Quan hệ thương mại hàng hóa trung gian giữa nhật bản – trung quốc trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI và một số kiến nghị chính sách cho việt nam tt - Pdf 53

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TUẤN TÚ

QUAN HỆ THƢƠNG MẠI HÀNG HÓA TRUNG GIAN
GIỮA NHẬT BẢN – TRUNG QUỐC TRONG HAI
THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI VÀ MỘT SỐ KIẾN
NGHỊ CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 9.31.01.06

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI – 2019


Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học:
- Hướng dẫn 1: TS. Nguyễn Bình Giang
- Hướng dẫn 2: PGS. TS. Nguyễn Xuân Trung

Phản biện 1: GS.TS. Đỗ Đức Bình
Phản biện 2: PGS.TS. Đỗ Hương Lan
Phản biện 3: PGS.TS. Chu Đức Dũng

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học
viện họp tại ........................................................................................................

...........................................................................................................................

chuỗi giá trị toàn cầu, do đó các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn đứng tụt khá xa
so với một số nước trong khu vực; đồng thời trong quan hệ thương mại với Nhật
Bản và Trung Quốc, hàng hóa trung gian của Việt Nam vẫn nằm ở vị trí rất thấp,
nhiều khi chỉ là nhập khẩu một chiều dẫn đến thâm hụt thương mại lớn và gây bất
lợi cho nền kinh tế
Quan hệ thương mại hàng hóa trung gian song phương Nhật Bản - Trung Quốc
vừa là điển hình về quan hệ thương mại hàng hóa trung gian vừa là điển hình về
quan hệ thương mại giữa một nước phát triển với một nước đang phát triển. Thêm
vào đó, Trung Quốc có trình độ phát triển tương đương Việt Nam. Cả Nhật Bản lẫn
Trung Quốc đều là những đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam. Nghiên
cứu quan hệ thương mại hàng hóa trung gian Nhật Bản - Trung Quốc sẽ đưa ra
được những hàm ý thiết thực, những kinh nghiệm, bài học hữu ích cho Việt Nam
để thúc đẩy thương mại hàng hóa trung gian của Việt Nam với các nước, cải thiện
quan hệ thương mại song phương Việt Nam-Nhật Bản và Việt Nam-Trung Quốc
theo hướng ngày càng có lợi cho Việt Nam. Thông qua tham gia tích cực hơn vào
thương mại hàng hóa trung gian của khu vực Đông Á và thế giới, Việt Nam có điều
kiện tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng toàn cầu. Chính vì lý do trên, đề tài
“Quan hệ thương mại hàng hóa trung gian Nhật Bản – Trung Quốc trong hai thập
niên đầu thế kỷ XXI và một số kiến nghị chính sách cho Việt Nam” là mang tính
cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn, giúp chúng ta hiểu được bản chất của quan hệ
thương mại hàng hóa trung gian Trung Quốc – Nhật Bản, các nhân tố ảnh hưởng
đến mối quan hệ này, tác động của quan hệ hàng hóa trung gian giữa Trung Quốc –
Nhật Bản, và một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong thúc đẩy quan hệ
hàng hóa trung gian với Nhật Bản, Trung Quốc và khu vực Đông Á.

1


2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
2.1. Mục đích nghiên cứu:

4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu:
- Cách tiếp cận nghiên cứu: Luận án sử dụng cách tiếp cận liên ngành dựa trên
các lý thuyết thương mại, hợp tác song phương để đánh giá phân tích quan hệ
thương mại Nhật Bản – Trung Quốc và sử dụng các nhân tố lịch sử, quan hệ quốc
tế, chính trị học, văn hóa … để giải thích bản chất của mối quan hệ trên.
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp phân tích hệ thống.
+ Phương pháp phân tích tổng hợp.
+ Phương pháp so sánh.
+ Phương pháp case-study.
5. Đóng góp mới về lý luận và ý nghĩa khoa học của luận án
Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về quan hệ thương mại hàng hoá trung gian
giữa hai quốc gia, tìm hiểu các nhân tố tác động đến quan hệ thương mại hàng hoá
trung gian song phương. Điều này giúp làm rõ hơn các vấn đề liên quan đến quan
2


hệ thương mại hàng hoá trung gian song phương. Đây là một nội dung quan trọng
trong quan hệ thương mại quốc tế hiện đại nhưng chưa được nghiên cứu tổng thể
và hệ thống trong các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đó.
6. Đóng góp mới về thực tiễn của luận án và ý nghĩa thực tiễn của các đóng
góp đó
- Luận án đã làm rõ bối cảnh Đông Á nơi diễn ra quan hệ thương mại hàng hoá
trung gian sôi động kể từ những thập niên cuối thế kỷ XX, làm cơ sở để nghiên cứu
quan hệ thương mại hàng hoá trung gian Nhật Bản – Trung Quốc. .
- Phân tích thực trạng quan hệ hàng hoá trung gian giữa Nhật Bản và Trung
Quốc. Đây là hai đối tác thương mại hàng hoá trung gian quan trọng của Việt Nam.
Quan hệ hàng hoá trung gian Nhật Bản – Trung Quốc cho thấy sự phụ thuộc lẫn
nhau trong liên kết thương mại Đông Á, trong chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị khu
vực Đông Á.

