Hội đồng lý luận trung ơng
Báo cáo tổng kết đề tài cấp nhà nớc
Cục diện châu á-thái bình dơng
(trọng tâm là đông bắc á và đông nam á)
trong hai thập niên đầu thế kỷ XXIMã số: KX 08.06
Chủ nhiệm đề tài: gs.ts . dơng phú hiệp
khách quan: không xuất phát từ ý muốn chủ quan của mình về đối tợng mà
phải xuất phát từ bản thân đối tợng, không bắt đối tợng phụ thuộc vào t
duy mà phải để t duy phụ thuộc vào đối t
ợng, không gán cho đối tợng
những sơ đồ chủ quan mà phải rút những sơ đồ ấy từ đối tợng. Chính nguyên
tắc khách quan đã bao hàm nguyên tắc tính cụ thể, tức là yêu cầu phải tính
đến những đặc điểm của đối tợng trong những hoàn cảnh lịch sử - cụ thể nhất
định. Cùng với nguyên tắc khách quan, đề tài luôn luôn tuân theo nguyên tắc
toàn diện: nghiên cứu đối tợng không tách rời những điều kiện tồn tại của nó
và các mối liên hệ của nó. Đề tài còn áp dụng các phơng pháp so sánh, phân
2
tích và tổng hợp, lịch sử và lôgic, v.v Do CATBD là khu vực rộng lớn, bao
gồm nhiều nớc nên đòi hỏi đề tài phải kết hợp nghiên cứu đất nớc học với
khu vực học.
Nội hàm của khái niệm CATBD có phạm vi rộng hẹp khác nhau tuỳ theo
quan điểm xem xét từ góc độ địa lý tự nhiên hay địa lý kinh tế chính trị, địa lý
chiến lợc.
Theo nghĩa rộng, CA-TBD bao gồm 81 nớc và lãnh thổ thuộc vùng lòng
chảo Thái Bình Dơng và các nớc châu á khác. Còn theo nghĩa hẹp, CATBD
bao gồm chủ yếu các nớc Đông á. Phạm vi nghiên cứu của đề tài đã đợc
xác định nh tên của đề tài: "Cục diện CATBD (trọng tâm là Đông Bắc á và
Đông Nam á) trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI".
Khái niệm "cục diện khu vực" đợc trình bày trong đề tài này là để chỉ
thực trạng tình hình trên các lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội, trong đó
vừa có những đặc điểm của khu vực, vừa có xu thế phát triển của khu vực ở
một giai đoạn nhất định. Do đó, khi trình bày cục diện kinh tế, đề tài tập trung
phân tích các đặc điểm và xu thế phát triển của kinh tế khu vực; khi trình bày
cục diện chính trị, an ninh, đề tài hớng vào việc vạch ra một số nét cơ bản về
thực trạng chính trị, an ninh của khu vực, trên cơ sở đó dự báo những thuận
lợi, thách thức và xu hớng phát triển đến năm 2020. Còn lĩnh vực văn hoá, xã
4
Chơng I
Cục diện kinh tế khu vực châu á Thái Bình Dơng trong
20 năm đầu thế kỷ XXI
Đề cập đến cục diện kinh tế của một quốc gia hay một khu vực là một
mảng đề tài rất rộng lớn, bao gồm nhiều vấn đề và khía cạnh khác nhau. Cục
diện, theo Từ điển tiếng việt, là tình hình chung của cuộc đấu tranh, cuộc
tranh chấp, biểu hiện ra trong một thời gian nhất định. Trong tiếng anh, chữ
cục diện có hai từ thờng đợc dùng- Conjuncture và Complexion, thể hiện
tình cảnh, cảnh ngộ và phản ảnh diện mạo chung.Vậy cục diện kinh tế của
một khu vực phải chăng chính là diện mạo và bố cục (kết cấu) về mặt kinh tế
của khu vực ấy trong một giai đoạn nhất định. Nh vậy để xác định cục diện
kinh tế khu vực CATBD trong hai nơi năm đầu thế kỷ XXI cần phải làm rõ
I. Các xu hớng biến đổi kinh tế chủ yếu của khu vực
I. CATBD nhìn chung đang và sẽ tiếp tục là khu vực có tốc độ tăng
trởng kinh tế trung bình hàng năm cao trong nền kinh thế giới và vì vậy
tiềm lực kinh tế ngày càng mạnh.
