Chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu đối với khu vực châu Á Thái bình dương trong bối cảnh mới (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ BÌNH MINH

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU ĐỐI VỚI
KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG TRONG BỐI CẢNH
MỚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÂU ÂU HỌC

Hà Nội, 2018


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ BÌNH MINH

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU
ĐỐI VỚI KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG
TRONG BỐI CẢNH MỚI

Ngành: Châu Âu học
Mã số:

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐỖ TÁ KHÁNH



Xu hướng chủ đạo của nền chính trị thế giới là hòa bình, hợp tác phát triển mạnh
giữa các chủ thể quốc tế. Quan hệ hợp tác giữa các quốc gia, chủ thể góp phần quan
trọng vào thành tựu chung của thế giới duy trì, phát triển hòa bình, phát triển kinh tế,
xã hội, các lĩnh vực khác của nhân loại. Tuy nhiên, bối cảnh quốc tế và các khu vực
có nhiều thay đổi. Các cuộc bầu cử ở các quốc gia lớn trên thế giới có ảnh hưởng
nhất định đến dường lối đối ngoại và hợp tác của quốc tế cả trên bình diện song
phương và đa phương. Mỗi chủ thể, quốc gia có những đổi thay về chính trị nội bộ
dẫn đến sự hợp tác phát triển giữa các quốc gia có những điều chỉnh khác nhau cho
phù hợp điều kiện thức tế mới.
Liên minh Châu Âu có những điều chỉnh ở mỗi cấp độ, lĩnh vực khác nhau các
chính sách chung của liên minh cũng như của các nước thành viên. Chính sách đối
ngoại chung của EU hình thành và phát triển cùng sự lớn mạnh, liên kết sâu rộng của
Liên minh EU. Thông qua các Hiệp ước khác nhau của EU, chính sách đối ngoại của
EU đã có những thành công và triển khai mạnh mẽ trong quan hệ hợp tác quốc tế của
EU. Năm 2009, Hiệp ước Lisbon có hiệu lực, việc liên kết, hội nhập của Liên minh
châu Âu mạnh mẽ hơn, sâu sắc hơn. Hiệp ước này đồng thời là cơ sở rất quan trọng
cho việc thực thi chính sách đối ngoại của EU với các đối tác quốc tế của liên minh.
Trong sự điều chỉnh chung của chính sách đối ngoại của EU trong bối cảnh quốc tế
mới như thế nào và cụ thể với khu vực châu Á-Thái Bình Dương như thế nào có tầm
quan trọng lớn đối với việc hợp tác phát triển giữa hai chủ thể cũng như góp phần
vào sự phát triển chung của hòa bình, ổn định của thế giới. Việc tìm hiểu về chính
sách đối ngoại của EU nói chung và chính sách đối ngoại của EU đối với khu vực
châu Á-Thái Bình Dương nói riêng trong giai


đoạn hiện nay có ý nghĩa thực tiễn và lí luận lớn đối với Việt Nam. Việc hội nhập
ngày càng chủ động, sâu, mạnh của Việt Nam vào nền kinh tế khu vực và thế giới
cũng cần có những điều chỉnh hợp lý, hài hòa lợi ích quốc gia cũng như các đối tác
cụ thể trong bối cảnh quốc tế mới. Do vậy, đề tài tìm hiểu sâu về chính sách đối
ngoại chung của EU giai đoạn sau năm 2009 đến nay đối với khu vực châu Á-Thái