thương mại hàng hóa trung gian được nghiên cứu dưới các thuật ngữ: hàng hóa bán
thành phẩm, thương mại chiều dọc, thương mại nội bộ ngành… Chưa có khái niệm
nào hoàn chỉnh về “thương mại hàng hóa trung gian”. Trong một số tác phẩm
nghiên cứu, khái niệm, bản chất, đặc điểm và cấu trúc của mạng sản xuất quốc tế đã
được các tác phẩm này đề cập đến khá chi tiết và cụ thể. Tuy nhiên, thương mại
hàng hóa trung gian chưa được đưa thành một khái niệm hoàn chỉnh, mà mới chỉ
hàm ý trong một số phân tích khi đưa ra các vấn đề lý thuyết về mạng sản xuất toàn
cầu bởi đối tượng và phạm vi nghiên cứu của các tác phẩm này tương đối khác với
chủ đề nghiên cứu của đề tài.
Liên quan tới chính sách đối ngoại và hợp tác kinh tế của Nhật Bản và Trung
Quốc đối với khu vực trong hai thập niên gần đây, các công trình nghiên cứu cho
thấy Nhật Bản và Trung Quốc đã có những thay đổi chính sách đối ngoại và hợp
tác kinh tế tập trung vào các nước khu vực châu Á, hình thành các cơ chế hợp tác
đa phương, song phương, ký kết các FTA và có những quan điểm chính trị ngoại
giao cạnh tranh nhau với tư cách là hai nước lớn trong khu vực châu Á.
Về quan hệ hàng hóa trung gian Nhật Bản – Trung Quốc, có thể thấy rõ là
các công trình nghiên cứu về vấn đề này còn rất ít. Cùng với xu hướng hình thành
các FTA ở Đông Á, dòng thương mại nội bộ ngành ngày càng tăng và chủ yếu là
hàng hóa trung gian, hàng hóa bán thành phẩm, trong đó quan hệ thương mại Nhật
Bản – Trung Quốc đang ngày càng phụ thuộc vào nhau và Trung Quốc đang dần
thay thế Nhật Bản để trở thành đối tác thương mại lớn nhất của các nước trong khu
vực Đông Á.Tuy nhiên, quan hệ hàng hóa trung gian được đề cập khá rời rạc,
không theo hệ thống, chưa theo một chủ đề riêng biệt. Vì vậy, rất khó để đánh giá
vai trò của hàng hóa trung gian trong quan hệ thương mại song phương Nhật Bản –
Trung Quốc, cũng như bản chất của mối quan hệ này, nên rất cần phải có những
nghiên cứu kế thừa và chuyên sâu hơn.
Về vấn đề nghiên cứu bài học cho Việt Nam từ quan hệ thương mại hàng hóa
trung gian Nhật Bản – Trung Quốc, các công trình nghiên cứu trong nước mới chỉ
tập trung vào quan hệ thương mại song phương giữa Nhật Bản – Việt Nam hoặc
Trung Quốc – Việt Nam.

phẩm về mối liên hệ giữa thương mại hàng hóa trung gian với việc phân đoạn sản
xuất quốc tế. Theo các nghiên cứu, nếu quá trình sản xuất có thể được chia thành
nhiều giai đoạn, thì mỗi giai đoạn sản xuất có thể được tiến hành ở nước có lợi thế
so sánh trong việc sản xuất các sản phẩm của giai đoạn đó. Do đó, các quốc gia
càng khác biệt nhau về nguồn lực thì thị phần của thương mại nội ngành theo chiều
dọc càng lớn. Hàng hóa trung gian được trao đổi dựa trên nguyên tắc lợi thế so
sánh và có những đặc điểm chủ yếu trong trao đổi thương mại hàng hóa trung gian.
Một số tác phẩm cũng đã phân tích các khái niệm, đặc điểm của thương mại hàng
hóa trung gian, phương pháp tiếp cận và đánh giá thương mại “hàng hóa và dịch vụ
trung gian”, các hình thức trao đổi thương mại hàng hóa trung gian và tác động của
thương mại hàng hóa trung gian đối với năng suất lao động.
Liên quan trực tiếp đến thương mại hàng hóa trung gian Nhật Bản – Trung
Quốc, chỉ có ít một số tác phẩm đề cập đến vấn đề này. Một số tác phẩm đã đề cập
đến ảnh hưởng của Nhật Bản trong quan hệ thương mại hàng hóa trung gian với
Trung Quốc thông qua cách tiếp cận về mô hình đàn nhạn bay và chuỗi cung ứng,
vai trò của các tập đoàn xuyên quốc gia của Nhật Bản trong phát triển thương mại
hàng hóa trung gian ở khu vực Đông Á. Đối với hàng hóa trung gian của Trung
Quốc, một số nghiên cứu đã trình bày ảnh hưởng chính sách của Trung Quốc đối
với hàng hóa trung gian nước này trong suốt ba thập kỷ qua. Thay đổi về thể chế là
yếu tố đằng sau sự thành công của Trung Quốc trong mạng lưới sản xuất của khu
vực Đông Á.
Về vấn đề nghiên cứu bài học cho Việt Nam từ quan hệ thương mại hàng hóa
trung gian Nhật Bản – Trung Quốc, các công trình nghiên cứu ngoài nước cũng
chỉ tập trung vào quan hệ thương mại song phương giữa Nhật Bản – Việt Nam hoặc
Trung Quốc – Việt Nam.
Liên quan đến quan hệ thương mại giữa Nhật Bản – Việt Nam, một số tác giả đã
nghiên cứu về quan hệ thương mại giữa hai nước trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 21.
5



xuất, lý do một quốc gia tham gia vào mạng sản xuất, phân công lao động quốc tế
theo chiều dọc, theo chiều ngang, lợi thế so sánh trong quan hệ thương mại hàng
hoá trung gian, vai trò của FDI trong thương mại hàng hoá trung gian.
Về mặt thực tiễn, các công trình nghiên cứu trước đó đã làm rõ bối cảnh kinh tế
Đông Á – nơi diễn ra mối quan hệ hàng hoá trung gian Trung Quốc – Nhật Bản. Trong
bối cảnh này, các tác giả đã làm rõ mô hình đàn nhạn bay, sự lệ thuộc kinh tế lẫn nhau
giữa các quốc gia Đông Á, vai trò của mối quan hệ thương mại song phương Trung
Quốc – Nhật Bản trong bối cảnh Đông Á. Từ đó, thực trạng mối quan hệ thương mại
song phương Trung Quốc – Nhật Bản đã được nhiều tác giả đề cập đến theo các khía
cạnh khác nhau: chính sách, lịch sử của mối quan hệ thương mại song phương, tình
hình xuất nhập khẩu hàng hoá giữa hai nước từ 2000 – 2017.
1.3.2. Khoảng trống nghiên cứu và điểm mới của luận án
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu trước chưa làm rõ nội hàm các tiêu chí
đánh giá, đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ thương mại hàng hoá
trung gian giữa các quốc gia. Các vấn đề này chỉ được đề cập một cách nhỏ lẻ và