Trong thập kỷ 70 và 80 của thế kỷ XX CATBD đợc biết đến với t cách
là khu vực kinh tế sôi động. Tốc độ tăng trởng GDP của khu vực này luôn ở
mức cao trong nền kinh tế thế giới. Xu hớng tăng trởng đó đã kéo dài cho
đến khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính khu vực 1997-1998. Trên thực tế
giai đoạn 1990-1998 vẫn là giai đoạn tăng trởng kinh tế ổn định của khu vực
Đông á với mức khoảng 8,1%, trong đó 4 nền công nghiệp mới NIEs đạt mức
tăng từ 8-10%. Đây là mức vẫn khá cao so với mức tăng trởng của các khu
vực khác trên thế giới, chẳng hạn trong cùng thời kỳ, châu Phi chỉ đạt 2,2%,
Mỹ la tinh: 3,7 % và bản thân Mỹ cũng chỉ đạt 2,9%
1
.
Đề cập đến nguyên nhân của sự gia tăng nhanh này có rất nhiều phân tích
khác nhau, trong đó phải kể đến những phân tích của Ngân hàng thế giới. Trong
cuốn Suy ngẫm lại sự thần kỳ Đông
á
Ngân hàng thế giới đã nêu 8 lý do cơ
bản nh: Môi trờng kinh tế vĩ mô ỗn định; Tỷ lệ tiết kiệm và đầu t cao; Nguồn
nhân lực có chất lợng cao; Bộ máy hành chính đãi ngộ theo năng lực; Bất bình
đẳng thu nhập thấp; Đẩy mạnh xuất khẩu; Công nghiệp hoá thành công; Đầu t
trực tiếp nớc ngoài và chuyển giao những bí quyết công nghệ có liên quan
2
.
Ngoài ra còn một lý do rất quan trọng song lại ít đợc nhắc tới là sự gần nhau về
mặt địa lý của các quốc gia này. Nếu chỉ đơn giản đa giải thích các nền kinh tế
đang phát triển nhanh này nằm trong cùng một khu vực là cha đủ. Chúng ta
5,1%. Tuy nhiên, do những điều kiện đặc thù về mặt địa lý, kinh tế và chính
trị của mỗi quốc gia khác nhau nên sự phát triển kinh tế cũng rất khác nhau.
Các nớc ASEAN vẫn duy trì đợc tốc độ tăng trởng trung bình 6,4%/năm
4
,
đây là mức cao nhất so với các khu vực khác. Các nớc NIE châu á sẽ đạt
5,5%/năm. Trong đó, Hàn Quốc sẽ thay thế Hồng Kông trở thành đối thủ trực
tiếp của Singapo trong nhóm các nớc NIE. Hàn Quốc sẽ đạt tốc độ tăng
trởng mạnh nhất trong đợt phục hồi sắp tới nhờ những cải cách kinh tế mà
chính phủ Hàn Quốc đang thi hành. Nhịp độ tăng trởng kinh tế sẽ đạt khoảng
5,2% trong vòng 10 năm tới, một tốc độ tăng trởng cao đối với một nền kinh
tế phát triển. Trong khi đó, dự báo tốc độ tăng trởng kinh tế của Singapo sẽ
đạt trung bình 5,1%. Hồng Kông thấp hơn với nhịp độ tăng trởng trung bình
chỉ đạt 3%/năm. Đối với Trung Quốc, nhờ có thị trờng trong nớc rộng lớn
cùng với việc tăng cờng các quan hệ thơng mại trực tiếp và mở cửa nền kinh
tế, nên trong giai đoạn này, nhịp độ tăng trởng kinh tế của Trung Quốc sẽ đạt
trung bình 7,2%/năm, (đứng thứ hai thế giới). Riêng Việt Nam, theo đánh giá
của WB, tốc độ tăng trởng bình quân sẽ đạt 7,4%/năm, đây là mức tăng
trởng cao nhất của khu vực CATBD và trên thế giới. Các nớc ở Bắc Mỹ bao 3
New straits Times, 2/6/2004
4
Kinh tế thế giới thế kỷ XX và triển vọng những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI", NXB Chính trị quốc gia, Hà
nội, 2001, tr. 91
7
gồm Canađa, Mêhicô và Mỹ chỉ đạt mức tăng trởng 2,5%/năm, trong đó, Mỹ
đạt 2,6%/năm, Mêhicô 2,2%/năm và Canađa sẽ đạt mức tăng trởng cao nhất
có thể là 2,8%/năm. Với nớc Nga sau một thời kỳ dài chìm sâu trong khủng
4819
137
8511
1710
277
308
4428
982
1470
630
878
13857
436
15816
4403
Nguồn: Asiaweek, 20-27/8/1999
Trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI, kinh tế khu vực CATBD sẽ
tiếp tục tăng trởng với tốc độ trung bình cao nhất trong nền kinh tế thế giới.
