trào xã hội rộng lớn trên toàn thế giới.
Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào HTX thế giới đƣa đến việc thành lập
Liên minh Hợp tác xã quốc tế (ICA) vào ngày 19/8/1895 tại Vƣơng quốc Anh,
nhằm thực hiện sứ mệnh liên kết, đại diện và hỗ trợ phong trào HTX toàn thế giới.
ICA là một trong những tổ chức quốc tế lớn nhất trên thế giới, phần lớn các nƣớc có
phong trào HTX đều là thành viên của ICA. Hiện nay, ICA đại diện cho hơn 800
triệu xã viên của 225 tổ chức HTX quốc gia của 96 nƣớc, hoạt động trong tất cả các
lĩnh vực, ngành nghề.
Năm 1995, Đại hội đồng Liên minh HTX quốc tế đã thông qua Tuyên bố về
các khái niệm, giá trị, nguyên tắc HTX. Theo đó, HTX đƣợc định nghĩa nhƣ sau:
“HTX là tổ chức của những ngƣời tự nguyện liên kết lại với nhau để đáp ứng các
nhu cầu về kinh tế, xã hội và văn hoá của mình và cộng đồng; là tổ chức tự chủ, tự
chịu trách nhiệm, phối hợp giúp đỡ thành viên, có trách nhiệm xã hội và phát triển
cộng đồng; HTX hoạt động dựa trên các giá trị tƣơng trợ, dân chủ, bình đẳng, công
bằng và đoàn kết”. 9
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thông qua Khuyến nghị về Khuyến trợ các
Hợp tác xã ngày 20 tháng 6 năm 2002 tại Geneve - Thụy Sỹ, cho rằng: “thuật ngữ
“hợp tác xã” chỉ một hiệp hội tự chủ của nhiều ngƣời tự nguyện hợp lại để thỏa mãn
nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích
chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy
sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia HTX, nhằm giúp nhau thực hiện có
hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”. “HTX hoạt động như một
loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các
nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích lũy và các nguồn vốn khác
của HTX theo quy định của pháp luật” [22, tr.7-8].
Có thể thấy, định nghĩa HTX theo Luật HTX năm 2003 đã mở rộng đối
tƣợng xã viên tham gia HTX, không chỉ cá nhân (bao gồm cả ngƣời lao động) mà
còn có cả hộ gia đình và pháp nhân; đƣa thêm giải thích “HTX hoạt động nhƣ một
doanh nghiệp” so với Luật HTX 1996. Tuy nhiên, cả hai định nghĩa này còn rất xa
so với định nghĩa pháp lý về HTX mà ICA và ILO đã khuyến cáo, thậm chí xa cả
với thực tiễn phát triển HTX và tổ hợp tác ở nƣớc ta. Sự không rõ ràng trong định
nghĩa cũng nhƣ bản chất của HTX là nguyên nhân quan trọng nhất làm cho HTX
chƣa hấp dẫn đƣợc nhân dân. Mặt khác, định nghĩa về HTX tại Luật HTX cũng dễ
gây ra sự hiểu lầm, cho rằng HTX là tổ chức xã hội, tổ chức từ thiện, là “bà đỡ” cho
xã viên, coi nhẹ vai trò xã viên trong HTX.
1.1.1.2. Đặc trưng của HTX
Qua tìm hiểu khái niệm HTX ở trên thì xét cho cùng, đặc trƣng mang tính
bản chất của HTX chính là: đồng sở hữu, đồng sử dụng dịch vụ, sản phẩm của HTX
hoặc đồng là ngƣời lao động trong HTX.
Trước hết, HTX là một tổ chức kinh tế. HTX là tổ chức tập hợp của cá nhân
con ngƣời (không phải vốn) cùng với hoạt động kinh tế của riêng từng cá nhân, hay
cá nhân con ngƣời cùng với hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của mình là nền tảng
của HTX. HTX hoạt động hết thảy vì lợi ích của xã viên.
Hoạt động kinh tế của các xã viên có rất nhiều nhu cầu khác nhau nhƣng các
xã viên HTX phải có nhu cầu chung trong hoạt động kinh tế của mình thì mới có 12
vụ và lợi ích, khuyến khích phát triển tinh thần hợp tác, tính cộng đồng, tinh thần
đoàn kết, tƣơng trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các xã viên.
Thứ ba, khi tham gia HTX, xã viên bắt buộc phải góp vốn. Vốn góp của xã
viên ở nhiều nƣớc có cách gọi khác nhau nhƣ: vốn góp điều lệ, dự phần xã hội, cổ
phần v.v là vốn sở hữu của xã viên trong HTX. Trong suốt quá trình tham gia
HTX, xã viên chỉ đƣợc sở hữu tƣ nhân phần vốn góp đó, còn tài sản hình thành từ
hoạt động của HTX là tài sản chung không chia của HTX. Trong trƣờng hợp HTX
bị giải thể, tài sản này đƣợc chuyển giao cho chính quyền địa phƣơng, trƣờng hợp
xã viên rút khỏi HTX thì chỉ đƣợc rút phần vốn đã góp. Đây là đặc điểm mang tính
bản chất của HTX, đề cao tính cộng đồng và sở hữu chung trong HTX, khác hẳn với
doanh nghiệp thƣơng mại.
Thứ tư, HTX đƣợc thành lập dựa trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Xuất phát
từ nhu cầu, lợi ích chung, các thành viên liên kết lại với nhau để phát huy sức mạnh
tập thể của từng xã viên, cùng giúp đỡ lẫn nhau thực hiện có hiểu quả các hoạt động
sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của từng xã viên.