6


phân tán trong. Vì vậy nhiệm vụ và điểm mới của luận án là làm rõ khung phân tích
và các tiêu chí đánh giá thương mại hàng hoá trung gian giữa các quốc gia.
Thứ hai, thực trạng quan hệ hàng hoá trung gian giữa Trung Quốc và Nhật Bản
chỉ được đề cập đến trong phạm vi rộng của mối quan hệ thương mại hàng hoá nói
chung của hai quốc gia này hoặc trong quan hệ thương mại của mạng sản xuất nội
khối Đông Á. Chính vì vậy, khoảng trồng nghiên cứu đặt ra ở đây là: chưa làm rõ
được thực trạng, đặc điểm và bản chất của mối quan hệ hàng hoá trung gian giữa
Nhật Bản và Trung Quốc, cũng như các ý đồ chính sách của hai nước này trong
trao đổi hàng hóa trung gian và các nhân tố ảnh hưởng đến thương mại hàng hóa
trung gian Nhật Bản – Trung Quốc, tác động của thương mại hàng hóa trung gian
đối với hai nước Nhật Bản – Trung Quốc, đối với khu vực Đông Á, ASEAN.

hàng hóa trung gian có quan hệ mật thiết với phân công lao động theo chiều dọc
(phân công các phân đoạn sản xuất nội bộ ngành giữa các quốc gia) và mạng sản
xuất quốc tế, chuỗi cung ứng quốc tế.
2.1.2. Cơ sở lý thuyết về quan hệ thương mại hàng hoá trung gian.
Do thương mại hàng hóa trung gian là một phần của thương mại nói chung vì
vậy luận án đã trình bày một số lý thuyết liên quan đến thương mại quốc tế:
2.1.2.1. Lý thuyết lợi thế so sánh tương đối
Cơ sở của lý thyết lợi thế so sánh tương đối chính là sự khác biệt giữa các nước
không chỉ về điều kiện tự nhiên và kỹ thuật mà còn về điều kiện sản xuất nói
chung. Điều đó có nghĩa là về nguyên tắc, bất kỳ quốc gia nào cũng có thể tìm thấy
sự khác biệt này và chuyên môn hoá sản xuất những sản phẩm nhất định dù có hay
không lợi thế về tự nhiên và kỹ thuật. Trên thực tế lợi thế tuyệt đối của mỗi quốc
gia không có nhiều, hơn nữa phần lớn các quốc gia tiến hành buôn bán với nhau
không chỉ ở những mặt hàng có lợi thế tuỵệt đối mà còn đối với cả những mặt hàng
dựa trên lợi thế tương đối. Do đó, mọi nước đều có lợi khi tham gia vào phân công
lao động quốc tế trên cơ sở khai thác lợi thế tương đối, ngoại thương cho phép mở
rộng khả năng tiêu dùng của một nước.
Ngoài ra, một số nước có lợi thế so sánh hơn trong việc xuất khẩu một số sản phẩm hàng
hoá của mình là do việc sản xuất những sản phẩm hàng hoá đó đã sử dụng được những yếu
tố sản xuất mà nước đó được ưu đãi hơn so với nước khác. Chính sự ưu đãi về các lợi thế tự
nhiên của các yếu tố sản xuất này (bao gồm: vốn, lao động, tài nguyên, đất đai, khí hậu...) và
công nghệ của các nước là tương đương nhau đã khiến cho một số nước có chi phí cơ hội
thấp hơn trong sản xuất những sản phẩm nhất định.
2.1.2.2. Lý thuyết cạnh tranh quốc gia
Lý thuyết lợi thế so sánh dựa trên yếu tố sản xuất không thể giải thích đầy đủ
các hoạt động thương mại và không đưa câu trả lời tại sao ở những nước khác nhau
có những nét tương đồng về quy mô kinh tế, công nghệ, nguồn lực tài nguyên, lao
động,…, hoạt động kinh tế của nước này lại tốt hơn nước kia. Những giả định làm
nền tảng cho lợi thế so sánh dựa trên yếu tố sản xuất có sức thuyết phục hơn ở thế
kỷ 18 và 19. Khi đó các ngành công nghiệp còn bị phân tán, sản xuất chủ yếu sử

phát triển của phân công lao động quốc tế dựa trên quy trình sản xuất (phân công
lao động theo chiều dọc) hơn là dựa theo sự phân công lao động ngành. Đây là một
trong những lý thuyết cơ bản phân tích sự di chuyển FDI đến các nước kém phát
triển để tạo ra các liên kết kinh tế theo chiều dọc và hình thành nên một hệ thống
sản xuất quốc tế.
- Lý thuyết nội bộ hóa:
Lý thuyết nội bộ hóa giải thích mô hình các giao dịch nội bộ ở cấp độ cao trong mạng
lưới sản xuất và phân phối quốc tế. Một công ty chẳng bao giờ làm tất cả các khâu trong
quy trình tạo ra một sản phẩm cuối cùng, từ việc sản xuất ra nguyên vật liệu cơ bản cho
đến khâu bán lẻ sản phẩm cuối cùng. Họ thường nhập nguyên liệu hay linh kiện từ các
công ty khác hay các nhà cung cấp trong nước hoặc nước ngoài. Sau đó họ lại bán sản
phẩm của mình cho một công ty khác để tiếp tục quy trình gia tăng giá trị cho sản phẩm,
tạo thành một sản phẩm mới. Hơn nữa, ngay trong nội bộ doanh nghiệp, các khâu sản
xuất cũng được chia nhỏ và đặt tại các khu vực khác nhau để tận dụng lợi thế từng khu
vực, tiết kiệm chi phí sản xuất cho công ty
- Mô hình đàn nhạn bay:
Mô hình đàn nhạn bay giải thích sự lần lượt cất cánh của công nghiệp các nước
trong khu vực bằng việc phân công lao động gắn với liên kết quốc tế. Mô hình
nguyên thủy là mô hình một quốc gia - một sản phẩm. Ban đầu quốc gia phải nhập
khẩu sản phẩm. Rồi nó tự phát triển năng lực của mình dựa vào thị trường nội địa
và tự sản xuất sản phẩm đó thay thế nhập khẩu. Trong quá trình sản xuất thay thế
nhập khẩu, năng lực của quốc gia được nâng cao hơn nữa, tới mức nó có thể cạnh
tranh trên thị trường quốc tế và trở thành người xuất khẩu sản phẩm đó.
2.1.2.4. Những kế thừa của luận án từ các lý thuyết liên quan đến quan hệ
thương mại hàng hoá trung gian
9