minh châu Âu và một số gợi ý cho xây dựng cộng đồng an ninh – chính trị ASEAN”,
Viện nghiên cứu Châu Âu. Tác giả đưa ra cái nhìn tổng quan về chính sách an ninh
và đối ngoại chung của EU cùng những điều chỉnh hài hòa với bối cảnh thế giới
mới. Tác giả cũng nhấn mạnh những khuyến nghị hữu ích cho khu vực ASEAN
trong việc hội nhập, liên kết khu vực. Bùi Hồng Hạnh (2010), “Chính sách đối ngoại
và an ninh chung của Liên minh Châu Âu (CFSP)), Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu số
1, 2010. Bài viết đưa ra cái nhìn hay về tiến trình hình thành và một số nội dung chủ
chốt của Chính sách đối ngoại và An ninh chung của châu Âu cũng như đã tập trung
xem xét một số vấn đề và khả năng thực thi chính sách đối ngoại chung trong khuôn
khổ của CFSP hiện nay. Bùi Thị Thu Hà (2001), “ Chính sách đối ngoại và an ninh
chung của EU và tác động đối với an ninh châu Âu”, khóa luận tốt nghiệp. Bài viết
đã đề cập đến quá trình hình thành của CFSP, những vấn đề liên quan đến chính sách
cũng như tác động của chính sách này đối với an ninh châu Âu.
Bức tranh tổng quan về EU và các vấn đề nổi bật có các tác phẩm: Nguyễn
Quang Thuấn (2009), “Quan hệ kinh tế Việt Nam - Liên minh Châu Âu: thực trạng
và triển vọng”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. Cuốn sách phân


tích thực trạng quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - EU từ năm 1995 đến năm 2008
với ba nội dụng chính là thương mại, đầu tư và hợp tác phát triển chính thức. Trên cơ
sở đó sẽ đưa ra những định hướng, giải pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế Việt
Nam - EU cho đến giai đoạn năm 2020. Nguyễn An Hà (Chủ biên) (2013), “Điều
chỉnh chính sách phát triển của một số quốc gia chủ chốt Châu Âu giai đoạn khủng
hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. Cuốn
sách đi sâu vào phân tích sự điều chỉnh chiến lược phát triển của EU giai đoạn tới
năm 2020 trên cơ sở nhận diện bối cảnh mới sau khủng hoảng tài chính, suy thoái
kinh tế toàn cầu và những nhân tố tác động tới khu vực của các quốc gia này. Cuốn
sách đánh giá các tác động, rút ra một số gợi mở cho Việt Nam trong triển khai chiến
lược phát triển bền vững về kinh tế môi trường và xã hội cũng như thúc đẩy quan hệ
hợp tác với EU. Đinh Công Tuấn (2010), “Một số vấn đề chính trị - kinh tế nổi bật

chính sách đối ngoại và an ninh chung. Federiga Bindi, “The Foreign Policy of the
European Union Assessing Europe's Role in the World”, (2010). Cuốn sách đưa ra
cái nhìn tổng quan về chính sách an ninh và đối ngoại chung của EU đồng thời nêu
vai trò quan trọng, đa dạng của EU trên bàn cờ chính trị thế giới. Angelos
Chryssogelos, “The EU’s Crisis of Governance and European Foreign Policy”,
Europe Programme | November 2016. Tác giả đề cập đến chính sách đối ngoại chung
của EU và các nước thành viên cũng như vai trò của các thể chế của liên minh trong
việc tìm tiếng nói đồng thuận về các vấn đề chính trị, quan hệ quốc tế mà EU quan
tâm, tham gia. Cuốn sách chỉ ra sự hạn chế của cơ chế phối hợp giữa các thể chế
của cấp liên minh và các nước


