ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trần Đăng Quỳnh SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH KINH TẾ CỦA MỸ ĐỐI VỚI
KHU VỰC CHÂU Á – THÁI BÌNH DƢƠNG NHỮNG NĂM
ĐẦU THẾ KỶ 21 VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Hà Nội - 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
MỞ ĐẦU 4
CHƢƠNG 1: CÁC NHÂN TỐ CƠ BẢN QUY ĐỊNH SỰ ĐIỀU CHỈNH
CHÍNH SÁCH KINH TẾ CỦA MỸ ĐỐI VỚI KHU VỰC CA – TBD
TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ 21 9
1.1. Sự thay đổi của bối cảnh quốc tế 9
1.1.1. Sự tăng tốc của toàn cầu hóa và khu vực hóa 9
1.1.2. Môi trường hòa bình, ổn định và phát triển tiếp tục được đẩy mạnh
14
1.2. Sự thay đổi và phát triển năng động của khu vực CA – TBD 15
1.2.1. Sự trỗi dậy của Trung Quốc 18
1.2.2. ASEAN và các động thái phối hợp của ASEAN trong các tiến trình
Đông Á 20
1.3. Yêu cầu nội tại trong sự phát triển của Mỹ 26
1.3.1. Nguồn lực 27
1.3.2. Cơ cấu kinh tế 28
1.3.3. Ảnh hưởng đối với thế giới 30
1.3.4. Quyền lực của Mỹ và các lợi ích mới ở CA – TBD 31
CHƢƠNG 2: SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH KINH TẾ CỦA MỸ ĐỐI
VỚI KHU VỰC CA – TBD TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ 21 35
2.1. Thực trạng và sự điều chỉnh chính sách kinh tế chủ yếu của Mỹ đối với
khu vực CA – TBD trong những năm đầu thế kỷ 21 35
2.1.1. Chính sách thương mại 38
2.1.2. Chính sách đầu tư 44
2.1.3. Chính sách hợp tác kinh tế 53
2.2. Sự điều chỉnh chính sách kinh tế của Mỹ với các đối tác chủ yếu 54 2
2.2.1. Các nước lớn trong khu vực 54
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Tiếng việt
AFTA
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
ANZUS
Hiệp ƣớc an ninh Úc - New Zealand - Mỹ
APEC
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dƣơng
ARF
Diễn đàn An ninh khu vực
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
AU
Liên minh châu Phi
BTA
Hiệp định thƣơng mại song phƣơng
CA - TBD
Châu Á - Thái Bình Dƣơng
EFTA
Khu vực tự do thƣơng mại châu Âu
EU
Liên minh châu Âu
FDI
Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
FTA
Khu vực mậu dịch tự do
GATT
Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch
Trade Center) tại New York - biểu tƣợng của sức mạnh kinh tế, chính trị và
quân sự Mỹ.
Sự kiện 11/9 đƣợc coi là cột mốc đánh dấu sự thay đổi hết sức quan
trọng trong đời sống kinh tế - chính trị nƣớc Mỹ và quốc tế, tác động và ảnh
hƣởng sâu sắc tới khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng (CA - TBD). Sau sự
kiện này, Chính quyền Mỹ tăng cƣờng triển khai các chính sách nhằm củng
cố, duy trì vị trí siêu cƣờng duy nhất của mình, trong đó hƣớng trọng tâm đặt
vào CA - TBD.
CA - TBD là khu vực phát triển năng động nhất và là động lực kinh tế
toàn cầu, song cũng là nơi tập trung nhiều nhất các tranh chấp về lợi ích và
xung đột tiềm tàng. Tại khu vực này, Trung Quốc, nền kinh tế phát triển nhanh
nhất thế giới trong hơn một thập kỷ nay, đang trỗi dậy và là nƣớc có khả năng
thách thức vai trò, giá trị Mỹ trong tƣơng lai.
Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực CA - TBD, đang ngày càng
nâng cao vị thế địa - chính trị bởi sự phát triển của đất nƣớc, nền kinh tế phát
triển với tốc độ cao và ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực,
thế giới. Tuy nhiên, trong quá trình đó, nền kinh tế Việt Nam cũng đứng trƣớc
nhiều thách thức trong đó có thách thức xuất phát từ bối cảnh khu vực và sự
điều chỉnh chiến lƣợc, chính sách của Mỹ và các nƣớc lớn. 5
Trong bối cảnh Việt Nam tăng cƣờng quan hệ với Mỹ và tăng cƣờng vị
thế của mình trên trƣờng quốc tế, việc hiểu rõ đƣợc chính sách kinh tế hiện tại
của Mỹ đối với CA – TBD, nhận diện đƣợc chiều hƣớng phát triển của nó và
những tác động, ảnh hƣởng tới nền kinh tế Việt Nam… là yêu cầu hết sức cần
thiết nhằm đảm bảo lợi ích của Việt Nam trong quan hệ kinh tế Việt - Mỹ nói
riêng và trong quan hệ kinh tế quốc tế nói chung. Bởi vậy, đề tài “Sự điều
chỉnh chính sách kinh tế của Mỹ đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng
những năm đầu thế kỷ 21 và tác động của nó đến Việt Nam” đƣợc tác giả
tài chính, kinh tế đối ngoại, giáo dục, khoa học công nghệ, chính sách công
nghiệp, nông nghiệp ; “Hoa Kỳ: kinh tế và quan hệ quốc tế” do Tiến sĩ
Nguyễn Thiết Sơn chủ biên, phân tích và nghiên cứu nền kinh tế Mỹ cùng
những mối quan hệ kinh tế của đất nƣớc này: Chính sách knh tế Mỹ đối với
Liên Bang Nga và Trung Quốc trong những năm 90. Chiến lƣợc toàn cầu của
Mỹ. Chiến tranh Iraq và giới hạn sức mạnh của Mỹ ; “Hoa Kỳ - Xu hƣớng
chiến lƣợc kinh tế kể từ kết thúc chiến tranh lạnh” do Tiến sĩ Đỗ Lộc Diệp
chủ biên, phân tích những nhân tố quy định và xu hƣớng thay đổi chiến lƣợc
của Mỹ sau chiến tranh lạnh, những điều chỉnh về kinh tế trong kết cấu hạ
tầng, cơ cấu kinh tế, đầu tƣ nƣớc ngoài, quan hệ thƣơng mại …Tuy nhiên,
bƣớc vào những năm đầu thế kỷ 21, tình hình thế giới và khu vực diễn biến
nhanh chóng, phức tạp; sự hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực của Việt Nam
ngày càng sâu hơn làm phát sinh nhiều vấn đề liên quan tới lợi ích quốc gia của
Việt Nam. Chính sách kinh tế của Mỹ đối với khu vực CA - TBD và với Việt
Nam từ đó đến nay cũng biến chuyển khá mạnh mẽ với những yếu tố mới mang
tính chiến lƣợc, lâu dài. Việc nghiên cứu đề tài này vì thế là phù hợp, không
trùng lặp và rất cần thiết. Đề tài kế thừa các nghiên cứu đã có nhằm đạt kết quả
tốt nhất.
3 – Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 7
Mục đích nghiên cứu:
Đề tài đƣợc thực hiện với mục đích làm rõ những sự điều chỉnh chính
sách kinh tế cơ bản của Mỹ đối với khu vực CA - TBD và tác động, ảnh
hƣởng tới lợi ích quốc gia của Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích, đánh giá sự điều chỉnh chính sách kinh tế của Mỹ đối với
khu vực CA – TBD trong những năm đầu thế kỷ 21.
