ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐINH THẾ THUẬN
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
Ở MỸ, NHẬT BẢN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Hà Nội – 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
7
1.1. Khái niệm, đặc trưng của thị trường giáo dục đại học
7
1.1.1. Khái niệm thị trường giáo dục đại học
7
1.1.2. Những đặc trưng của thị trường giáo dục đại học
9
1.2. Tính tất yếu khách quan và nội dung phát triển thị trường giáo dục
đại học
11
1.2.1. Tính tất yếu khách quan phát triển thị trường giáo dục đại học
11
1.2.2. Nội dung phát triển thị trường giáo dục đại học
13
1.3. Các điều kiện chi phối sự phát triển thị trường giáo dục đại học
21
1.3.1. Mô hình và trình độ phát triển kinh tế
21
1.3.2. Truyền thống văn hóa
21
1.3.3. Chính sách quốc gia về giáo dục đào tạo
22
Chương 2. Thực trạng phát triển thị trường giáo dục đại học ở Mỹ và
Nhật Bản
25
2.1. Tạo lập môi trường phát triển thị trường giáo dục đại học
25
2.1.1. Tạo lập môi trường kinh tế
25
2.1.2. Tạo lập môi trường chính trị, pháp lý
49
3.2.3. Bài học về định hướng và điều tiết sự phát triển thị trường giáo dục
đại học
51
3.2. Bối cảnh phát triển thị trường giáo dục đại học ở Việt Nam và một số
gợi ý về chính sách phát triển
53
3.2.1. Bối cảnh phát triển thị trường giáo dục đại học ở Việt Nam hiện
nay
53
3.2.2. Một số gợi ý về chính sách phát triển thị trường giáo dục đại học ở
Việt Nam
56
KẾT LUẬN
62
TÀI LIỆU THAM KHẢO
63
i
Danh mục các bảng
STT
Số hiệu
Nội dung
Trang
1
Bảng 2.1
Quy mô giáo dục đại học Nhật Bản năm 2004
32
bối cảnh hội nhập quốc tế, sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta phải đổi mới
căn bản, toàn diện, mạnh mẽ.”
Đổi mới giáo dục đào tạo trong quá trình phát triển nền kinh tế thị
trường và trước xu thế hội nhập quốc tế cần thiết phải coi giáo dục đào tạo
như một thị trường đặc biệt, nó vừa chịu sự chi phối trực tiếp của Nhà nước
nhằm đảm bảo định hướng quốc gia về phát triển nguồn nhân lực, đồng thời
phải vận hành theo cơ chế thị trường nhằm huy động tối đa nguồn lực trong
và ngoài nước, đảm bảo sự phát triển năng động và hiệu quả của lĩnh vực đặc
biệt quan trọng này.
Chuyển đổi mô hình quản lý giáo dục đào tạo từ cơ chế tập trung sang
cơ chế thị trường ở Việt Nam là phù hợp với xu thế thời đại, tuy nhiên đây là
một quá trình phức tạp, cần được thực hiện với một lộ trình hợp lý. Trong giai
đoạn trước mắt, nên tập trung đổi mới giáo dục đại học, bởi ở bậc học này,
người học đã có một trình độ nhất định để tham gia thị trường như những
người tiêu dùng hiểu biết.
Chuyển đổi mô hình quản lý giáo dục đào tạo ở Việt Nam, mà trước hết
là giáo dục đại học, cần được tiến hành một cách thận trọng trên cơ sở tổng
kết lý luận và thực tiễn phát triển thị trường giáo dục đại học ở các quốc gia đi
2
trước, đồng thời so sánh với điều kiện thực tiễn và mục tiêu phát triển của
Việt Nam để có sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo, phù hợp.
Mặc dù có điều kiện rất khác biệt về văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội,
song Mỹ và Nhật Bản đều phát triển rất thành công thị trường giáo dục đại
học, và hơn thế, hai quốc gia này đã biến thành tựu giáo dục của mình thành
động lực quan trọng tạo ra sự phát triển đột phá về kinh tế. Kinh nghiệm phát
triển thị trường giáo dục đại học của Mỹ và Nhật Bản là những bài học quý,
có giá trị tham khảo trong quá trình phát triển nền giáo dục đại học nước ta.
