VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN TUẤN TÚ
QUAN HỆ THƢƠNG MẠI HÀNG HÓA TRUNG GIAN
GIỮA NHẬT BẢN – TRUNG QUỐC TRONG HAI
THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Ngành:
Kinh tế quốc tế
Mã số:
9.31.01.06
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS. Nguyễn Bình Giang
2. PGS.TS. Nguyễn Xuân Trung
HÀ NỘI - 2019
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi. Các số liệu thu
thập, trích dẫn, xử lý từ các nguồn chính thức và của riêng tác giả. Kết quả nêu
MỞ ĐẦU........................................................................ ............................................... 1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU..... ................................ 9
1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước ............................................................................ 9
1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước................................................................ .......... 14
1.3. Những giá trị của công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước, khoảng
trống nghiên cứu và điểm mới của luận án .............................................. ................... 21
1.3.1. Những giá trị của công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc ......................... 21
1.3.2. Khoảng trống nghiên cứu và điểm mới của luận án… ...................................... 22
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUAN HỆ THƢƠNG
MẠI HÀNG HÓA TRUNG GIAN.................................................... ....................... 25
2.1. Những vấn đề lý luận về thương mại hàng hóa trung gian.. ................................. 25
2.1.1. Một số khái niệm cơ bản................ .................................................................... 25
2.1.2. Cơ sở lý thuyết về quan hệ thƣơng mại hàng hoá trung gian.......... ................... 27
2.1.3. Phân loại hàng hóa trung gian.... ....................................................................... 39
2.1.4. Các tiêu chí đánh giá quan hệ thƣơng mại hàng hoá trung gian… .................. 43
2.1.5. Đặc điểm của quan hệ thƣơng mại hàng hóa trung gian. ................................. 44
2.1.6. Các nhân tố ảnh hƣởng đến quan hệ thƣơng mại hàng hoá trung gian.. .......... 52
2.2. Cơ sở thực tiễn về quan hệ thương mại hàng hoá trung gian ............................... 55
2.2.1. Mô hình đàn nhạn bay ở Đông Á ....................................................................... 55
2.2.2. Mạng sản xuất nội khối Đông Á và vai trò của thƣơng mại hàng hoá trung
gian ................................................................................................................................ 59
CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN QUAN HỆ
THƢƠNG MẠI HÀNG HOÁ TRUNG GIAN NHẬT BẢN – TRUNG
QUỐC........................................................................................................................... 68
3.1. Khái quát thực trạng quan hệ thương mại song phương Nhật Bản – Trung Quốc
kể từ năm 2001 đến nay ................................................................................................ 68
3.1.1. Tổng quan về quan hệ thƣơng mại Trung Quốc – Nhật Bản kể từ năm 2001
đến nay. ......................................................................................................................... 68
3.1.2. Chính sách của Nhật Bản và Trung Quốc trong phát triển quan hệ thƣơng
mại song phƣơng... ........................................................................................................ 71
KẾT LUẬN .................................................................................. ............................ 149
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ............ ....................... 153
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 154
v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN
: The Association of Southeast Asian Hiệp hội các quốc gia Đông
Nations
AJCEP