Qua nghiên cứu các lý thuyết liên quan đến quan hệ thương mại hàng hoá trung
gian có thể thấy, quan hệ thương mại hàng hoá trung gian trước hết được dựa trên

cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ hai, thương mại hàng hoá trung gian xuất hiện do mức độ phân tán sản xuất
quốc tế ngày càng cao cũng như sự xuất hiện của chuỗi cung ứng theo chiều dọc và
các chiến lược tìm nguồn cung ứng toàn cầu của các doanh nghiệp.
Thứ ba, thương mại hàng hoá trung gian thông qua liên kết ngược và xuôi
(backward and forward linkages).
2.1.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ thương mại hàng hoá trung gian
- Quy mô thị trường
- Công nghệ
- Sự khác biệt về các yếu tố nguồn lực quốc gia.
- Khoảng cách (distances): Khoảng cách giữa các đối tác trong thương mại hàng
hoá trung gian bao gồm khoảng cách về kinh tế, văn hoá và khoảng cách về tổ chức
giữa các đối tác.
- Trình độ phát triển kinh tế.
10


- Thể chế, chính sách của chính phủ.
- Thu nhập bình quân đầu người
2.2. Cơ sở thực tiễn về quan hệ thƣơng mại hàng hóa trung gian.
2.2.1. Mô hình đàn nhạn bay ở Đông Á
Mạng lưới sản xuất Đông Á chủ yếu được định hình theo mô hình “đàn nhạn
bay” dựa trên sự phân công lao động quốc tế trong vùng. Mô hình này ban đầu mô
tả mô hình công nghiệp hoá của một nước phát triển, nhưng sau đó nó được mở
rộng phạm vi áp dụng cho mô hình công nghiệp hoá, phát triển mạng lưới sản xuất
và hợp tác trong khu vực.
Trong mô hình này, Nhật Bản đóng vai trò là con nhạn đầu đàn, có trình độ
công nghệ tiên tiến hơn các con nhạn khác, tiếp theo là sự thấp dần về trình độ
công nghệ giữa các nước NIEs và ASEAN4. Với trình tự như vậy, cơ cấu công
nghiệp của các nước ngày càng được cải thiện nhờ chiến lược đuổi bắt công nghệ

MẠI HÀNG HOÁ TRUNG GIAN NHẬT BẢN – TRUNG QUỐC
3.1. Khái quát thực trạng quan hệ thƣơng mại song phƣơng Nhật Bản – Trung
Quốc kể từ năm 2001 đến nay.
3.1.1. Tổng quan về quan hệ thương mại Trung Quốc – Nhật Bản kể từ năm
2001 đến nay
Nhật Bản và Trung Quốc là hai nền kinh tế lớn trên thế giới, có quan hệ hàng
hoá song phương rất lớn và đây được coi là một trong những đối tác thương mại
lớn nhất thế giới. Quan hệ kinh tế thương mại Nhật Bản – Trung Quốc có lịch sử
thăng trầm, được bình thường hoá quan hệ vào năm 1972 và mối quan hệ này chỉ
thực sự ấm lên từ năm 2001 sau chuyến thăm Trung Quốc của thủ tướng Nhật Bản
Junichiro Koizumi.
Nhật Bản luôn chịu thâm hụt thương mại với Trung Quốc kể từ đầu thập niên
2000s đến nay. Điều đáng chú ý là Trung Quốc luôn là 1 trong 3 đối tác thương
mại lớn nhất của Nhật Bản, và vị trí của Trung Quốc trong cán cân thương mại
Nhật Bản liên tục được cải thiện.
Hàng hoá xuất khẩu của Nhật Bản sang thị trường Trung Quốc chủ yếu là dệt
may, linh kiện vi tính và máy móc thiết bị, trong đó các thiết bị điện tử chiếm tỷ
trọng lớn nhất.
Trong suốt 16 năm qua kể từ năm 2001, Trung Quốc luôn là đối tác nhập khẩu
lớn nhất của Nhật Bản. Các sản phẩm nhập khẩu chủ yếu của Trung Quốc từ Nhật
Bản là máy móc thiết bị điện tử, đặc biệt là điện thoại di động.
Mặc dù cả hai nước đều công bố những số liệu thâm hụt thương mại song
phương nhưng về phía Trung Quốc, sự phụ thuộc trong trao đổi thương mại với
Nhật Bản có chiều hướng giảm đi kể từ năm 2001, trong khi đối với Nhật Bản sự
phụ thuộc này đang có chiều hướng tăng lên.
3.1.2. Chính sách của Nhật Bản và Trung Quốc trong phát triển quan hệ
thương mại song phương
Về chính trị - ngoại giao, sau khi bình thường hoá quan hệ ngoại giao, quan hệ
giữa Nhật Bản và Trung Quốc phát triển nhanh chóng, nhất là trên lĩnh vực kinh tế
nhưng vào thời điểm này do Mĩ vẫn chưa thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung

3.2. Quan hệ thƣơng mại hàng hóa trung gian Nhật Bản – Trung Quốc
3.2.1.Thực trạng quan hệ thương mại hàng hoá trung gian Nhật Bản –
Trung Quốc.
- Về kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa trung gian giữa hai nước:
Về phía Nhật Bản, trong quan hệ thương mại song phương với Trung Quốc,
xuất khẩu hàng hoá trung gian của Nhật Bản tăng liên tục. Giá trị xuất khẩu hàng
hoá trung gian của Nhật Bản sang Trung Quốc và một số nước ASEAN trong thời
gian qua luôn tăng nhanh hơn giá trị xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng cuối cùng, cho
thấy châu Á tiếp tục nằm trong chuỗi cung ứng không thể thiếu của nền kinh tế
Nhật Bản, và Trung Quốc là một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng hàng
hoá của Nhật Bản.
Một điều dễ nhận thấy là, trước năm 2000, Trung Quốc luôn đứng thứ hạng sau
Mỹ, EU, Hàn Quốc, ASEAN trong kim ngạch xuất khẩu hàng hoá trung gian của
Nhật Bản, nhưng sau năm 2000, vị trí của Trung Quốc đã được cải thiện nhanh
chóng và Trung Quốc hiện nay đã trở thành đối tác xuất khẩu lớn nhất của Nhật
Bản về hàng hoá trung gian, vượt qua tất cả các đối tác truyền thống của Nhật Bản
là Mỹ và EU. Tuy nhiên, kể từ sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, do nền
kinh tế Trung Quốc tiếp tục được mở rộng quy mô sản xuất và cải thiện năng lực
nguồn cung trong nước, nên xuất khẩu hàng hoá trung gian của Nhật Bản sang
Trung Quốc có chiều hướng suy giảm, kể cả hàng sơ chế và hàng linh kiện.
Về phía Trung Quốc, trong quan hệ thương mại hàng hoá trung gian với Nhật
Bản, Trung Quốc dường như tiếp tục đứng vị trí sau một số đối tác thương mại
khác của Nhật Bản là Mỹ, Hàn Quốc, EU và ASEAN. Xuất khẩu hàng hoá sơ chế
của Trung Quốc sang Nhật Bản tăng liên tục.
So với việc trao đổi thương mại hàng hoá cuối cùng, xuất khẩu hàng hoá trung gian
của Trung Quốc sang Nhật Bản có giá trị nhỏ hơn. Trung Quốc có sự kết nối chặt chẽ hơn
với các nước ASEAN (thể hiện xuất khẩu hàng hoá trung gian sang ASEAN tăng liên tục)
và các nước ngoài Đông Á như Mỹ và EU. Các nước ASEAN và Trung Quốc đã có sự
gắn kết chặt chẽ với nhau hơn trong thời gian gần đây thương mại hàng hoá trung gian
giữa Trung Quốc – Nhật Bản, Trung Quốc – ASEAN cho thấy nhu cầu nhập khẩu và xuất

Quốc đạt 46,7 tỷ USD); 2) Các sản phẩm phụ kiện may mặc, được đan hoặc móc
(8,5 tỷ USD), 3) Các sản phẩm phụ kiện may mặc, không được đan hoặc móc (8,2
tỷ USD); 4) Nhựa và chất dẻo (5 tỷ USD); 5) Đồ nội thất, ánh sáng, biển báo, thiết
bị xây dựng (4,7 tỷ USD); 6) Các linh kiện thiết bị quang học, hình ảnh, kỹ thuật, y
tế (4,7 tỷ USD), 7) Sắt thép các loại (3,6 tỷ USD). So với năm 2010, kim ngạch
nhập khẩu các hàng hoá trung gian chủ lực từ Trung Quốc có tăng trong một số mặt
hàng như linh kiện, thiết bị điện, điện tử; chất dẻo các loại; nhưng lại có xu hướng
giảm kim ngạch nhập khẩu đối với các mặt hàng trung gian chủ lực khác.
Nhập khẩu hàng hoá trung gian của Trung Quốc từ Nhật Bản chủ yếu là các
hàng hoá có công nghệ cao hơn hoặc nguyên liệu phục vụ sản xuất. Năm 2017, 8
mặt hàng trung gian chủ lực nhập khẩu từ Nhật Bản bao gồm: 1) Thiết bị và linh
kiện điện, điện tử (trị giá nhập khẩu khẩu từ Nhật Bản đạt 42,2 tỷ USD); 2) Các
linh kiện thiết bị quang học, hình ảnh, kỹ thuật, y tế (15,9 tỷ USD); 3) Nhựa và các
sản phẩm chất dẻo (9,7 tỷ USD); 4) Hoá chất hữu cơ (7,0 tỷ USD); 5) Sắt thép (6,0
tỷ USD); 6) Các sản phẩm hoá chất khác (3,3 tỷ USD); 7) Đồng và các sản phẩm từ
đồng (3,1 tỷ USD); 8) Các linh kiện sản phẩm từ sắt thép (2,4 tỷ USD). Tính trong
kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của Trung Quốc từ Nhật Bản trong năm 2017, 8
mặt hàng hoá trung gian này đạt 89,6 tỷ USD, chiếm tới 54% (trong tổng kim
ngạch nhập khẩu của Trung Quốc từ Nhật Bản năm 2017 là 165,8 tỷ USD). So với
năm 2010, nhập khẩu hàng hoá trung gian chủ lực của Trung Quốc từ Nhật Bản có
chiều hướng gia tăng trong hầu hết các mặt hàng, trừ nhóm hàng thiết bị, linh kiện
điện và điện tử
14


- Về vai trò của thương mại hàng hoá trung gian trong nền kinh tế:
Thương mại hàng hoá trung gian luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch
xuất nhập khẩu của Trung Quốc và Nhật Bản và tỷ trọng này có xu hướng tăng lên
Trung Quốc luôn chịu thâm hụt trong cán cân thương mại hàng hoá trung gian
với Nhật Bản và mức thâm hụt này ngày càng mở rộng trong những năm gần đây.