Với ý nghĩa đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Phát triển thị trường giáo dục đại
học ở Mỹ, Nhật Bản và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” làm đề tài luận
tháng 12/2008. Cuốn sách tập hợp bài nghiên cứu của nhiều tác giả với nội
dung xoay quanh việc đánh giá cao những đổi mới mạnh mẽ, sáng tạo, dứt
khoát về môi trường giáo dục đại học Việt Nam đầu thế kỷ XX và yêu cầu đổi
mới môi trường giáo dục đại học giai đoạn hiện nay. Trong tham luận của
mình, các nhà khoa học cũng đề cập, mang tính gợi mở, về một môi trường
giáo dục đại học vận hành theo cơ chế thị trường.
- “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đại học và cao đẳng
Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học do Ban liên lạc các trường đại học và
cao đẳng Việt Nam tổ chức tháng 2/2011. Cuốn sách tập hợp bài nghiên cứu
của nhiều tác giả xoay quanh việc đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý
nhà nước đối với giáo dục đại học, cao đẳng ở Việt Nam nhằm đảm bảo chất
lượng dạy học và nâng cao tính hiệu quả về kinh tế.
Ngoài những công trình lớn kể trên, có rất nhiều bài nghiên cứu độc lập
của các nhà khoa học trong và ngoài nước đề cập tới việc phát triển thị trường
giáo dục đại học ở Việt Nam dưới nhiều góc độ khác nhau, trong đó có ý kiến
4
ủng hộ và có cả những ý kiến phản đối việc phát triển thị trường giáo dục đại
học.
Như vậy, mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu, nhưng chưa công
trình nào khai thác một cách có hệ thống kinh nghiệm phát triển thị trường
giáo dục đại học ở Mỹ và Nhật Bản, đối chiếu với điều kiện thực tiễn và mục
tiêu phát triển của Việt Nam để rút ra các bài học kinh nghiệm có giá trị tham
khảo, vận dụng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Thông qua khảo sát thực tiễn phát triển thị
trường giáo dục đại học ở Mỹ, Nhật Bản, đối chiếu với điều kiện thực tiễn và
mục tiêu phát triển của Việt Nam, rút ra những bài học kinh nghiệm có giá trị
tham khảo và đề xuất một số gợi ý chính sách nhằm góp phần phát triển thành
công thị trường giáo dục đại học ở Việt Nam.
thần kỳ trong một vài thập niên gần đây, mà một trong những nguyên nhân
mang lại sự phát triển thần kỳ đó chính là việc cải cách hệ thống giáo dục.
Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển giáo dục đại học của những quốc gia nói
trên sẽ cung cấp những bài học bổ ích cho việc phát triển thị trường giáo dục
đại học ở Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy
vật của chủ nghĩa Mác – Lênin. Do phạm vi nghiên cứu rộng và phức tạp, tác
giả sử dụng phổ biến phương pháp trừu tượng hóa khoa học nhằm gạt bỏ
những vấn đề ít liên quan, tập trung làm rõ đối tượng nghiên cứu là thị trường
giáo dục đại học.
6
Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng những phương pháp nghiên cứu
thường dùng trong lĩnh vực khoa học xã hội như: kết hợp lôgic với lịch sử,
thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, …
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống những vấn đề lý luận về phát triển thị trường giáo dục đại
học.
- Rút ra những bài học kinh nghiệm phát triển thị trường giáo dục đại
học ở Mỹ, Nhật Bản.
- Đưa ra một số gợi ý về chính sách phát triển thị trường giáo dục đại
học ở Việt Nam hiện nay.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
được kết cấu thành 3 chương (8 tiết).
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phát triển thị trường giáo dục đại
học
Chương 2: Thực trạng phát triển thị trường giáo dục đại học ở Mỹ và
Nhật Bản
nước, thị trường khu vực và thị trường toàn cầu. Theo tính chất của các quan
hệ kinh tế có thị trường cạnh tranh tự do, thị trường độc quyền. Theo đối
tượng hàng hóa, thị trường được phân loại đa dạng nhất, có thị trường hàng
hóa và dịch vụ thông thường (phục vụ sinh hoạt), thị trường sức lao động, thị
trường khoa học công nghệ, thị trường tài chính, … thị trường giáo dục là một
loại thị trường theo cách phân loại này.
8
Thị trường giáo dục đào tạo là tổng hợp các quan hệ kinh tế gắn kết
người cung cấp với người sử dụng dịch vụ giáo dục đào tạo dựa trên sự điều
tiết của các quy luật kinh tế khách quan. Giáo dục đào tạo cũng được chia ra
thành nhiều bậc học, từ mầm non, tiểu học, trung học tới đại học và sau đại
học. Trong phạm vi nghiên cứu luận văn của mình, tác giả chỉ đề cập tới thị
trường giáo dục đại học.