- Nhận diện chiều hƣớng mới trong chính sách kinh tế của Mỹ đối với
Chƣơng 2 – Sự điều chỉnh chính sách kinh tế của Mỹ đối với khu vực
CA – TBD những năm đầu thế kỷ 21
Chƣơng 3 – Tác động của sự điều chỉnh chính sách kinh tế của Mỹ đối
với Việt Nam và một số khuyến nghị về đối sách kinh tế của ta 9
CHƢƠNG 1:
CÁC NHÂN TỐ CƠ BẢN QUY ĐỊNH SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH
KINH TẾ CỦA MỸ ĐỐI VỚI KHU VỰC CA – TBD
TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ 21
1.1. Sự thay đổi của bối cảnh quốc tế
1.1.1. Sự tăng tốc của toàn cầu hóa và khu vực hóa
Dƣới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại,
nền kinh tế thế giới phát triển cả về trình độ lẫn quy mô chƣa từng thấy. Kinh
tế trở thành yếu tố có ý nghĩa chi phối trong các mối quan hệ quốc tế. Tiến
trình toàn cầu hóa, khu vực hóa cũng đƣợc thúc đẩy mạnh mẽ với sự hình
thành các thiết chế, tổ chức tài chính – tiền tệ, thƣơng mại thế giới; các tổ
chức hợp tác, liên kết kinh tế, thƣơng mại ở khắp các châu lục. Toàn cầu hóa
và khu vực hóa do đó ngày càng hiện diện nhƣ hai cấp độ khác nhau của xu
thế nhất thể hóa kinh tế thế giới. Xu thế nhất thể hóa kinh tế thế giới và của
khoa học – công nghệ hiện đại đã tác động mạnh đến quá trình hoạch định
chính sách của các nƣớc. Sự thừa nhận và chú trọng ƣu tiên phát triển kinh tế
- mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia là hệ quả của sự tác động đó.
Toàn cầu hoá đƣợc nói đến ở đây trƣớc hết và chủ yếu là toàn cầu hoá
kinh tế. "Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng
nhiều nƣớc tham gia, xu thế này đang bị một số nƣớc phát triển và các tập
đoàn kinh tế tƣ bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa
có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh", vừa
dân ở các nƣớc đang phát triển. Hiện nay, loài ngƣời phải đối mặt với rất
nhiều vấn đề mạng tính toàn cầu, điển hình là vấn đề môi trƣờng, dân số hay 11
dịch bệnh và quá trình toàn cầu hóa đã tạo ra khả năng cho các quốc gia, các
dân tộc có thể phối hợp và chia sẻ với nhau các nguồn lực để giải quyết các
vấn đề nan giải đó.
Bên cạnh những cái đƣợc do toàn cầu hóa mang lại thì các chủ thể tham
gia quá trình này cũng phải chịu những thách thức không nhỏ do toàn cầu hóa
sinh ra. Những thách thức đó có nhiều, trong đó không thể không kể đến tình
trạng bị tổn thƣơng, thậm chí nghèo đi của nền kinh tế ở những quốc gia
không xác định đƣợc chiến lƣợc phát triển phù hợp, không đủ sức chốn đỡ
trƣớc sự cạnh tranh quyết liệt mang tính toàn cầu; bất công xã hội có thể bị
tăng lên; vấn đề bản sắc văn hóa – dân tộc bị mai một Các nƣớc kém phát
triển cũng nhƣ các nƣớc đang phát triển rất dễ bị thua thiệt do toàn cầu hóa
bởi khả năng cạnh tranh yếu, trình độ công nghệ - kỹ thuật thấp, khả năng
quản lý kém, vốn lại bị thiếu trầm trọng. Một trong những vấn đề đặc biệt
nghiêm trọng đang nổi lên hiện nay là nạn nghèo đói và cuộc chiến chống lại
các nó tại các quốc gia, nhất là những quốc gia đang và chậm phát triển. Sự
phân hóa giàu nghèo và gia tăng bất công không phải chỉ gắn với toàn cầu hóa
mà có nguồn gốc từ bản chất của chế độ phân phối thu nhập. Tuy nhiên, toàn
cầu hóa đã góp phần làm sâu sắc hơn tình trạng phân hóa giàu nghèo.
Toàn cầu hóa kinh tế sẽ là xu hƣớng phát triển mạnh và lâu dài vì nó
phản ánh quan hệ sản xuất mới phù hợp với lực lƣợng sản xuất đã phát triển
lên trình độ toàn cầu. Quá trình này, một mặt, mở rộng địa bàn hợp tác và
cạnh tranh giữa các nƣớc ra toàn thế giới. Về mặt kinh tế, biên giới địa lý giữa
các quốc gia ngày càng giảm ý nghĩa. Khả năng ngày cảng giảm sự hạn chế
về không gian kinh tế là điều kiện tiên quyết giảm thiểu khả năng chiến tranh
vũ lực giữa các cƣờng quốc, đồng thời tăng mạnh vai trò của công nghệ mũi
một khối thống nhất, cùng nhau hành động, cùng nhau chia sẻ, hỗ trợ lẫn nhau
để đạt đƣợc mục tiêu chung của mình. Bƣớc tiếp theo của AU là thúc đẩy tiến 13
trình hội nhập kinh tế quốc tế, tăng trƣởng kinh tế và phát triển bền vững ở
châu Phi.