của Trung Quốc chiếm tỷ trọng cao nhất (77,5% năm 2005 và 60,5% năm 2015). Cùng
với dòng FDI của Nhật Bản sang Trung Quốc tăng mạnh, xuất khẩu hàng hoá trung gian
của Nhật Bản sang các doanh nghiệp FDI của Nhật Bản tại Trung quốc đạt 20,3 tỷ USD
và nhập khẩu hàng hoá trung gian của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Trung Quốc đạt
11,3 tỷ USD.
3.2.2. Đặc điểm của quan hệ thương mại hàng hoá trung gian Nhật Bản –
Trung Quốc
Thứ nhất, quan hệ thương mại hàng hoá trung gian Trung Quốc – Nhật Bản
nằm trong chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị của mạng sản xuất Đông Á, trong đó
thương mại hàng hoá trung gian song phương có mức độ thâm hụt ngày càng lớn,
nghiêng về phía Trung Quốc.
15


Thứ hai, quan hệ hàng hoá trung gian Nhật Bản – Trung Quốc được thực hiện
thông qua liên kết ngược và xuôi.
Thứ ba, liên kết dọc trong hoạt động thương mại hàng hoá trung gian giữa Nhật
Bản và Trung Quốc cũng đang đem lại cho Trung Quốc nhiều thách thức.
3.2.3. Nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ thương mại hàng hoá trung gian
Nhật Bản – Trung Quốc.
3.2.3.1. Nhân tố thuộc về Trung Quốc và Nhật Bản
- Quy mô thị trường: Đối với Nhật Bản, Trung Quốc là một thị trường rộng lớn
đầy tiềm năng. Quan hệ Trung Quốc – Nhật Bản được bình thường hóa vào năm
1972, tạo điều kiện thuận lợi cho việc ký kết Hiệp định thương mại Nhật Bản –
Trung Quốc và nhiều hiệp định hợp tác khác trong thập niên 1970s. Tăng trưởng
kinh tế cao của Trung Quốc trong vài thập niên qua đã khuyến khích các doanh
nghiệp Nhật Bản xuất khẩu vào nước này bởi mức cầu hàng hóa ở Trung Quốc
luôn rất cao, từ hàng chất lượng thấp đến hàng hóa xa xỉ của Nhật Bản và thế giới.
Trong nhiều năm gần đây, Trung Quốc là thị trường tiêu thụ rất mạnh hàng hóa
Nhật Bản, đặc biệt là hàng điện tử, máy móc thiết bị, sản phẩm hóa chất và thiết bị

16


Nhật Bản đã đẩy mạnh việc tìm kiếm các nguồn lợi về tài nguyên thiên nhiên và
phát triển cơ sở sản xuất tại các nước có nhiều điều kiện thuận lợi trong vấn đề này,
nổi bật trong đó là Trung Quốc.
Ngược lại với Nhật Bản, Trung Quốc là một nước rộng lớn (đứng thứ tư trên
thế giới về quy mô diện tích) và có một nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú,
có thế mạnh trong các ngành khai khoáng. Đặc biệt, nước này có nguồn trữ lượng
đất hiếm nhiều nhất trên thế giới (chiếm một nửa số đất hiếm của toàn thế giới).
Theo nhiều chuyên gia, đất hiếm đóng vai trò quan trọng trong các ngành sản xuất
hàng hóa trung gian. Trong cơ cấu nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc, dầu mỏ và
than đá chiếm 24,8% kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Nhật Bản từ Trung Quốc
năm 1990, giảm còn 1,1% vào năm 2011. Các nguồn nguyên liệu khác như xi
măng, đá ceramic, sắt thép và khoáng chất chiếm khoảng 8,3% tổng kim ngạch
nhập khẩu của Nhật Bản từ Trung Quốc.
- Khoảng cách giữa hai quốc gia: Vị trí địa chiến lược của Trung Quốc và Nhật
Bản ở khu vực Đông Á khiến hai nước này ngày càng xích lại gần nhau vì lợi ích
kinh tế, mặc dù giữa hai quốc gia vẫn còn nhiều rào cản về thể chế chính trị và các
vấn đề tranh chấp trong lịch sử. Không nơi nào rõ ràng hơn trong mối quan hệ
Trung – Nhật, dù vẫn còn nhiều tranh chấp do lịch sử để lại từ di sản của chiến
tranh thế giới thứ hai, quan hệ thương mại và đầu tư song phương lại phát triển
mạnh đến thế. Trung Quốc và Nhật Bản đã trở thành những đối tác thương mại và
đầu tư hàng đầu của nhau, chi phối xu hướng phát triển kinh tế của khu vực Đông
Á. Khoảng cách địa lý gần gũi và nằm trong khu vực Đông Á phát triển năng động
nhất thế giới đã có ảnh hưởng tích cực đối với quan hệ thương mại song phương
Nhật – Trung, đưa Trung Quốc và Nhật Bản tham gia sâu hơn vào mạng sản xuất
toàn cầu trong khu vực
- Trình độ phát triển kinh tế: Hiện nay, các nước có nền kinh tế phát triển (như
Nhật Bản) chủ yếu tập trung phát triển các công nghệ hiện đại và chuyển giao sang