Cơ sở đầu tiên của dự báo này dựa trên thực tế phát triển của khu vực trong
thời gian đã qua nh đã phân tích ở trên. Đồng thời nếu nhìn về triển vọng
của môi trờng phát triển khu vực ta có thể nhận thấy những căn cứ bảo đảm
cho khả năng tăng trởng cao của kinh tế khu vực trên các khía cạnh sau:
Thứ nhất, Cùng với tốc độ tăng trởng cao, xu hớng hội nhập kinh tế
trong khu vực cũng đang đợc thúc đẩy mạnh mẽ. Các khối trong khu vực đã
đạt đợc những thoả thuận về tự do thơng mại và đầu t. Hoạt động thơng
mại và đầu t ở khu vực này đã và sẽ trở nên sôi động hơn. Chính sự hội nhập
kinh tế tạo ra cơ hội bổ sung lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong khu vực và
8
do đó, tốc độ tăng trởng kinh tế hàng năm ở khu vực CATBD sẽ có chiều
hớng tăng cao.
Thứ năm, với xu hớng tăng cờng hợp tác an ninh đối thoại, khu vực
CATBD sẽ tiếp tục đợc duy trì trong thế ổn định tơng đối.
í
t có khả năng
bùng nổ xung đột trong khu vực. Đây chính là điều kiện quan trọng để các
nớc trong khu vực có thể tập trung cho phát triển kinh tế.
Thứ sáu, Sự cải thiện của nền kinh tế thế giới, nhất là kinh tế Mỹ sẽ thúc
đẩy sự hợp tác phát triển liên khu vực. Có thể thấy đây là yếu tố cực kỳ quan
trọng với sự phát triển của kinh tế Đông á, bởi lẽ hiện nay Mỹ là đối tác kinh
9
tế chính của không ít nền kinh tế trong khu vực nh Nhật Bản và Trung Quốc.
Sau đợt suy thoái do tác động của sự kiện 11/9/2001, nền kinh tế Mỹ đã có sự
phục hồi và tăng trởng khá vào năm 2003 với tỷ lệ 2,6% và năm 2004 là
4,4%
5
. Nếu nền kinh tế Mỹ duy trì đợc đà tăng trởng sẽ là một cơ hội cho
sự gia tăng tiếp theo của các nền kinh tế khác trong đó có kinh tế Đông
á
.
Tuy nhiên điều cũng cần thấy rằng, trong những năm trớc mắt tăng
trởng kinh tế của Đông
á
có thể sẽ dịu đi một chút vì Trung Quốc một đầu
tầu tăng trởng của khu vực đang có sự điều chỉnh giảm nhiệt đối với nền kinh
tế. Tất nhiên với những cải cách của các quốc gia trong khu vực và sự phục
hồi kinh tế của Nhật Bản, Đông á vẫn đợc xem là khu vực có sự tăng trởng
năng động và đợc xem nh đầu tầu tăng trởng thứ hai (kinh tế Mỹ là đầu tầu
tăng trởng số 1) của cả nền kinh tế thế giới trong những năm tới.
Điều cũng cần nói thêm rằng, kinh tế khu vực có triển vọng tốt đẹp là xu
hớng nổi trội, song không phải không có khả năng của sự đột biến. Điều này
lợi thế so sánh vốn có của mình về tài nguyên thiên nhiên, đất đai, con ngời
để đẩy mạnh xuất khẩu, tạo nên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp
truyền thống sang công nghiệp và dịch vụ. Phơng pháp này đã đem lại sự
tăng trởng kinh tế nhanh chóng ở nhiều nớc Đông
á
và đợc thế giới biết
đến nh một sự thần kỳ của nhóm nớc đang phát triển.
Cho đến cuối thập kỷ 90 trở lại đây, mô hình công nghiệp hoá ở khu vực
châu á về cơ bản vẫn là hớng về xuất khẩu trên cơ sở phát huy lợi thế so
sánh. Tuy nhiên, với sự phát triển nh vũ bão của khoa học công nghệ, mô
hình công nghiệp hoá truyền thống đã có nhiều thay đổi. Sự phát triển nhanh
chóng của khoa học và công nghệ đã và đang dẫn đến sự phát triển cao độ của
lực lợng sản xuất, mà đi đầu là các nớc phát triển nh Mỹ và Nhật Bản.