Để làm rõ nội hàm khái niệm thị trường giáo dục đại học cần chỉ ra các
yếu tố cấu thành nó. Thị trường giáo dục đại học cũng giống các loại thị
trường khác bởi đều chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quan, tuy
nhiên nó được phân biệt với các loại thị trường khác bởi đối tượng được trao
đổi trên thị trường và chủ thể thị trường.
Đối tượng được trao đổi trên thị trường giáo dục đại học chính là dịch
vụ giáo dục đại học, với tư cách là một hàng hóa đặc biệt. Giáo dục đại học
trong cơ chế thị trường cũng là một hàng hóa bởi nó là sản phẩm do lao động
của con người tạo ra, người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ là
những chủ thể độc lập. Giống như mọi hàng hóa khác, dịch vụ giáo dục đại
học có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng.
Giá trị dịch vụ giáo dục đào tạo chính là hao phí lao động xã hội cần
thiết để tạo ra nó, bao hàm cả hao phí lao động quá khứ kết tinh trong trường
sở, tài liệu nghiên cứu, phương tiện dạy học, các công cụ hỗ trợ cần thiết và
hao phí lao động sống của giáo viên, cán bộ quản lý, nhân viên phục vụ trong
nhà trường …Giá trị sử dụng của dịch vụ giáo dục đại học chính là công dụng
10
đến lĩnh vực sản xuất, cung ứng mặt hàng đó. Thị trường giáo dục đại học có
sự khác biệt, là một loại hình dịch vụ, quá trình "sản xuất" gắn liền với quá
trình "tiêu dùng". Nói cách khác, kết quả của quy trình sản xuất (cung cấp
dịch vụ) được thể hiện ngay trên sự biến đổi người tiêu dùng về tri thức, kĩ
năng, bản lĩnh, thái độ, Nhận thức đặc trưng này là cơ sở xác định nội dung
phát triển thị trường giáo dục đại học, luôn có sự gắn bó mật thiết giữa phát
triển hệ thống các trường đại học, các loại hình dịch vụ giáo dục đại học với
phát triển đội ngũ sinh viên.
Thứ hai, thị trường giáo dục đại học luôn gắn bó mật thiết với thị
trường sức lao động. Thị trường sức lao động xuất hiện từ rất sớm để đáp ứng
nhu cầu khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực xã hội phục vụ sản xuất,
và khi thị trường sức lao động phát triển tới mức đặt ra nhu cầu về một nguồn
nhân lực trình độ cao, nó đòi hỏi sự ra đời của thị trường giáo dục đại học,
bằng cách đưa các quan hệ thị trường vào cải tạo lĩnh vực giáo dục đại học
theo mô hình quản lý hành chính truyền thống. Như vậy, ngay từ đầu, thị
trường giáo dục đại học ra đời đã gắn bó mật thiết với thị trường sức lao
động, và trong toàn bộ quá trình phát triển, những vận động, biến đổi trên thị
trường sức lao động đều nhanh chóng làm gây ra những chuyển biến rõ ràng
trên thị trường giáo dục đại học. Nhận thức đặc trưng này, cho phép các quốc
gia xây dựng chính sách phát triển thị trường giáo dục đại học đồng bộ với
phát triển thị trường sức lao động để mang lại hiệu quả hoạt động cao nhất
cho cả 2 loại thị trường này.
Thứ ba, người sử dụng không hoàn toàn được tự do lựa chọn dịch vụ
theo ý mình. Đối với hàng hóa thông thường, người trực tiếp tiêu dùng hàng
hóa thường là người duy nhất thụ hưởng giá trị sử dụng của hàng hóa, do vậy
họ toàn quyền tự do lựa chọn loại hàng hóa thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của
11
khoa học công nghệ, sức lao động, …làm cho các đối tượng này dịch chuyển
một cách năng động dưới sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quan, đạt
được hiệu quả khai thác, sử dụng cao. Nền kinh tế thị trường hiện đại đã thừa
nhận và khẳng định sự cần thiết coi khoa học công nghệ và sức lao động là
đối tượng hàng hóa, thì việc sản sinh ra sản phẩm khoa học công nghệ và
nguồn nhân lực trình độ cao cũng cần được vận hành theo cơ chế thị trường.
Nói cách khác, việc phát triển thị trường giáo dục đại học là đòi hỏi khách
quan để phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại.