Thứ năm, HTX là tổ chức kinh tế có chế độ TNHH. Tức là, khi HTX tuyên
bố phá sản và toàn bộ tài sản của HTX đƣợc đƣa ra phát mại để thanh toán các
khoản nợ thì HTX chỉ chịu trách nhiệm trả nợ trong giới hạn vốn điều lệ, vốn tích
lũy và các nguồn vốn khác của HTX tại thời điểm tuyên bố phá sản. Xã viên cũng
chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ trong phạm vi vốn góp của mình.
Để hiểu rõ hơn về những đặc trƣng mang tính bản chất của HTX, chúng ta
cùng xem xét bảng so sánh sau đây giữa HTX kiểu mới, HTX kiểu cũ và doanh
nghiệp.
là chính: tổ chức kinh tế đối
nhân
- Tự nguyện
- Mọi lợi ích đều thuộc về xã
viên
- Tổ chức kinh tế
- Phải hoạt động hiệu
quả, tối đa hóa lợi nhuận
- Góp vốn là chính: tổ
chức kinh tế đối vốn
- Tự nguyện
- Mọi lợi ích trƣớc hết là
của chủ doanh nghiệp
2- Mục
tiêu tổ
chức
- Tạo ra sản phẩm,
dịch vụ theo kế
hoạch mà nhà nƣớc
chỉ đạo
- Không có mục đích tự thân
mà làm lợi cho xã viên;
- Đáp ứng trƣớc hết nhu cầu
chung về kinh tế, văn hóa, xã
hội của xã viên.
- Mục tiêu lợi nhuận, mục
- Không nhất thiết phải
thu hút thêm ngƣời góp
vốn. 14
4- Sở
hữu tài
sản
- Xã viên phải góp
tài sản riêng, gộp
thành tài sản chung,
- Xã viên đƣợc tổ
chức tập trung sản
xuất, không có sản
xuất cá thể, tƣ nhân
- Xã viên góp vốn vào HTX
và sở hữu tài sản của HTX
theo vốn góp điều lệ,
- Xã viên vẫn sở hữu tƣ nhân
tƣ liệu sản xuất và hoạt động
kinh tế tƣ nhân, cá thể
- Thành viên góp vốn sở
hữu tài sản doanh nghiệp
theo tỷ lệ vốn góp điều lệ
5 -
Tài sản
chung
- “Tài sản tập thể”
7- Phân
chia lợi
nhuận
- Theo các quy định
chung của Nhà
nƣớc: chia đều bình
quân
- Lợi nhuận/ thặng dƣ chia
theo nhiều tiêu thức khác
nhau:
+ Vốn góp
+ Khối lƣợng dịch vụ sử
dụng
+ Quỹ phát triển HTX
+ Quỹ dự phòng
+ Hoạt động thông tin, giáo
dục, cộng đồng, sinh hoạt văn
hóa
-Lợi nhuận chủ yếu chia
theo vốn góp.
(Nguồn: Vụ Hợp tác xã: Bản chất Hợp tác xã, Hà Nội, 2007, tr. 30) 15
1.1.1.3. Mô hình HTX
Mô hình HTX đƣợc xem xét về mặt pháp lý theo tiêu chuẩn quốc tế, đang áp
HTX để triển khai thực hiện phƣơng án thỏa mãn nhu cầu chung đó.
Hình 1.1: Mô hình HTX dịch vụ phục vụ xã viên kiểu mới
(Nguồn: Vụ Hợp tác xã: Bản chất Hợp tác xã, Hà Nội, 2007, tr. 55)
- Xã viên sau khi gia nhập HTX phải sử dụng sản phẩm, dịch vụ của HTX
theo phƣơng thức bình đẳng trên thị trƣờng, theo đó HTX và xã viên là khách hàng
của nhau. Với tƣ cách này xã viên vừa đƣợc hƣởng lợi từ việc cung cấp sản phẩm,
dịch vụ của HTX vừa đƣợc hƣởng lợi từ việc sử dụng sản phẩm, dịch vụ của HTX.
Thị
trƣờng
Hợp tác xã
viên. Giá bán sản phẩm, dịch vụ là thống nhất, bình đẳng đối với mọi xã viên HTX.
- Trong khi HTX đáp ứng nhu cầu chung của xã viên thì xã viên vẫn duy trì
hoạt động kinh tế của mình, kinh tế xã viên và kinh tế của HTX cộng sinh với nhau,
gắn bó mật thiết với nhau trong đó kinh tế xã viên là cái có trƣớc.
Mô hình HTX của người lao động (Hình 1.2), theo đó xã viên vừa là chủ sở
hữu – ngƣời góp vốn vào HTX vừa là ngƣời lao động trong HTX. Hình 1.2: Mô hình HTX của người lao động (xã viên vừa là đồng sở hữu
lại vừa là người lao động trong HTX)
(Nguồn: Vụ Hợp tác xã: Bản chất Hợp tác xã, Hà Nội, 2007, tr. 58)
Về nguyên tắc, bản chất của mô hình này giống nhƣ HTX dịch vụ phục vụ xã
viên, theo đó HTX “tiêu dùng” sức lao động của xã viên và xã viên “bán” sức lao
HTX sản xuất ra
sản phẩm, dịch vụ
Thị trƣờng
Xã viên
Xã viên
Xã viên
Xã viên
Xã viên
cách thức mà họ cho rằng có hiệu quả nhất.