thông qua các cuộc viếng thăm lẫn nhau của các nhà lãnh đạo quốc gia hai nước, và
thông qua những hỗ trợ hợp tác kinh tế song phương qua cơ chế của WTO, qua các
diễn đàn đối thoại song phương và đa phương trong khu vực như Diễn đàn khu vực
ASEAN, diễn đàn đối thoai an ninh Nhật Bản – Trung Quốc, APEC, hợp tác văn
hoá, kỹ thuật song phương...
- Bất đồng về lịch sử, địa lý giữa hai nước
Xuất phát từ các vấn đề lịch sử và những lời phát biểu mang tính nhạy cảm từ
lãnh đạo hai phía, quan hệ thương mại song phương giữa hai nước có những thời
điểm bị “lạnh” bất thường. Những tranh chấp xung quanh quần đảo Điếu
ngư/Senkaku giữa Trung Quốc và Nhật Bản đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quan
hệ thương mại song phương.
3.2.3.2. Nhân tố thuộc về quốc tế và khu vực
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động nặng nề đến các nền kinh tế trên thế
giới, trong đó có Nhật Bản và Trung Quốc, ảnh hưởng đến tăng trưởng thương mại
song phương trong những năm gần đây. Bên cạnh đó, tình hình địa chính trị phức
tạp ở khu vực Đông Bắc Á như vấn đề Triều Tiên, biển Đông, tranh chấp biển đảo
giữa Nhật Bản – Trung Quốc, Hàn Quốc – Trung Quốc đã khiến việc thiết lập FTA
Trung Quốc – Nhật Bản đối diện với rất nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến quan hệ
song phương Nhật Bản – Trung Quốc. Sự nổi lên của các NIEs và ASEAN cũng
ảnh hưởng không nhỏ đến quan hệ hàng hoá trung gian Nhật Bản – Trung Quốc.
Nếu như trước kia, nhập khẩu hàng hoá trung gian của Trung Quốc từ Nhật Bản và
NIEs là chính, nhưng ngày nay với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của ASEAN và
tiến trình thực hiện Hiệp định thương mại tự do ASEAN- Trung Quốc mang lại
nhiều kết quả hội nhập cho cả hai phía, thì mối quan hệ này cũng bị ảnh hưởng bởi
thị trường ASEAN dần dần thay thế Nhật Bản và NIEs để trở thành khu vực nhập
khẩu chính của Trung Quốc.
3.2.3.3. Đánh giá chung về tầm quan trọng của các yếu tố tác động lên quan hệ
thương mại hàng hóa trung gian Nhật Bản – Trung Quốc.
Theo Porter, lợi thế chỉ được duy trì khi nguồn sinh ra lợi thế được mở rộng và
nâng cấp. Một số nhân tố quyết định tạo ra lợi thế bền vững hơn các nhân tố khác.

thương mại và đầu tư theo chiều dọc, giúp thương mại hàng hoá trung gian Nhật
Bản – Trung Quốc tăng trưởng mạnh mẽ trong thời gian qua. Còn đối với Nhật
Bản, chính phủ nước này ủng hộ chính sách thương mại tự do, khuyến khích các
công ty Nhật Bản đầu tư tại Trung Quốc. Dòng chảy đầu tư và hoạt động thương
mại giữa Trung Quốc và Nhật Bản là minh chứng cho thấy sự phát triển mạnh mẽ
của 2 quốc gia này trong khu vực Đông Bắc Á.
Hợp tác kinh tế và thương mại Trung Quốc – Nhật Bản đã bị ảnh hưởng nặng nề
bởi cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế năm 2008. Theo sau đó là các tác động từ việc
tranh chấp quần đảo Điếu Ngư – Senkaku, các bất đồng lịch sử, tình hình địa chính trị
phức tạp tại Đông Bắc Á đã khiến cho hợp tác thương mại giữa hai nước đối mặt với
tình hình xấu chưa từng thấy. Quan hệ giữa hai nước đã thay đổi từ mô hình "chính trị
lạnh và kinh tế nóng" thành mô hình "chính trị lạnh và kinh tế lạnh".
CHƢƠNG 4
QUAN HỆ THƢƠNG MẠI HÀNG HOÁ TRUNG GIAN
VIỆT NAM – TRUNG QUỐC, VIỆT NAM – NHẬT BẢN:
MỘT SỐ BÀI HỌC VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
4.1. Khái quát quan hệ thƣơng mại hàng hoá trung gian giữa Việt Nam –
Trung Quốc, Việt Nam – Nhật Bản.
4.1.1. Khái quát quan hệ thương mại hàng hoá trung gian Việt Nam – Trung Quốc
Quan hệ thương mại hàng hoá trung gian Việt Nam – Trung Quốc phát triển
mạnh mẽ kể từ năm 2000 trở lại đây. Trong vòng 12 năm, kim ngạch xuất khẩu
hàng hoá trung gian của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc tăng 3,7 lần và hàng
hoá trung gian xuất khẩu sang Trung Quốc dần chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng
kim ngạch xuất khẩu hàng hoá trung gian của Việt Nam.
Hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc phần lớn là hàng hoá có
giá trị gia tăng thấp. Vào năm 2015, top 10 mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt
19


Nam sang Trung Quốc là máy tính, sản phẩm điện tử, linh kiện, xơ sợi các loại,

mang tính cạnh tranh. Nhật Bản là nước nhập siêu lớn về thủy sản, các mặt hàng
công nghiệp tiêu dung, các thực phẩm chế biến và nhập những mặt hàng nguyên
phụ liệu, linh kiện có chi phí thấp và giá thành rẻ từ Việt nam, trong khi Việt nam
lại là nước có lợi thế cạnh tranh tuyệt đối về các sản phẩm này. Ngược lại, Việt
nam nhập khẩu từ Nhật Bản phần lớn các máy móc, thiết bị, nguyên liệu, sản phẩm
trung gian phục vụ cho sản xuất, giúp Việt nam tham gia tốt vào chuỗi cung ứng
hàng hoá trong khu vực ASEAN với Nhật Bản. Việc nhập khẩu hàng hoá trung
gian của Nhật Bản giúp Việt Nam đa dạng hoá cơ cấu xuất khẩu của mình (có hàm
lượng hàng hoá trung gian từ Nhật Bản) theo hướng chế tạo xuất khẩu giảm xuất
khẩu nguyên liệu thô và tăng sản phẩm chế tạo có giá trị cao hơn.
4.1.3. Một vài đánh giá
Thứ nhất, thực trạng trao đổi hàng hoá trung gian giữa Việt Nam và Nhật Bản,
Trung Quốc cho thấy, tốc độ gia tăng thương mại hàng hoá trung gian giữa Việt
Nam và Trung Quốc cao hơn rất nhiều so với thương mại hàng hoá trung gian giữa
Việt Nam và Nhật Bản.
20