thành viên về hoạch định, thực thi chính sách đối ngoại chung. Nicholas Moussis
(2011), “Access to the European Union: law, economics, policies”. Cuốn sách đã đề
cập đến bức tranh tổng thể về châu Âu. Đưa ra cái nhìn tổng quan về quá trình hội
nhập châu Âu, sự phát triển của Liên minh châu Âu thông qua liên minh thuế quan
và thị trường chung; phân tích các chính sách nội khối và chính sách đối ngoại chung
của EU cũng như nhìn nhận về tiến trình hội nhập của EU. Svein S.Andersen and
Kjell A.Eliassen(2001), “Making Policy in Europe” second edition, SAGE
publications 2001. Cuốn sách đề cập sâu về cơ chế ra quyết định, cách thức hoạch
định chính sách của EU nói chung cũng như việc cho ra đời chính sách an ninh và
đối ngoại chung của EU. Eleanor E.Zeff and Ellen B.Pirro(2001), “The European
Union and the Member States: Cooperation, Coordination and Compromise”, Lynne
Rienner Publishers, 2001. Cuốn sách đề cập đến một số chính sách chung của EU và
đi sâu nghiên cứu về cơ chế phối hợp, chia sẻ chính sách của cả cấp liên minh và cấp
thành viên. Chính sách an ninh và đối ngoại chung của EU được nêu như một tham
khảo chính về sự khó khăn của sự phối hợp chính sách giữa cấp độ liên minh và các
nước thành viên. Ramses A.Wessel(1999), “The European’s Foreign and Security
policy: a Legal Institutional Perspective”, Kluwer Law International the
Hague/Boston/London, 1999. Tác giả đưa ra cái nhìn tổng quan về chính sách an

về một số hoạt động thực tiễn của quan hệ đối ngoại, hợp tác phát triển giữa
các chủ thể; Dự báo chính sách đối ngoại của EU với khu vực châu Á-Thái
Bình Dương cũng như khái quát quan hệ EU-Việt Nam và đưa ra một số
khuyến nghị có thể đối với Việt Nam.


b. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài: chỉ ra được nội dung chủ yếu của chính
sách an ninh và đối ngoại chung của EU giai đoạn 2009 đến nay, tập trung vào
chính sách đối ngoại của EU đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương và đặc
biệt với Việt Nam.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách đối ngoại của Liên minh Châu Âu
đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
- Phạm vi nghiên cứu: Tìm hiểu về Cơ sở hình thành và phát triển chính
sách đối ngoại chung của EU; Đưa ra nội dung chủ yếu của chính sách đối
ngoại EU giai đoạn từ 2009 đến 2018, giai đoạn sau kkhungr hoảng tài chính
và suy thoái kinh tế toàn cầu; Tìm hiểu về chính sách đối ngoại của EU đối
với khu vực châu Á-Thái Bình Dương giai đoạn 2009-2018; khái quát quan
hệ hợp tác giữa EU và Việt Nam và đưa ra một số khuyến nghị có thể cho Việt
Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp cơ bản và mang tính truyền thống như duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, đề tài sẽ áp dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so
sánh để làm sáng tỏ các vấn đề cần được nghiên cứu trong phạm vi đề tài.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
a. Về mặt khoa học: đề tài đưa ra cái nhìn toàn diện về sự hình thành và phát
triển, thực thi chính sách đối ngoại của một quốc gia, chủ thể. Cụ thể là
chính sách đối ngoại chung của Liên minh châu Âu. Các yếu tố ảnh
hưởng, nội hàm của chính sách đối ngoại chung của EU.
b. Về mặt thực tiễn: đề tài đưa ra bức tranh tổng quát về chính sách đối ngoại

Hệ thống các lý thuyết chủ yếu: Về bản chất, các lý thuyết cung cấp một bản
đồ hay khung tham chiếu giúp cho thế giới phức tạp xung quanh chúng ta trở nên dễ
hiểu hơn. Việc chọn lựa lý thuyết nào là một quyết định quan trọng bởi vì mỗi lý
thuyết dựa trên các giả định khác nhau về bản chất của chính trị quốc tế, mỗi lý
thuyết đưa ra các tuyên bố nhân quả khác nhau và mỗi lý thuyết đưa ra một tập hợp
các khuyến nghị khác nhau về chính sách đối ngoại. Chúng ta cần các lý thuyết để
hiểu được cơn bão táp thông tin, thực tiễn cuộc sống, sự vụ diễn ra hàng ngày. Khó
có thể đưa ra một chính sách tốt nếu các nguyên tắc tổ chức cơ bản của người đó sai
lầm, giống như khó có thể xây dựng được các lý thuyết tốt nếu như không hiểu biết
nhiều về thế giới thực. Cách tiếp cận đơn lẻ không thể nắm bắt được tất cả những
điều phức tạp của nền chính trị thế giới đương đại. Các lý thuyết khác nhau giúp
vạch ra