Về dài hạn, khu vực hóa chính là bƣớc chuẩn bị để thực hiện toàn cầu
hóa. Sự ra đời hàng loạt các tổ chức khu vực và sự phát triển quy mô địa lý
của các tổ chức khu vực trên cơ sở bổ sung các thành viên (chẳng hạn nhƣ
EU), hay hợp nhất các tổ chức khu vực là bƣớc tiến ngày càng gần hơn đến tự
do hóa trên phạm vi toàn cầu. Khu vực hóa là bƣớc đi tất yếu đến toàn cầu
hóa; khu vực hóa càng mạnh sẽ là điều kiện và động lực cho toàn cầu hóa.
Đồng thời sự tăng tốc của toàn cầu hóa cũng sẽ thúc đẩy xu hƣớng khu vực
hóa trên thế giới.
Toàn cầu hóa và khu vực hóa là một xu thế quan trọng và sẽ tiếp tục có
tác động trực tiếp đến việc hoạch định chiến lƣợc đối ngoại của tất cả các
nƣớc. Hệ quả trực tiếp của toàn cầu hóa và khu vực hóa là sự phụ thuộc lẫn
nhau giữa các nền kinh tế phát triển ngày càng cao. Dù mạnh đến thế nào, sự
phát triển và phồn vinh của nƣớc Mỹ vẫn phải phụ thuộc vào sự phát triển của
các nền kinh tế khác.
Toàn cầu hóa kinh tế và nhất thể hóa khu vực đã làm thay đổi căn bản
bối cảnh quốc tế, đã có tác dụng thúc đẩy các hoạt động giao lƣu, hợp tác
quốc tế và đầu tƣ kinh doanh, đem lại cơ hội, tạo ra những điều kiện mới cho
sự phát triển, hợp tác kinh tế xã hội trên phạm vi toàn cầu.
Toàn cầu hoá nói chung, một mặt, là sự tiếp nối, sự khẳng định và hoàn
thiện các khuynh hƣớng đã hình thành từ lâu trong lịch sử thế giới, mặt khác,
nó cũng là một hiện tƣợng mới, bắt đầu bằng toàn cầu hoá về kinh tế, rồi dần
đần lôi cuốn theo toàn cầu hoá về một số lĩnh vực văn hoá và tác động mạnh
mẽ đến chính trị. Từ khi Liên Xô và các nƣớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp
có cảm giác rằng trật tự thế giới “nhất siêu đa cƣờng” với vị trí bá chủ thế giới
của Mỹ tƣởng nhƣ không có một sức mạnh nào có thể ngăn cản nổi. Tuy 15
nhiên, sau sự kiện 11/9, lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, vấn đề khủng bố và
chống khủng bố đã trở thành vấn đề toàn cầu và một sắc thái mới lại xuất hiện
trong bức tranh chung về bối cảnh quốc tế mới thời kỳ hậu chiến tranh lạnh.
Sự kiện 11/9 đƣợc bình luận là sự kiện châm ngòi cho những chuyển biến lớn
trong quan hệ quốc tế và cục diện thế giới những năm đầu thế kỷ 21.
Cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ đã tác động mạnh đến mọi lĩnh
vực trên quy mô toàn thế giới. Tác động đầu tiên là làm cho môi trƣờng hòa
bình, ổn định và hợp tác trở nên rất phức tạp. Thế giới đứng trƣớc tình hình
vô cùng nguy hiểm, có nhiều bất trắc, khó lƣờng. Mỹ có thể đơn phƣơng tiến
hành chiến tranh chống lại bất kỳ nƣớc nào mà Mỹ cho là theo hoặc ủng hộ
chủ nghĩa khủng bố. Với cuộc chiến chống khủng bố nhƣ vậy, Mỹ đã nâng
cao vị trí và vai trò của mình trên trƣờng quốc tế, khẳng định vị trí nhất siêu,
đơn cực đầy sức mạnh chi phối của mình trong các quan hệ quốc tế. Tác động
thứ hai là làm cho nhiều nƣớc, trong đó bao gồm cả các nƣớc lớn phải điều
chỉnh chiến lƣợc và quan hệ của mình. Tác động thứ ba là làm thắt chặt thêm
các quan hệ đồng minh chiến lƣợc của Mỹ với các nƣớc vốn là đồng minh của
Mỹ trên khắp các châu lục, tạo điều kiện cho một số nƣớc trong số đó thay
đổi lập trƣờng đối ngoại và chính sách an ninh của mình.