1.2.1.2. Do tác động của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế
Trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, giáo dục nói chung, giáo dục
đại học nói riêng, được nhiều quốc gia coi là loại hình dịch vụ xuất khẩu
mang lại giá trị gia tăng cao. Các nước phát triển đứng đầu là Mỹ, Anh, Úc,
Đức đã xuất khẩu giáo dục đại học ra toàn thế giới. Ở Đông Nam Á,
Singapore và Thái Lan cũng đang tìm cách chiếm lĩnh thị trường khu vực đối
với loại hình dịch vụ này. Trên thị trường Việt Nam, mấy năm gần đây, hội
thảo du học luôn đứng đầu bảng về mật độ, với sự cạnh tranh của các nhà xuất
khẩu giáo dục. Theo thống kê của Cục Đào tạo với nước ngoài (Bộ GD&ĐT),
nước ta hiện có trên 100.000 du học sinh theo học tại 49 quốc gia, vùng lãnh
thổ, trong đó khoảng 90% đi học bằng kinh phí tự túc [28]. Như vậy, người
Việt Nam đang bỏ tiền ra để sử dụng dịch vụ giáo dục đại học của nước
ngoài, và các nhà xuất khẩu giáo dục cũng tìm mọi cách để phục vụ tận nơi
đối với nhu cầu du học tại chỗ của sinh viên Việt Nam. Thực tiễn trên đòi hỏi
chúng ta phải phát triển thị trường giáo dục đại học càng sớm càng tốt, một
13
mặt nhằm phát huy mọi nguồn lực để đáp ứng nhu cầu học tập của sinh viên
trong nước, mặt khác giúp nền giáo dục đại học nước ta có thể hội nhập với
khu vực và toàn cầu.
1.2.1.3. Do yêu cầu huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho
dịch vụ này. Môi trường pháp lý cũng đồng thời là công cụ để nhà nước quản
lý, điều tiết thị trường giáo dục đại học nhằm định hướng các mục tiêu quốc
gia về giáo dục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Tạo lập môi trường
pháp lý là xây dựng, củng cố hệ thống pháp luật, nâng cao năng lực hoạt động
của cơ quan hành pháp và giáo dục nhận thức, hình thành thói quen hành
động theo pháp luật của các chủ thể trên thị trường giáo dục đại học.
Môi trường kinh tế cho phát triển thị trường giáo dục đại học là tổng
thể các quan hệ về mặt lợi ích giữa người cung ứng và người sử dụng dịch vụ
giáo dục đại học cùng với những quan hệ phức tạp về mặt lợi ích giữa các lực
lượng tham gia cung ứng và phân phối loại hình dịch vụ đặc biệt này. Môi
trường kinh tế lành mạnh tạo điều kiện huy động và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực để phát triển thị trường giáo dục đại học, trái lại môi trường kinh tế
thiếu lành mạnh sẽ kìm hãm sự phát triển của thị trường này. Tạo lập môi
trường kinh tế lành mạnh cho phát triển thị trường giáo dục đại học thực chất
là tạo điều kiện để các lực lượng xã hội tham gia thị trường này một cách tự
do, bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh dưới sự chi phối của các quy luật kinh tế
khách quan, nhất là quy luật giá trị. Khi môi trường kinh tế lành mạnh được
xác lập, người học sẽ được hưởng dịch vụ tương xứng với giá cả của nó, các
lực lượng tham gia cung ứng dịch vụ giáo dục đại học sẽ được hưởng lợi ích
15
kinh tế tương xứng với kết quả lao động của mình, sự cạnh tranh tự do cũng
làm cho chất lượng dịch vụ giáo dục đại học ngày càng được nâng cao.
Môi trường văn hóa xã hộicho phát triển thị trường giáo dục đại học là
tổng thể các giá trị truyền thống, thói quen ứng xử, phong tục tập quán của xã
hội có liên quan tới hoạt động giáo dục đại học. Giáo dục nói chung và giáo
dục đại học nói riêng, bản thân nó đã là bộ phận cấu thành của nền văn hóa,
chịu sự chi phối trực tiếp của môi trường văn hóa. Quan điểm văn hóa truyền
thống của một quốc gia có thể thừa nhận hoặc không thừa nhận thị trường
giáo dục đại học, dư luận xã hội có thể ủng hộ hoặc phản đối việc phát triển
Phát triển hệ thống các trường cao đẳng, đại học trong cơ chế thị trường
đòi hỏi coi nhà trường là một chủ thể độc lập, có quyền tự chủ về kinh tế,
nhân sự và nội dung chương trình đào tạo. Tức là, bên cạnh khối trường công
lập, nhà nước cần có cơ chế thông thoáng và tạo điều kiện thuận lợi cho mọi
thành phần kinh tế được thành lập các trường cao đẳng, đại học khi hội đủ
những tiêu chí cần thiết. Các trường có quyền tuyển chọn, đãi ngộ và sử dụng
đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục theo cơ chế thị trường. Ngoài
khung chương trình bắt buộc, các trường được tự do xác định nội dung,
chương trình đào tạo và cạnh tranh lành mạnh để thu hút sinh viên bằng chính
thương hiệu, chất lượng đào tạo và mức học phí riêng. Như vậy, phát triển hệ
thống trường cao đẳng, đại học là tạo ra cơ chế thông thoáng để huy động mọi
thành phần kinh tế tham gia thành lập trường nhằm có một hệ thống nhà
trường phong phú về số lượng, đa dạng về loại hình, lĩnh vực đào tạo, mức
học phí, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập của mọi đối tượng sinh
viên.