những điểm mạnh và những điểm yếu của chúng và thúc đẩy sự sàng lọc tiếp. Chúng
ta nên hoan nghênh và khuyến khích sự đa dạng của các lý thuyết vê quan hệ quốc tế
đương đại [32].
Trong việc hoạch định, thực thi và nghiên cứu về chính sách đối ngoại có các lý
thuyết chủ yếu được bàn luận đến như: Chủ nghĩa Hiện thực: nhìn nhận thế giới vô
chính phủ, hỗn loạn. Các quốc gia, dân tộc luôn tìm kiếm và vì quyền lực quốc gia
dân tộc mình là trên hết. Từ cổ chí kim, nhiều hoạt động có mục đích của các quốc
gia, dân tộc luôn đề cao tính lợi ích quốc gia lên trên hết. Nhà lãnh đạo của các quốc
gia cũng luôn vì quyền lực và lợi ích của đát nước mình làm kim chỉ nam cho mọi
hoạt động, phát ngôn hay quan hệ hợp tác quốc tế. Người dân hay doanh nghiệp có
thể vì các lợi ích của bản thân hoạt động trao đổi quốc tế nhưng trên hết vẫn không
thể vượt qua lợi ích của quốc gia, dân tộc mình.[10], [11]
Chủ nghĩa Tự do: đề cao việc hợp tác quốc tế, thúc đẩy toàn cầu hóa về thương
mại, đầu tư, hợp tác kinh tế nhằm tạo ra nền hòa bình, ổn định cho thế giới. Thế giới
hiện đại được phát triển phồn thịnh, hòa bình được gìn giữ thành xu hướng chủ đạo
cũng nhờ vai trò của hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực từ kinh tế, thương mại, đầu tư

công cụ quyền lực bao gồm: lực lượng vũ trang, các cơ quan thực thi pháp luật và
tình báo, các cơ quan chính phủ khác nhau giành riêng cho ngoại giao song phương
và công cộng, viện trợ nước ngoài, kiểm soát tài chính quốc tế.
Khái niệm an ninh và an ninh quốc gia: An ninh, hiểu theo một nghĩa đơn giản
nhất, là khả năng giữ vững sự an toàn trước các mối đe dọa. An ninh có ý nghĩa là sự
tồn tại, an toàn, bình an, không có nỗi lo, rủi ro, mối nguy, sự