1.2. Sự thay đổi và phát triển năng động của khu vực CA – TBD
CA - TBD là khu vực phát triển năng động nhất, duy trì mức tăng
trƣởng kinh tế cao nhất, đặc biệt khi bƣớc vào thế kỷ 21, nhiều hình thức hợp
tác kinh tế phát triển nhanh, là động lực của nền kinh tế toàn cầu, đảm bảo sự
tăng trƣởng của nền kinh tế thế giới. Đáng chú ý, trong sự phát triển của khu
vực CA - TBD nói chung, khu vực Đông Á - TBD đã trở thành thị trƣờng
buôn bán lớn nhất thế giới. Nếu không kể Nhật Bản thì Trung Quốc,
lớn và tập trung sự trỗi dậy kinh tế của nhiều nƣớc, qua đó Mỹ có thể dựa vào 17
trào lƣu kinh tế toàn cầu hóa để mở rộng quan hệ mậu dịch ở khu vực đang rất
hấp dẫn đối với Mỹ.
Trong "Chiến lƣợc quốc gia cho thế kỷ 21", Mỹ xác định khu vực CA -
TBD là một nhân tố quan trọng đối với an ninh quốc gia của nƣớc Mỹ. Thực
tế ở khu vực này đang tập trung sự chú ý của nhiều nƣớc lớn và nhiều tổ chức
quốc tế quan trọng. Vì vậy, đây là nơi đang tập trung nhiều mâu thuẫn về lợi
ích có tính chiến lƣợc của một số nƣớc lớn đối trọng với lợi ích quốc gia Mỹ,
đặc biệt những nƣớc đang cạnh tranh với Mỹ để giành quyền khống chế khu
vực này về chính trị và kinh tế.
Khu vực CA - TBD có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với lợi ích của
Mỹ, song các nhà hoạch định chính sách của nƣớc Mỹ cho rằng chính quyền
đƣơng nhiệm của họ đang thiếu một cơ chế an ninh tập thể đối với khu vực
này giống nhƣ ở khu vực châu Âu. Vì vậy, Mỹ đang kiếm tìm một cơ chế an
ninh thích hợp để lôi kéo, ràng buộc chặt chẽ các nƣớc ở khu vực này phục vụ
cho ý đồ củng cố địa vị lãnh đạo trên toàn thế giới của Mỹ trong thế kỷ 21.
Mỹ tích cực thực thi chính sách "can dự toàn diện", tăng cƣờng quan hệ
với các nƣớc; thúc đẩy kinh tế thị trƣờng tự do ở khu vực CA - TBD.
Chiến lƣợc kinh tế của Mỹ ở khu vực CA - TBD cả trƣớc mắt và lâu
dài nhằm biến khu vực này trở thành thị trƣờng tự do hóa kiểu phƣơng Tây
nói chung và tạo ra thị trƣờng cho hàng hóa công nghệ cao của Mỹ nói riêng.
Vì vậy, Mỹ tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế song phƣơng với các nƣớc trong
khu vực, đặc biệt với Nhật Bản; đồng thời, tìm cách thông qua việc nâng cao
vai trò của Diễn đàn hợp tác kinh tế CA - TBD để thúc đẩy tự do buôn bán,
đầu tƣ và hợp tác phát triển ở khu vực. Trên thực tế, mấy năm gần đây, xuất
khẩu của Mỹ sang khu vực này cao hơn gấp đôi so với xuất khẩu sang Liên
minh châu Âu.