Ngời ta nói đến nhiều về thuật ngữ nền kinh tế tri thức để diễn tả một giai
đoạn nhảy vọt về tiến bộ kỹ thuật và tiến bộ kinh tế, trong đó nhân tố chủ yếu
tạo nên sự tiến bộ đó là tri thức, trí tuệ và thông tin. Các nớc công nghiệp
đang tập trung đầu t nhân lực, vật lực để chế tạo và ứng dụng những công
nghệ mới nhất, hiện đại nhất nhằm tạo ra năng suất lao động cao hơn, tiết
kiệm thời gian và chi phí hơn, tốn ít nguyên vật liệu hơn cho nền kinh tế. Cuộc
cách mạng về khoa học công nghệ, mà nòng cốt là công nghệ thông tin không
những đang tạo ra ngày càng nhiều lợi ích kinh tế cho những n
ớc ứng dụng,
mà còn là một trong những yếu tố đẩy nhanh quá trình toàn cầu hoá, khu vực
hoá và lôi cuốn các quốc gia trên thế giới cùng tham gia.
Cùng với sự ra đời của nền kinh tế tri thức, t tởng công nghiệp hoá
nhảy vọt, rút ngắn bỏ qua các giai đoạn phát triển truyền thống (từ nông
nghiệp sang công nghiệp) đã trở thành nhu cầu bức thiết đối với nhiều nớc
11
đang phát triển trên thế giới. Cơ cấu ngành kinh tế đang chuyển dần từ cấu
trúc công nghiệp sang cấu trúc tri thức ở nhiều nớc công nghiệp phát triển và
cộng đồng, xã hội và chăm sóc sức khoẻ ) ở một số nớc phát triển khác đã
12
đóng góp trên 40% GDP. Tỷ lệ này ở Singapo là: 57,3%; Nhật Bản: 53%; ở
Canađa: 51% và Ôxtrâylia: 48%. Các cơ sở hạ tầng thông tin (ITC) đợc đặc
biệt quan tâm đầu t và phát triển mạnh ở các nớc này. Đây là một trong số
những lĩnh vực có mức tăng trởng cao.
Nhật Bản là một trong những quốc gia trong khu vực có sự chú ý cao đến
quá trình tri thức hoá nền kinh tế. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, trong
giai đoạn 1987-1997, chi tiêu R&D ở Nhật Bản chiếm 2,80% GNP, cao hơn cả
Mỹ ( 2,63%), và cao thứ nhì trong khu vực châu á sau Hàn Quốc (2,82%),
trong khi Singapo đạt 1,13%, Malaixia đạt 0,24%, Inđônêxia đạt 0,07%,
Philippin đạt 0,22%, Thái Lan 0,13%, Trung Quốc 0,66%. Số nhà khoa học và
kỹ s làm việc trong lĩnh vực R&D ở Nhật Bản cũng đạt con số cao nhất 4909
ngời, trong khi ở Hàn Quốc là 2193 ngời, Singapo 2318 ngời, Malaixia 93
ngời, Thái Lan 103 ngời, Inđônêxia 182 ngời, Philippin 157 ngời. Nhật
Bản cũng dẫn đầu về số ngời đợc nhận bằng phát minh sáng chế, với
351.487 bằng, trong khi Hàn Quốc là 92.798 bằng, Singapo 8.188 bằng,
Malaixia 179 bằng Đặc biệt từ năm 2000, chính phủ Nhật Bản đã có những
chính sách cụ thể phát triển ngành công nghệ thông tin nhằm đuổi kịp Mỹ
trong thời gian ngắn nhất, trong đó chú trọng đến việc hình thành một mạng
bu chính viễn thông tốc độ cao, đẩy nhanh việc phát triển thơng mại điện tử,
hình thành chính phủ điện tử và đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực công
nghệ thông tin. Tính đến năm 1999, mật độ sử dụng Internet và máy tính cá
nhân trên 1000 ngời ở Nhật Bản là 163,75 và 237,2, trong khi Singapo đạt
cao nhất 322,3 và 458,4, Hàn Quốc 55,53 và 156,8, Malaixia 23,53 và 58,6,
Philippin 1,29 và 15,1 Nhiều sản phẩm mang hàm lợng tri thức cao nh
ngời máy công nghiệp và ngời máy phục vụ trong cuộc sống gia đình của
Nhật Bản đang có sức cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trờng thế giới. Tuy nhiên,
xét trên chỉ số cạnh tranh về công nghệ thông tin năm 2000, Nhật Bản đứng
thứ 14 trên thế giới, trong khi Singapo đứng thứ 6 (cao nhất châu
cứu khoa học công nghệ, tăng cờng hỗ trợ nghiên cứu cơ bản và mở đờng
cho hợp tác quốc tế và trao đổi khoa học. Quỹ này đã trở thành trụ cột trong
lĩnh vực nghiên cứu cơ bản của Trung Quốc. Nó không chỉ đảm bảo tài chính
một cách vững chắc cho đội ngũ nghiên cứu với hơn 60.000 nhà khoa học mà
còn đào tạo đợc một số lợng lớn các nhà khoa học có trình độ và những học
giả hàng đầu có đủ khả năng đảm đơng công tác nghiên cứu trong thế kỷ
XXI. Chính phủ Trung Quốc cũng rất quan tâm tới việc phát triển cơ sở hạ
tầng công nghệ thông tin quốc gia. Các ngành công nghiệp thông tin, viễn
14
thông đang đợc sự hỗ trợ to lớn về tài chính của ngân hàng nhà nớc. Trong
suốt thập kỷ 80, Trung Quốc đã đầu t 5,7 tỷ USD vào hạ tầng cơ sở viễn
thông và nó đã trở thành ngành có tốc độ tăng trởng nhanh nhất Trung Quốc.