cố hay tổn thất về người và của. Ngược lại với an ninh là mất an ninh là rủi ro, là
nguy hiểm, là tổn thất… Tuy nhiên, an ninh không phải là một khái niệm tĩnh mà là
một khái niệm động và trải qua nhiều thay đổi về cách hiểu, cũng như cách tiếp cận.
An ninh quốc gia là vấn đề hệ trọng, quyết định đến vận mệnh của quốc gia, dân tộc
nên mọi quốc gia đều phải tập trung củng cố và xây dựng, tăng cường tiềm lực an
ninh và bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia. Đây là việc làm tất yếu và thường xuyên,
là nghĩa vụ thiêng liêng của mọi công dân ở quốc gia đó. Trong lịch sử nhân loại, an
ninh quốc gia bao giờ cũng là vấn đề được đặt lên hàng đầu, là nhiệm quan trọng
nhất. Các quốc gia luôn tìm mọi cách tăng cường quốc phòng, tiềm lực quân sự của
mình, chạy đua vũ trang để tăng cường khả năng tự bảo vệ cho mình. An ninh quốc
gia không nên hiểu theo nghĩa hẹp là bảo vệ nhà nước trước những cuộc tấn công
quân sự qua biên giới lãnh thổ mà an ninh quốc gia còn phải đối mặt với những thách
thức phi truyền thống. An ninh quân sự: An ninh quân sự ngụ ý khả năng của một
quốc gia để bảo vệ chính mình, và ngăn chặn sự xâm lược quân sự từ bên ngoài.
Ngoài ra an ninh quân sự bao hàm khả năng của một quốc gia để thực thi các lựa
chọn chính sách của mình bằng cách sử dụng vũ lực quân sự. An ninh chính trị: là
một thành phần quan trọng của an ninh quốc gia, an ninh chính trị là sự ổn định của
trật tự xã hội. An ninh chính trị cùng với an ninh quân sự và an ninh xã hội tạo nên
một khuôn khổ cho an ninh quốc gia. An ninh chính trị liên quan đến bảo vệ chủ
quyền đất nước và hệ thống chính trị, sự an toàn xã hội từ các mối đe dọa nội bộ bất
hợp pháp và các mối đe dọa hay áp lực từ bên ngoài. An ninh kinh tế: Trong hệ
thống phức tạp hiện nay của thương mại quốc tế, đặc trưng bởi các thỏa thuận đa

Châu Âu Thống nhất vào năm 1987, Cộng đồng châu Âu được hình thành từ Tổ
chức Hợp tác chính trị Châu Âu có được nền tảng thế chế và pháp lý riêng của mình.
[4]


1.2.1. Bối cảnh ra đời chính sách an ninh và đối ngoại chung của EU:
1.2.1.1. Bối cảnh quốc tế: Tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến
động cũng tác động mạnh đến châu Âu. Sự chấm dứt đối đầu Xô – Mỹ, sự sụp
đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu tạo ra khoảng trống
quyền lực mà không một quốc gia riêng lẻ nào ở châu Âu có thể lấp đi được.
Trong khi Mỹ bị tổn thất rất nhiều trong cuộc chạy đua cùng Liên Xô trong
thời kỳ Chiến tranh Lạnh thì đây chính là cơ hội để châu Âu có thể vươn lên
thoát khỏi lệ thuộc Mỹ. Ngoài ra còn hai sự kiện tác động lên quá trình đẩy
nhanh việc hình thành CFSP chính là Chiến tranh vùng Vịnh đầu tiên kết thúc
và cuộc khủng hoảng Nam Tư. Các nước châu Âu thấy lo lắng và phải đối mặt
với một khoảng trống quyền lực sau khi bố trí lại số lượng quân đội Mỹ. Cộng
đồng Châu Âu mong muốn hội nhập sâu hơn và có tiếng nói thống nhất hơn,
Hiệp ước Maastricht và CFSP ra đời vào cuối năm 1992.
Bên cạnh đó sự bùng nổ của cuộc khủng hoảng Nam Tư cũng làm tăng yêu
cầu Cộng đồng châu Âu có tiếng nói thống nhất. Năm 1991, chứng kiến giai đoạn
đầu của một loạt các xung đột bạo lực trong lãnh thổ của Liên bang Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Nam Tư cũ. Trước cuộc khủng hoảng, Nam Tư đã tổ chức một vị trí đặc
quyền với các nước châu Âu do tầm quan trọng về địa chính trị của mình giữa khối
Liên Xô với các nước phương Tây. Vì vậy, sau khi chính quyền Mỹ cho thấy rằng
các đồng minh châu Âu cần phải đi đầu và người châu Âu miễn cưỡng đề cử lực
lượng gìn giữ hòa bình dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc. Cộng đồng Châu Âu
nhận ra sự thiếu thống nhất trong lĩnh vực chính trị và thiếu phương tiện để hành
động trong lĩnh vực quốc phòng. [3], [4]
1.2.1.2. Bối cảnh của Liên minh châu Âu: Trong thời kỳ Chiến tranh
Lạnh, châu Âu hầu như chịu phụ thuộc chiếc ô bảo vệ của Hoa Kỳ về an ninh,