: ASEAN-Japan
Nam Á
Comprehensive Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn
Economic Partnership Agreement)
BEC
: Broad Economic Categories
diện ASEAN – Nhật Bản
Phân loại danh mục hàng hóa
theo ngành kinh tế rộng
CAFTA
GMS
: Greater Mekong Subregion
Tiểu vùng sông Mê Công mở
rộng
I/O
: Input – Output Table
Bảng Input – Output
JETRO
: Japan External Trade Organization
Tổ chức Xúc tiến Thương mại
Nhật Bản
KNXNK
:
Kim ngạch xuất nhập khẩu
LTTA
: Long Term Trade Agreement
: National Bureau of Statistics of Tổng cục thống kê Trung Quốc
China
NICs
: Newly Industrialised Countries
Các nước mới công nghiệp hóa
NIEs
: Newly Industrialised Economies
Các nền kinh tế mới công
nghiệp hóa
Hỗ trợ phát triển chính thức
ODA
: Official Development Assistance
OECD
: Organization
for
Economic Tổ chức hợp tác và phát triển
Cooperation and Development
kinh tế
CPTPP
: Comprehensive and Progressive Hiệp định đối tác toàn diện và
Trans – Pacific Partnership
tiến bộ xuyên Thái Bình
Dương
UN
: United Nations
VJEPA
: Vietnam – Japan
Partnership Agreement
WTO
: World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới
XK
:
Xuất khẩu
XNK
Thương mại hàng hoá trung gian và hàng hoá cuối cùng ở
khu vực Đông Á
62
Bảng 3.1
Thương mại hàng hóa Nhật Bản – Trung Quốc (từ số liệu
69
40-41
của Nhật Bản)
Bảng 3.2
Thương mại hàng hóa Trung Quốc – Nhật Bản (từ số liệu
70
của Trung Quốc)
Bảng 3.3
Thương mại hàng hoá trung gian Trung Quốc – Nhật Bản
83
vào các năm 2000, 2012 và 2017
Bảng 3.4
Bảng 4.1
Quá trình phân đoạn sản xuất
35
Hình 2.3
Mô tả đơn giản liên kết thương mại theo chiều dọc và các
giai đoạn sản xuất
48
Hình 2.4
Mô hình đàn nhạn bay của Akamatsu
56
Hình 2.5
Sơ đồ miêu tả một mảng sản xuất ở Đông Nam Á
58
Hình 2.6
Mạng sản xuất Đông Á và vai trò của hàng hóa trung gian
59
Hình 2.7
giai đoạn 1988 – 2012 (trăm triệu USD)
85
Hình 3.5
Thương mại hàng hoá trung gian Nhật Bản – Trung Quốc
trong chuỗi cung ứng Đông Á trong các năm 2002 và 2012
90
ix
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thương mại hàng hóa trung gian luôn chiếm tỷ trọng rất lớn trong nhóm
nước đang phát triển và đóng vai trò rất quan trọng trong liên kết thương mại và sản
xuất theo chiều dọc. Trong nhiều năm qua, Việt Nam luôn đi tìm giải đáp cho câu
hỏi: Việt Nam đang đứng ở đâu trong chuỗi giá trị toàn cầu và làm thế nào để có thể
tham gia sâu vào chuỗi giá trị dài hạn, trong đó hàm ý là gia tăng tỷ trọng xuất khẩu
các hàng hóa trung gian?
Trong số các bạn hàng thương mại lớn của Việt Nam, không thể không nhắc
tới Nhật Bản và Trung Quốc. Năm 2016, kim ngạch thương mại Việt Nam – Trung
Quốc đạt 72 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 22 tỷ USD và nhập khẩu đạt 50 tỷ
USD; trong khi kim ngạch thương mại Việt Nam – Nhật Bản đạt 29,8 tỷ USD, trong
đó xuất khẩu đạt 14,7 tỷ USD và nhập khẩu đạt 15,1 tỷ USD [132]. Nằm trong khu
vực Đông Á, chịu ảnh hưởng ít nhiều từ “mô hình đàn nhạn bay” do Nhật Bản dẫn
đầu, và chịu sự chi phối về các hoạt động thương mại với Trung Quốc khi Việt Nam
ngày càng phụ thuộc vào hàng hoá Trung Quốc với mức độ nhập siêu ngày càng
có tiềm lực kinh tế lớn mạnh.
Đối với Việt Nam, quan hệ thương mại hàng hoá trung gian giữa Việt Nam
và Trung Quốc mang tính cạnh tranh hơn là bổ sung, khiến cho nền kinh tế Việt
Nam ngày càng kém sức cạnh tranh, giá trị gia tăng của sản phẩm rất thấp, thậm chí
Việt Nam gần như “làm thuê” cho các công xưởng sản xuất gia công ở Trung Quốc.
Trong khi đó, mối quan hệ hàng hoá trung gian Việt Nam – Nhật Bản mang tính bổ
sung, nhưng bị hạn chế bởi nhiều yếu tố về khoảng cách công nghệ, trình độ phát
triển kinh tế, sự phụ thuộc vào hàng hoá Trung Quốc. Mối quan hệ thương mại hàng
hoá trung gian ba bên này đang đẩy Việt Nam vào thế bất lợi do chủ yếu tham gia
vào các chuỗi giá trị ngắn, chủ yếu trong ngành công nghiệp khai khoáng, chế biến
thô, sơ chế…, mà chưa vững bước tham gia trong chuỗi giá trị dài (các sản phẩm
chế biến sâu, linh kiện, thiết bị chế tạo, nghiên cứu phát triển, vệ tinh chế tạo…).