Hiện tại, Bộ bu chính viễn thông đang có kế hoạch sử dụng 7 tỷ USD nguồn
vốn FDI để đầu t vào hệ thống cơ sở hạ tầng viễn thông trong những năm tới.
ở
Trung Quốc, các ngành công nghệ cao, đặc biệt là ngành điện tử và thông
tin, đã nằm trong số 10 ngành công nghiệp chủ yếu của nớc này. Trung Quốc
đã hình thành 53 viện công nghệ cao cấp quốc gia và nhiều công viên công
nghệ để thu hút đầu t, đào tạo nhân tài trong những lĩnh vực công nghệ mới.
Các nớc Đông Nam á cũng đang tích cực thực hiện các chiến lợc phát
triển khoa học công nghệ để hớng tới nền kinh tế tri thức. Trớc hết phải nói
đến Singapo. Ngay từ đầu những năm 90, Chính phủ Singapo đã đa ra một
chiến lợc phát triển công nghệ thông tin quốc gia hớng vào thế kỷ XXI.
Mục tiêu của kế hoạch này là biến Singapo thành một trung tâm khoa học
công nghệ cao và trở thành hòn đảo trí tuệ, nơi mà công nghệ thông tin đợc
ứng dụng ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Singapo đã là một trong những
nớc đầu tiên của thế giới có mạng phổ cập liên kết ảo các máy tính trong
từng ngôi nhà, trờng học và văn phòng. Chính phủ Singapo đã đề ra những
giải pháp có tính quyết định tạo đà cho mục tiêu này trong thời gian tới là: Thứ
nhất, tăng cờng đào tạo nguồn nhân lực cho khoa học công nghệ. Nguồn nhân
đó, Malaixia cũng chú trọng đến việc phát triển kết cấu hạ tầng siêu hành lang
truyền thông đa phơng tiện (MSC) nhằm biến Malaixia thành một đầu mối
nối mạng với toàn khu vực Đông Nam
á
. Hai nhà cũng cấp dịch vụ Internet là
Jaring và Telecom, là hai cổng vào xa lộ thông tin của Malaixia. Dịch vụ
Internet của Malaixia có thể liên kết với mạng Internet quốc tế qua các đờng
cáp quang. Tại Malaixia có hai tuyến nối đến Mỹ, một tuyến 512K và một
tuyến E1(2Mbps), đồng thời có một tuyến dài 128 km nối vào Nhật Bản. Nhìn
chung, mục tiêu của chiến lợc phát triển công nghệ thông tin ở các nớc
Đông Nam á hầu nh đều diễn ra tơng tự nhau. Tuy nhiên, tuỳ vào điều kiện
và trình độ phát triển cụ thể mà mỗi nớc đa ra các chính sách phát triển
công nghệ thông tin khác nhau.
Xu hớng tập trung phát triển các ngành đại diện cho nền kinh tế tri thức
không chỉ xuất hiện ở riêng từng nớc mà nó còn đợc thể hiện cả trong tiến
trình hợp tác của khu vực. Hiện tại, APEC đang tích cực nghiên cứu và xây
dựng chơng trình hợp tác giữa các thành viên nhằm cùng nhau phát triển
kinh tế tri thức. Năm 1997, APEC đã thành lập "Nhóm công tác chuyên trách
về thơng mại điện tử và năm 1998 thông qua "Chơng trình hành động về
thơng mại điện tử". Cho đến nay, APEC đã hoàn tất chơng trình hành động
16
chung để thực hiện thơng mại điện tử vào năm 2005 đối với các thành viên là
các nớc phát triển và vào năm 2010 đối với thành viên là nớc đang phát triển.