trụ cột hợp tác trong đó chính sách đối ngoại và an ninh chung (CFSP) là trụ cột
thứ hai. Từ đó, EEC muốn có vai trò thống nhất, quan trọng trên bàn cờ chính trị
thế giới.
1.3. Nội dung chính sách đối ngoại và an ninh chung của EU
Nội dung chủ yếu của chính sách đối ngoại chung của các quốc gia chính là
mục tiêu và nguyên tắc hoạt động của chính sách. Việc thực thi chính sách đối
ngoại như thế nào có ý nghĩa quyết định sự thành công của chính sách đối ngoại của
mỗi chủ thể. EU đưa ra chính sách đối ngoại chung gồm mục tiêu, nguyên tắc hoạt
động và bộ máy vận hành là một bước thành công lớn cho chính sách đi vào thực
tiễn.
1.3.1. Mục tiêu và nguyên tắc của CFSP: Các vấn đề chính trị, an ninh, quân
sự bên trong và bên ngoài lãnh thổ Liên minh châu Âu được đề cập đến bắt đầu từ
hiệp ước Maastricht (năm 1992), hiệp ước Amsterdam (năm 1999), hiệp ước Nice
(năm 2003) và mới đây là hiệp ước Lisbon (năm 2009). Hiệp ước Maastricht tạo
nền tảng cho sự ra đời của CFSP và được bổ sung và phát triển thông qua các hiệp
ước tiếp theo. Sự kiện Hiệp ước Lisbon đã ra đời và có hiệu lực vào tháng 12 năm
2009 đóng vai trò pháp lý gắn kết các quốc gia Châu Âu, là tiền đề quan trọng tạo
cơ hội thực hiện những kế hoạch đầy tham vọng của tổ chức châu lục này và giúp
nó vươn mình ra thế giới. CFSP được xây dựng nhằm mục tiêu:
- Bảo vệ những giá trị chung, những lợi ích cơ bản và độc lập của Liên minh.
- Tăng cường hợp tác an ninh giữa các nước thành viên.
- Duy trì hòa bình và tăng cường an ninh quốc tế theo nguyên tắc của Hiến
chương Liên Hiệp Quốc, đồng thời thúc đẩy và tăng cường hợp tác quốc tế
trong các vấn đề an ninh.
- Tăng cường dân chủ và thúc đẩy phát triển dân chủ, tôn trọng nhân quyền và
các quyền tự do cơ bản của con người.[29]


Trên phương diện nguyên tắc hoạt động, nhìn một cách khái quát, những
nguyên tắc cơ bản xuyên suốt trong chính sách đối ngoại của EU là phát triển và mở

- Hội đồng châu âu thực hiện các chức năng : Đặt ra các nguyên tắc và định
hướng chung của CFSP; Đưa ra các quy định cần thiết cho việc xác định và
thực thi CFSP trên cơ sở những định hướng chung được cộng đồng thống
nhất;
- Hội đồng ngoại trưởng: Gồm bộ trưởng ngoại giao của các nước thành viên,
đại diện cho lợi ích của nước mình. Hội đồng họp thường kì ít nhất 1 lần/ 1
tháng và chức chủ tịch được luân phiên đảm nhiệm bởi từng nứơc trong thời
gian 6 tháng. Hội đồng có chức năng thảo luận những vấn đề và định hướng
mà hội đồng châu Âu đề ra. Sau đó, hội đồng sẽ quyết định trên nguyên tắc bỏ
phiếu nhất trí trước khi có quyết định của “Hành động chung”.
- Uỷ ban chính trị: Gồm các vụ trưởng chính trị của các Bộ Ngoại giao của
các nước thành viên. Uỷ ban họp thường kỳ hàng tháng và có thể họp bất
thường khi cần. Uỷ ban có nhiệm vụ chuẩn bị các công việc cần thiết cho Hội
đồng Ngoại trưởng, thực hiện các yêu cầu của Hội đồng cũng như giám sát
việc thực hiện CFSP của các nước thành viên, giám sát tính liên tục các hoạt
động về hợp tác chính trị châu Âu. Uỷ ban chính trị có chức năng như là một
cơ quan thực thi các quyết định của Hội đồng ngoại trưởng.
- Uỷ ban đại diện thường trực: Là một tổ chức có tính chất như đại sứ quán
bao gồm những đại diện cao cấp của các nước thành viên và phải chịu trách
nhiệm chuẩn bị và chi tiêu cho các công việc của hội đồng và các hoạt động
của CFSP.
- Nhóm phối hợp công tác: Mỗi bộ ngọai giao của các nứơc thành viên cử một
quan chức tham gia Nhóm phối hợp. Nhóm này có vai trò đặc biệt là tiến