19
Quốc là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất và lớn nhất trên
thế giới”. Nhất là hiện nay, sự phát triển của Trung Quốc trong quá trình cải
cách đã tạo ra thị trƣờng rộng lớn cho hàng hóa và đầu tƣ của Mỹ cũng nhƣ
các nƣớc trong khu vực CA - TBD. Sự trỗi dậy của nền kinh tế Trung Quốc
trở thành động lực thúc đẩy kinh tế khu vực phát triển. Từ khi thực hiện cải
cách đến nay, mức tăng trƣởng kinh tế bình quân hàng năm của Trung Quốc
đạt 9,6%, gấp 4 lần so với các nƣớc phát triển trong cùng thời kỳ. Theo số
liệu của Cục thống kê Trung Quốc, năm 2003 và 2004, mức tăng trƣởng kinh
tế Trung Quốc lần lƣợt đạt 10% và 10,1%; năm 2005 là 10,4%, GDP đạt
18.232 tỷ Nhân dân tệ (2.260 tỷ đô la). Năm 2006, GDP tăng 10,7%, đạt
20.940 tỷ Nhân dân tệ (2.627,4 tỷ đô la). Năm 2007, GDP tăng 11,4%, đạt
24.662 tỷ Nhân dân tệ (3.430 tỷ đô la); dự trữ ngoại tệ trên 1.000 tỷ đô la.
Thành công của Trung Quốc xuất phát từ nhiều yếu tố, song nổi lên hai
yếu tố chính: (1) Điều kiện quốc tế đang chuyển đổi (bối cảnh quốc tế hoà
bình, xu hƣớng toàn cầu hoá tiếp tục phát triển, sự phát triển của khoa học
công nghệ…) tạo ra những cơ hội lớn cho sự phát triển kinh tế của Trung
Quốc; (2) Vai trò và ảnh hƣởng của mạng lƣới kinh tế ngƣời Hoa ở hải ngoại.
Nhờ những thành tựu kinh tế đạt đƣợc, ngày nay Trung Quốc đang nổi
lên với tƣ cách nhƣ một cƣờng quốc khu vực có vai trò rất quan trọng ảnh
hƣởng tới sự ổn định và phát triển của khu vực CA - TBD. Đồng thời, sự trỗi
dậy của Trung Quốc cũng ngày càng đe dọa, thách thức địa vị bá chủ của Mỹ
tại khu vực và toàn cầu. Chính quyền Bush, ngay sau khi cầm quyền, tháng
01/2001, đã thực thi chính sách coi Trung Quốc là “đối thủ cạnh tranh chiến
lƣợc” mà Bush theo đuổi từ khi vận động tranh cử. Đây cũng là nét điều chỉnh
cơ bản so với Chính quyền Clinton, coi Trung Quốc là "đối tác chiến lƣợc".
Chính quyền Bush nhanh chóng tăng cƣờng liên minh Mỹ - Nhật, lôi kéo Nga
và Ấn Độ nhằm ngăn chặn khả năng tập hợp lực lƣợng chống Mỹ và thúc đẩy
21
Tiến trình nhất thể hóa Đông Á đƣợc đẩy nhanh bắt nguồn trực tiếp từ
cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ Đông Á năm 1997. Trƣớc cuộc khủng
hoảng đột ngột này, các nƣớc Đông Nam Á bó tay, Mỹ và châu Âu hoặc hờ
hững đứng nhìn, hoặc “khoa chân múa tay” vô trách nhiệm, hoặc dứt khoát
giậu đổ bìm leo, thừa cơ mua tài sản của những nƣớc gặp hại, ngƣợc lại các
nƣớc Đông Á nhƣ Nhật Bản và nhất là Trung Quốc biết khó khăn vẫn dũng
cảm gánh vác trách nhiệm, có những đóng góp đáng kể giúp các nƣớc Đông
Á thoát khỏi khủng hoảng, từ đó làm cho các nƣớc Đông Á đều nhận rõ cần
và có thể giúp đỡ lẫn nhau trong khu vực, ý thức đồng cảm khu vực của các
nƣớc Đông Á do vậy tăng nhanh. Sau đó, nhất thể hóa Đông Á lấy ASEAN
làm chỗ dựa, từ “ASEAN+1” tới “ASEAN+3”, “ASEAN+6”, rồi “Hội nghị
cấp cao Đông Á”, cuối cùng mạnh bƣớc, có đƣợc những tiến triển thực chất.
Dễ nhận thấy mô hình nhất thể hóa Đông Á này dù không phủ định nhất thể
hóa liên Thái Bình Dƣơng hoặc nhất thể hóa liên CA - TBD do Mỹ chủ
trƣơng, song thực chất và hậu quả của nó cũng là muốn tách riêng, song song
tồn tại với hai tiến trình trên.