Thứ hai, tình trạng nhập siêu hàng hoá trung gian của Việt Nam từ thị trường
Trung Quốc đang đặt ra nhiều vấn đề trong cơ cấu kinh tế của Việt Nam. Nhiều
ngành sản xuất của Việt Nam đang có mức độ phụ thuộc rất cao vào Trung Quốc
về nguyên liệu và hàng hoá trun gian và cả thị trường đầu ra (tiêu thụ sản phẩm).
Thứ ba, tình trạng cân đối trong quan hệ thương mại hàng hoá trung gian của
Việt nam với Nhật Bản cho thấy Nhật Bản đang có những ảnh hưởng tích cực đối
với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam. .
4.2. Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam từ quan hệ thƣơng
mại hàng hoá trung gian Nhật Bản – Trung Quốc
4.2.1. Bài học nên tham khảo, học hỏi
Thứ nhất, thương mại hàng hoá trung gian đóng vai trò quan trọng trong phát
triển kinh tế, vì vậy cần phải đánh giá được nhu cầu của nền kinh tế đối với loại

Siết chặt hoạt động kiểm soát tại biên giới để ngăn chặn tối đa hiện tượng buôn lậu
hàng hoá từ Trung Quốc; Xây dựng và thực thi các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật
bắt buộc đối với các sản phẩm, đặc biệt là thực phẩm và máy móc thiết bị, qua đó
có căn cứ pháp lý để kiểm soát và ngăn chặn sản phẩm kém chất lượng nhập khẩu
21


vào Việt Nam.
- Đối với Nhật Bản: Việt Nam cần tìm kiếm giải pháp thúc đẩy mạnh mẽ thương
mại hàng hoá trung gian với Nhật Bản hơn nữa trong thời gian tới để giảm phụ thuộc
nhập khẩu hàng hoá trung gian từ Trung Quốc, đồng thời tăng nhanh tỷ trọng hàng hoá
trung gian của Nhật Bản trong cán cân thương mại của Việt Nam, góp phần tích cực
hơn cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo giá trị gia tăng cao hơn cho sản phẩm cuối
cùng. Để làm được điều đó, Việt Nam cần phải chú trọng thu hút FDI từ các doanh
nghiệp sản xuất Nhật Bản, cải thiện môi trường thu hút đầu tư cho các nhà đầu tư Nhật
Bản; lựa chọn những ngành sản xuất ưu tiên trong thu hút đầu tư Nhật Bản, ưu tiên tiếp
thu công nghệ Nhật Bản; xây dựng hệ thống danh mục sản phẩm cần khuyến khích trao
đổi thương mại hàng hoá trung gian với Nhật Bản; giám sát chất lượng hàng hoá trung
gian xuất nhập khẩu sang thị trường Nhật. Cùng với đó, cần tích cực thực hiện công tác
xúc tiến thương mại để khai thác tốt hơn tiềm năng từ thị trường Nhật Bản và tận dụng
triệt để những thuận lợi các Hiệp định mang lại, đặc biệt là Hiệp định đối tác kinh tế
Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA).
4.4. Điều kiện cần và đủ để áp dụng các bài học kinh nghiệm và kiến nghị
chính sách đối với Việt Nam
4.4.1. Điều kiện cần
Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia là điều kiện đảm đảm bảo tăng trưởng
xuất khẩu ổn định, chuyển dịch cơ cấu sản xuất sang các ngành kinh tế có hàm
lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn. Điều kiện này chịu sự tác động và chi
phối của nhiều chính sách khác nhau. Cụ thể là:
- Các chính sách kinh tế vĩ mô để tạo điều kiện cho doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài

- Cần có đủ nguồn lực để chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế và tái cấu trúc nền
kinh tế, trong đó quan trọng nhất là nguồn lực tài chính và con người.
KẾT LUẬN
Trong khu vực Đông Á, Nhật Bản và Trung Quốc là hai nền kinh tế lớn, có ảnh
hưởng quan trọng đến mối quan hệ quốc tế trong khu vực. Kể từ khi hai nước tiến
hành bình thường hóa quan hệ ngoại giao vào năm 1972 cho đến nay, quan hệ
thương mại song phương Nhật Bản đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Hiện tại,
Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Nhật Bản và Nhật Bản là đối tác
thương mại lớn thứ hai của Trung Quốc sau Mỹ. Cùng với những sáng kiến đang
được đề ra về Cộng đồng kinh tế Châu Á (AEC), Khu vực thương mại tự do Nhật
Bản – Trung Quốc – Hàn Quốc (JKCFTA), Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu
vực (RCEP) v.v…, hợp tác khu vực Đông Á đang ngày càng được mở rộng, trong
đó có vai trò đặc biệt quan trọng của Nhật Bản và Trung Quốc.
Tuy nhiên, cho đến nay Nhật Bản và Trung Quốc vẫn chưa ký được một hiệp
định thương mại song phương (FTA) giữa hai nước, trong bối cảnh khu vực Đông
Á trở thành hiệu ứng “bát mì ống” bởi các hiệp định thương mại song phương. Có
rất nhiều lý do để giải thích cho vấn đề này, nhưng việc chưa ký kết FTA song
phương cho thấy Nhật Bản và Trung Quốc chưa phát huy hết tiềm năng hợp tác
thương mại trong thời gian qua. Sự nổi lên của Trung Quốc trong mấy thập niên
qua đang vừa là cơ hội, vừa là thách thức và mối đe dọa đối với vai trò đầu tàu kinh
tế trước đây của Nhật Bản ở châu Á. Hơn nữa, những biến động phức tạp của tình
hình Đông Á, trong đó có vấn đề Triều Tiên, biển đảo (biển Đông, quần đảo Điếu
Ngư/Senkaku), vấn đề lịch sử giữa Nhật Bản và Trung Quốc, … khiến quan hệ
thương mại Nhật Bản – Trung Quốc trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI còn gặp
nhiều hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến hợp tác thương mại khu vực châu Á,
trong đó có Việt Nam.
Đối với Việt Nam, Nhật Bản và Trung Quốc là hai đối tác thương mại lớn, có
ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động kinh tế - thương mại – đầu tư của Việt Nam
trong thời gian qua. Việt Nam hiện nay đang đứng trước những cơ hội và thách
thức không hề nhỏ trong khu vực châu Á khi bối cảnh địa chính trị khu vực đang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status