hành tổ chức thực hiện hợp tác trong lĩnh vực đối ngoại và an ninh chung, đồng thời
giám sát việc thực hiện hợp tác và tổ chức chung của CFSP. Để có thể thống nhất
họat động giữa các nước thành viên, EU đã đề ra 2 giải pháp tiến hành. Một là thiết
lập sự hợp tác có hệ thống: Các nước thành viên sẽ thông báo và bàn bạc với nhau
trong khuôn khổ Hội đồng Bộ trưởng châu Âu về mọi vấn đề của CFSP có liên quan

2.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực giai đoạn từ 2009 đến nay
2.1.1. Bối cảnh quốc tế: Xu hướng toàn cầu hóa, tự do hóa thương mại,
đầu tư cùng hợp tác giữa các quốc gia ở các lĩnh vực kinh tế, thương mại và
đầu tư diễn ra mạnh mẽ. Các chủ thể kinh tế quốc tế được thuận lợi, tự do
trong việc hợp tác, kinh doanh ở hầu khắp các thị trường thế giới trong khuôn
khổ luật pháp của các nước và luật định quốc tế. Hoạt động hợp tác xã hội,
nhân đạo, tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ thiên tai giữa các quốc gia diễn ra mạnh
mẽ. Các tổ chức dân sự quốc tế thuận lợi trong việc hợp tác, nâng cao năng
lực các vùng khó khăn, trợ giúp người dân nghèo trên khắp thế giới. Hoạt
động văn hóa, giáo dục không có giới hạn về biên giới, thúc đẩy nâng cao
trình độ kiến thức, kỹ năng cho các công dân ở những nước kém phát triển.
Hoạt động thể thao, văn hóa, truyền thông, truyền hình được tự do phát triển,
hợp tác, quảng bá, giao lưu,. Người dân trên toàn thế giới được hưởng nhiều
lợi ích của việc toàn cầu hóa, tự do thương mại, đầu tư, dễ dàng tìm và có việc
làm phù hợp với năng lực, dễ tiếp cận thị trường quốc tế, thị trường vốn được
luân chuyển mạnh mẽ. Xu hướng chung là hợp tác, cùng phát triển và đem lại
điều tốt đẹp cho nhân loại. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đem đến cho
nhân loại nhiều thành tựu rực rỡ, kết nối vạn vật, trí tuệ nhân tạo, công nghệ
mới về vật lý, sinh hóa đem đến cho con người nhiều kết quả tốt đẹp. Cuộc
cách mạng công nghiệp này cũng đồng thời đưa ra thách thức lớn đối với mọi
quốc gia, dân tộc, cá nhân trong việc chuyển mình kì diệu của tiến bộ khoa
học mới.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hòa bình, hợp tác, phát triển diễn ra mạnh mẽ, cuộc
khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế thế giới xảy ra năm 2008 rất khốc liệt tác
động đến hầu hết các quốc gia, chủ thể kinh tế trên thế giới.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status