Trƣớc tiến trình nhất thể hóa Đông Á đƣợc đẩy nhanh, Mỹ tỏ ra “khó
chịu” rõ rệt và không thể làm gì, đã không tích cực ủng hộ, lại khó có thể trực
tiếp ngăn cản, càng khó quyết tâm tham gia.
Thứ nhất, Mỹ lo ngại phạm vi không gian nhất thể hóa Đông Á lớn đến
đâu? Liệu có gạt Mỹ ra ngoài, hình thành một tập đoàn khu vực lớn mang tính
bài xích, đặc biệt là bài xích Mỹ ngoài Liên minh châu Âu? Mỹ là nƣớc CA -
TBD nhƣng không phải là nƣớc Đông Á, cách xác định theo địa lý này khiến
Mỹ không khỏi lo ngại nhất thể hóa Đông Á khởi đầu đã là một tập đoàn khu
vực, hoặc sẽ phát triển thành một tập đoàn khu vực gạt Mỹ ra ngoài. Khi
thành viên Hội nghị cấp cao Đông Á hạn chế ở “10+3” thì mối lo ngại của
Mỹ đặc biệt gia tăng. Mỹ quả thực có lợi ích kinh tế, chính trị và an ninh lớn,
23
Là siêu cƣờng duy nhất trên thế giới, Mỹ vốn không thích các nƣớc nhỏ
yếu khác kết thành tập đoàn khu vực, hình thành cục diện “hợp tung chống
Tần”, nhất là không muốn Đông Á xuất hiện cục diện “hợp tung chống Mỹ”.
Nếu cho rằng Mỹ khởi xƣớng nhất thể hóa kinh tế CA - TBD là một hành vi
của học thuyết đa phƣơng, đó cũng là một “học thuyết đa phƣơng có lựa
chọn” nhƣ Richard Haass từng miêu tả, thậm chí là muốn các nƣớc Đông Á
“liên hoành mƣu sự với Mỹ”. Tháng 8/2004, trong khi bàn tới Cộng đồng
Đông Á, Ngoại trƣởng Mỹ Colin Powell nói Mỹ cho rằng không cần thiết xây
dựng Cộng đồng Đông Á, và cảnh cáo Cộng đồng Đông Á đang trong dự định
“không nên làm hại quan hệ hữu nghị lâu dài giữa Mỹ và các bạn châu Á”.
Tháng 1/2006, quan chức cấp cao Mỹ tại APEC, Michael Michalak bình luận:
Mỹ không cho rằng Hội nghị cấp cao Đông Á sẽ làm hại lợi ích của Mỹ, cũng
không cần tham gia tất cả các cuộc hội nghị và đối thoại giữa các nƣớc châu
Á. Ông còn nhấn mạnh tầm quan trọng của quan hệ đối tác liên Thái Bình
Dƣơng. Nói thẳng ra Michael Michalak muốn cảnh cáo tiến trình nhất thể hóa
Đông Á không đƣợc làm hại lợi ích của Mỹ ở Đông Á, Mỹ tạm thời không
tham gia Hội nghị cấp cao Đông Á và tiến trình nhất thể hóa Đông Á, và
muốn xây dựng một tổ chức nhất thể hóa liên Thái Bình Dƣơng chứ không
phải tổ chức nhất thể hóa Đông Á. Từ các góc độ khác nhau, một số học giả
Mỹ cũng viết bài bày tỏ lập trƣờng phản đối nhất thể hóa Đông Á.
Không những thế, “sự khó chịu” của Mỹ đối với nhất thể hóa Đông Á
còn thể hiện trong việc thực thi chính sách cụ thể. Một mặt, Mỹ tìm cách
thông qua chấn hƣng APEC, nhấn mạnh hợp tác trong phạm vi lớn liên châu
Á và liên Thái Bình Dƣơng bao gồm Đông Á, lấy một diễn đàn khổng lồ, hƣ
nhiều thực ít, không phải Đông Á hoặc châu Á, cũng không phải Thái Bình
Dƣơng, từ bên ngoài xói mòn làm tan rã tính hợp pháp về địa lý và đồng cảm
địa lý của nhất thể hóa Đông Á. Đêm trƣớc Hội nghị APEC 2006, Tổng thống