Theo dự báo của APEC, năm 2020 doanh số thơng mại điện tử của APEC sẽ đạt
tới 600 tỷ USD
6
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
á
cũng đã thành lập "Tiểu ban điều
Thời báo kinh tế Việt Nam, số 7, ngày 16/1/2002
17
những điều chỉnh đáng kể theo hớng đẩy nhanh sự hình thành và phát triển
nền kinh tế công nghiệp gắn chặt với kinh tế tri thức. Quá trình công nghiệp
hoá ở các quốc gia đi sau trong khu vực không chỉ đơn thuần là quá trình
chuyển lao động thủ công sang lao động máy móc nhằm gia tăng năng xuất
lao động trong quá trình sản xuất mà đó là quá trình phức hợp đồng thời
chuyển sang lao động dựa trên máy móc(với tính cách là một công cụ) và sang
lao động dựa trên tri thức. Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, mỗi trình độ phát triển
kinh tế, quá trình điều chỉnh cơ cấu vẫn có sự khác nhau và điều này đang cho
thấy khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển nền kinh tế dựa trên tri
thức ngày càng nới rộng. Những nớc có chiến lợc điều chỉnh toàn diện và
thích hợp nh Singapo, Đài Loan, Hàn Quốc và
m
alaixia có thể sẽ có những
thay đổi đáng kể về tốc độ tăng trởng và chiến lợc công nghiệp hoá trong
thời gian sắp tới. Những nớc chậm cải cách cơ cấu nh Nhật Bản có thể sẽ
phải trải qua chặng đờng dài hơn để phục hồi nền kinh tế do không tận dụng
triệt để thế mạnh của nền kinh tế tri thức. Và hàng loạt các nớc công nghiệp
hoá đi sau sẽ có sự thay đổi về trình độ phát triển và thứ bậc xếp hạng nền
kinh tế trong khu vực theo hớng: những nớc có chiến lợc khai thác hiệu
quả những yếu tố mới của quá trình công nghiệp hoá (chi tiêu R&D, đào tạo
nhân lực, phát triển công nghệ thông tin) sẽ có sự bứt phá ngoạn mục hơn
trong phát triển kinh tế.
3. Cải cách thể chế kinh tế trong khu vực đang và sẽ tiếp tục đợc đẩy
mạnh cả ở các nền kinh tế thị trờng và các nền kinh tế chuyển đổi của
khu vực theo hớng gia tăng tính hiệu quả và bền vững trong phát triển
kinh tế.
Trớc những năm 90, ở châu
á
xuất khẩu và sự can thiệp mạnh của chính phủ là phơng thức hữu hiệu giúp
các nớc này đạt đợc sự tăng trởng kinh tế nhanh chóng trong những thập
kỷ từ 60 đến nay. Trong khi đó hầu hết các nớc XHCN đã tiến hành phát
triển các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp hàng tiêu dùng, mở rộng quốc
hữu hoá và khu vực doanh nghiệp nhà nớc. Do có sự phân định giữa hệ
thống xã hội chủ nghĩa và hệ thống t bản chủ nghĩa và ảnh hởng mạnh của
mô hình kinh tế Liên Xô cũ, nên trớc thập kỷ 90 của thế kỷ XX quan hệ kinh
tế đối ngoại của các n
ớc XHCN bị giới hạn trong nhóm nớc XHCN. Công
nghệ trong hầu hết các ngành công nghiệp chế tạo đều lạc hậu, xuất khẩu sản
phẩm không đợc khuyến khích và chỉ giới hạn trong khu vực XHCN. Nền
kinh tế kế hoạch, tập trung, bao cấp và có thiên hớng đóng cửa đã làm cho
Trung Quốc, Việt Nam và các nớc XHCN khác trong khu vực không phát
huy đợc lợi thế vốn có. Mọi nguồn lực đều đợc huy động bằng kênh cấp
phát của nhà nớc, vay nợ, viện trợ , do vậy tạo nên sự thiếu năng động cho
nền kinh tế và không kích thích đợc đầu t sản xuất và tiêu dùng.