17
Thứ hai, phát triển đội ngũ sinh viên, với tư cách là chủ thể tiêu dùng
dịch vụ giáo dục đại học. Nhu cầu học đại học đang gia tăng rất nhanh trong
thời gian gần đây, tuy nhiên để có một thị trường giáo dục đại học hoạt động
hiệu quả, đáp ứng đòi hỏi việc đào tạo một nguồn nhân lực chất lượng cao
cho xã hội thì đội ngũ sinh viên cần được phát triển một cách tự giác chứ
không phải nảy sinh tự phát.
Phát triển đội ngũ sinh viên là nhằm tạo ra một đội ngũ sinh viên có số
lượng phù hợp, chất lượng đảm bảo, cơ cấu cân đối theo chiến lược quốc gia
về phát triển nguồn nhân lực.
Phát triển số lượng sinh viên là làm tăng lượng người có đủ điều kiện
về kiến thức, kinh tế để tham gia học đại học. Để tăng số người có đủ điều
kiện kiến thức, giáo dục phổ thông cần được mở rộng, thậm chí phổ cập giáo
dục phổ thông nếu trình độ phát triển và điều kiện bảo đảm của nền kinh tế
dục đại học phù hợp với yêu cầu tạo nguồn nhân lực cho nền kinh tế.
Phát triển các dịch vụ giáo dục đại học trong cơ chế thị trường đòi hỏi
phát huy tối đa những tác động tích cực của cơ chế thị trường trên cơ sở nâng
cao tính tự chủ của các trường đại học. Nhu cầu trên thị trường sức lao động
sẽ là tín hiệu để người học lựa chọn loại dịch vụ giáo dục đại học, và nhu cầu
của người học là tín hiệu để nhà trường cung cấp loại hình dịch vụ phù hợp.
Việc tự do lựa chọn ngành học, trường học của sinh viên cũng tạo ra cơ chế
cạnh tranh lành mạnh buộc các trường phải nâng cao chất lượng phục vụ của
mình.
19
Tuy nhiên bên cạnh những tác động tích cực, cơ chế thị trường tất yếu
cũng tồn tại nhiều hạn chế mà điều dễ nhận thấy nhất là khả năng mất cân đối
trong cơ cấu nhân lực. Việc chạy theo các ngành đào tạo được cho là hấp dẫn
với kỳ vọng về một công việc tốt và mức thu nhập cao sẽ dẫn tới một số
ngành đào tạo phát triển vượt quá nhu cầu thực tế của xã hội, trong khi một số
lĩnh vực đào tạo thiết yếu lại không được đầu tư tương xứng. Do vậy, phát
triển các dịch vụ giáo dục đại học đòi hỏi có sự can thiệp của nhà nước bằng
cách hỗ trợ, khuyến khích phát triển những loại hình dịch vụ đào tạo cần thiết,
tạo ra một cơ cấu cân đối về các ngành, lĩnh vực đào tạo, phù hợp với yêu cầu
phát triển nguồn nhân lực của xã hội.
1.2.2.3. Định hướng, điều tiết sự phát triển thị trường giáo dục đại học
Lý thuyết kinh tế thị trường hiện đại khẳng định không tồn tại một thị
trường tự do thuần túy, nhà nước luôn phải can thiệp để định hướng về mục
tiêu phát triển, điều tiết để khắc phục những hạn chế nảy sinh một cách tự
phát, đảm bảo thị trường hoạt động lành mạnh.
Định hướng phát triển thị trường giáo dục đại học là xác định mục tiêu
chiến lược và sử dụng tổng hợp các nguồn lực của nhà nước để tác động theo
hướng dẫn dắt các lực lượng tham gia thị trường giáo dục đại học hành động
nhằm đạt tới mục tiêu chiến lược đã xác định. Việc xác định mục tiêu chiến