19
Sau sự sụp đổ của hệ thống XHCN thế giới, cục diện thế giới có những
biến đổi sâu sắc, nguy cơ chiến tranh thế giới giảm, và các nớc trên thế giới
(kể cả t bản phát triển và các nớc đang phát triển) đều lấy phát triển kinh tế
là trọng tâm trong chính sách phát triển quốc gia và hội nhập quốc tế của
mình. Với xu thế đa trung tâm, Mỹ, EU và Nhật Bản đang cố gắng lôi cuốn
các nớc đang phát triển có vị trí địa lý gần gũi về phía mình, không phân biệt
chế độ xã hội để mở rộng sự chi phối và phát huy bá quyền của mình trong
khu vực. Cục diện thế giới mới cũng buộc các nớc XHCN phải có những cải
cách thể chế mạnh mẽ để hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Thể chế kinh tế
thị trờng bắt đầu đợc áp dụng ở Việt Nam kể từ năm 1986 và đợc Trung
Quốc dứt khoát lựa chọn để phát triển kinh tế, chấm dứt giai đoạn luận
chiến lâu dài về kinh tế thị trờng và kinh tế kế hoạch trong giới lãnh đạo
Trung Quốc kể từ năm 1978. Có thể thấy sau thời kỳ chiến tranh lạnh, Đông á
các vấn đề nghèo đói và bất bình đẳng.
- Xây dựng nền kinh tế mở, đa phơng hoá, đa dạng hoá các quan hệ
kinh tế đối ngoại, hớng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu
những mặt hàng trong nớc sản xuất có hiệu quả, tranh thủ vốn và công nghệ
nớc ngoài để tiến hành công nghiệp hoá đất nớc. Các nớc có nền kinh tế
chuyển đổi đã nhận thức đợc tầm quan trọng của môi trờng quốc tế sau
chiến tranh lạnh và có những chính sách mở cửa kinh tế, từng bớc tự do hoá
thơng mại, tự do hoá đầu t nớc ngoài để thu hút vốn, công nghệ phục vụ
cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nớc, thúc đẩy xuất khẩu và
từng bớc tạo dựng những cơ sở công nghệ hiện đại. Thập kỷ 90 của thế kỷ
XX cũng chứng kiến sự hội nhập kinh tế khu vực của các nớc có nền kinh tế
chuyển đổi trong khu vực nh ASEAN, AFTA, APEC, WTO.
- Cải cách bộ máy quản lý nhà n
ớc theo hớng tạo dựng một cơ cấu
chính phủ gọn nhẹ hơn, đỡ cồng kềnh hơn, đỡ chồng chéo hơn và hoạt động
hiệu quả hơn. Công cuộc cải cách này đang đợc tiến hành mạnh ở Trung
Quốc và đang là mối quan tâm lớn nhất của chính phủ Việt Nam. Tuy nhiên
những tàn d của thể chế kinh tế cũ vẫn còn tồn tại và đem lại những khó khăn
không nhỏ cho công cuộc cải cách bộ máy chính quyền, cho việc tạo dựng
một sự quản lý kinh tế năng động của chính phủ trớc tình hình kinh tế mới.
Xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới
trong thập kỷ 90 cũng là nhân tố thúc đẩy các nớc trong khu vực tiến hành
21
nhanh chóng tự do hoá kinh tế. Quá trình tự do hoá kinh tế chủ yếu thực hiện
ở các nớc phát triển theo kinh tế thị trờng trong khu vực, nó diễn ra đồng
loạt trên tất cả các lĩnh vực: tự do hoá thơng mại, đầu t, tự do hoá tài chính,
t nhân hoá, dân chủ hoá thể chế chính trị Cuộc khủng hoảng tài chính kinh
tế năm 1997 đã bộc lộ nhiều nhợc điểm của mô hình kinh tế thị trờng ở
Đông
á
ngân hàng, tăng cờng hệ thống giám sát tài chính, tăng cờng tính minh bạch
trong hệ thống tài chính ngân hàng, bãi bỏ kiểm soát ngoại hối, cho phép các
tổ chức tài chính hoạt động theo cơ chế thị trờng cạnh tranh hơn, công bằng
hơn Những cải cách mang tính toàn diện đó nhằm tạo nên sự năng động và tự
do hơn nữa của hệ thống tài chính ngân hàng, tiến dần đến việc xây dựng một
hệ thống tài chính hiện đại nh các nớc phơng Tây.
- Thúc đẩy hơn nữa tự do hoá thơng mại và đầu t trong khu vực. Sau
khủng hoảng, các nớc Đông
á
đã nỗ lực cải thiện môi trờng đầu t, cải cách
cơ cấu xuất khẩu để tiếp tục hội nhập kinh tế quốc tế. Cuối thập kỷ 90 cũng là
thời điểm có rất nhiều hiệp định thơng mại đầu t song phơng đợc ký kết,
điển hình là hiệp định thơng mại song phơng Nhật Bản Singapo, khu
thơng mại tự do Trung Quốc ASEAN, Hiệp ớc Bali II về việc thành lập
cộng đồng ASEAN Những nỗ lực tự do hoá thơng mại đầu t đó đang đợc
tăng cờng ngày càng sâu rộng ở Đông á, nhằm tạo nên một khối liên kết
kinh tế thơng mại bền vững trong tơng lai và có thể cạnh tranh với hai khối
liên kết kinh tế khu vực lớn trên thế giới là NAFTA và EU.
- Cải cách thể chế chính trị theo hớng dân chủ hoá, nhằm tạo nên bộ
máy quản lý kinh tế năng động, gọn nhẹ, tạo sức sống mới cho nền kinh tế.
Cuối thập kỷ 90, hàng loạt các vụ tham nhũng ở Hàn Quốc, Inđônêxia,
Philippin liên quan đến hệ thống quản lý kinh tế theo kiểu gia đình trị và chủ
nghĩa t bản móc ngoặc, bè phái đã đợc lôi ra ánh sáng và xử lý nghiêm ngặt.
Đây là điều cha từng đợc thực hiện trớc đây ở các nớc Đông á bởi nó
liên quan trực tiếp đến một nhóm ngời có quyền lợi đặc biệt nh giới chính
trị, quan chức, doanh nhân và những lợi ích của nhóm ngời trên tồn tại lâu
dài và dờng nh mang tính tất yếu qua nhiều thập kỷ. Cải cách thể chế và xoá
bỏ tham nhũng đã đem lại sự tăng trởng kinh tế hiệu quả hơn, giảm thiểu
những tác động méo mó đến cơ chế thị trờng và phá bỏ những rào cản đối với
sự hội nhập quốc tế.
viên mới của ASEAN, sau cùng là các nớc còn lại trong khu vực. Về thể chế
kinh tế, phân thành 2 nhóm : kinh tế thị trờng TBCN và kinh tế thị trờng
XHCN. Về mô thức kinh tế, có thể phân thành 3 nhóm: mô thức kinh tế thị
trờng kiểu Singapo và Hồng Kông, trong đó nhà nớc chỉ kiểm soát nhng
không can thiệp các hoạt động kinh doanh, kể cả t nhân. Mô thức kinh tế thị
trờng kiểu các nớc TBCN, trong đó nhà nớc can thiệp mạnh vào các hoạt
động kinh doanh, tài chính ngân hàng, xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp
t nhân và nhà nớc. Mô thức kinh tế thị trờng kiểu các nớc chuyển đổi,
trong đó nhà nớc đóng vai trò chủ đạo, chi phối hầu hết các hoạt động kinh tế
của đất nớc và có sự chú trọng phát triển khu vực doanh nghiệp nhà nớc.
Các mô hình, thể chế kinh tế đó đang có sự cạnh tranh gay gắt với nhau, và
24
hiệu quả của mỗi mô hình không chỉ gắn liền với vấn đề tăng trởng nhanh
mà còn tạo nên sự công bằng và những tiến bộ xã hội khác.
Trong tơng lai, cùng với xu thế nhất thể hoá nền kinh tế, sự đa dạng và
khoảng cách về thể chế kinh tế sẽ đợc rút ngắn lại, bởi những cải cách cơ cấu
và thể chế ở mỗi nớc là đều nhằm tạo nên một thể chế kinh tế hiện đại nhằm
phát huy tốt nhất các nguồn lực. Những cải cách thể chế của cả nhóm nớc
theo mô hình kinh tế thị trờng TBCN và kinh tế thị trờng XHCN sẽ giúp cho
hai nhóm nớc này đạt đợc một sự đồng thuận dễ dàng hơn nhờ thay đổi
đợc phong cách quản lý của nhà nớc và kinh doanh của doanh nghiệp trong
môi trờng tự do hoá. Tơng lai về việc hình thành một cộng đồng kinh tế
Đông
á
là điều đã đợc tính tới, và điều này đòi hỏi những nỗ lực phát triển
của từng nớc cũng nh sự giúp đỡ của những nớc mạnh hơn để tạo nên sự
đồng đều tơng đối về phát triển kinh tế giữa các nớc trong khu vực. Mặc dù
hiện nay, những thách thức về cải cách thể chế còn nhiều, và mỗi nhóm nớc
đi theo con đờng phát triển riêng của mình không thể xoá bỏ hoàn toàn mô
hình thể chế mà họ đang theo đuổi. Nhng cải cách thể chế là để tạo nên hiệu