Chính vì lý do trên, đề tài “Quan hệ thương mại hàng hóa trung gian Nhật Bản –
Trung Quốc trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI và một số kiến nghị chính sách
cho Việt Nam” là mang tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn, giúp chúng ta hiểu
được bản chất của quan hệ thương mại hàng hóa trung gian Trung Quốc – Nhật
2
Bản, các nhân tố ảnh hưởng đến mối quan hệ này, từ đó rút ra một số bài học kinh
nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam trong việc mở rộng và nâng cao chất
lượng hàng hóa trung gian khi mở rộng quan hệ thương mại với các quốc gia trên
thế giới nói chung và với Nhật Bản, Trung Quốc nói riêng.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu:
Luận án này nghiên cứu quan hệ thương mại hàng hóa trung gian giữa hai
quốc gia Nhật Bản và Trung Quốc từ năm 2001 đến năm 2017, đánh giá các nhân tố
ảnh hưởng đến quan hệ thương mại hàng hoá trung gian giữa hai nước này, từ đó rút
ra bài học kinh nghiệm và hàm ý chính sách đối với Việt Nam trong thúc đẩy quan
Việt Nam
+ Phạm vi không gian: Luận án nghiên cứu quan hệ thương mại hàng hóa
trung gian giữa Nhật Bản – Trung Quốc trong phạm vi không gian khu vực Đông Á.
+ Phạm vi thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2017.
Do độ trễ của các tài liệu thống kê thương mại hàng hoá của hai quốc gia
Nhật Bản và Trung Quốc, cũng như khó truy cập được các tài liệu nghiên cứu cập
nhật của các học giả Nhật Bản, Trung Quốc, quốc tế về thực trạng quan hệ hàng hoá
trung gian Nhật Bản – Trung Quốc; đồng thời các bài báo trong nước và ngoài nước
chỉ phản ánh các tài liệu cập nhật về quan hệ thương mại hàng hoá Nhật Bản –
Trung Quốc, chứ không đủ số liệu để đánh giá quan hệ thương mại hàng hoá trung
gian Nhật Bản – Trung Quốc, nên phạm vi nghiên cứu của luận án dừng lại trong
giai đoạn 2000-2017.
Trong giai đoạn 2000-2017, Trung Quốc thực sự trỗi dậy, đem lại những cơ
hội và thách thức đối với thế giới và khu vực, trong đó có Nhật Bản. Đây cũng là
thời điểm Nhật Bản có những điều chỉnh chính sách hợp tác kinh tế với Trung Quốc
theo hướng cùng có lợi. Hai thập niên đầu thế kỷ XXI cũng chứng kiến sự thay đổi
chính sách thương mại song phương giữa hai nước. Giai đoạn này được đánh dấu
thành hai giai đoạn nhỏ: 2001-2010: quan hệ thương mại Nhật Bản – Trung Quốc
có chiều hướng tích cực trong xu thế năng động của liên kết khu vực và FTA song
phương trong khu vực; giai đoạn 2011-2017: khu vực Đông Á có nhiều biến động
phức tạp, cộng với ảnh hưởng nặng nề từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nên quan
hệ thương mại Nhật Bản – Trung Quốc có sự thay đổi và chuyển hướng.
4
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu:
- Cách tiếp cận nghiên cứu: Luận án sử dụng cách tiếp cận liên ngành dựa
trên các lý thuyết thương mại, hợp tác song phương để đánh giá phân tích quan hệ
thương mại Nhật Bản – Trung Quốc và sử dụng các nhân tố lịch sử, quan hệ quốc
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về quan hệ thương mại hàng hoá trung
gian giữa các quốc gia, tìm hiểu các nhân tố tác động đến quan hệ thương mại hàng
hoá trung gian song phương. Điều này giúp làm rõ hơn các vấn đề liên quan đến
quan hệ thương mại hàng hoá trung gian song phương. Đây là một nội dung quan
trọng trong quan hệ thương mại quốc tế hiện đại nhưng chưa được nghiên cứu tổng
thể và hệ thống trong các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đó.
- Luận án đã đề xuất được khung phân tích về thương mại hàng hóa trung
gian giữa hai quốc gia, áp dụng cho phân tích quan hệ hàng hóa trung gian giữa
Trung Quốc và Nhật Bản. Trong đó, nổi bật là việc xây dựng các tiêu chí đánh giá
về quan hệ thương mại hàng hóa trung gian giữa hai quốc gia.
6. Đóng góp mới của luận án và ý nghĩa thực tiễn của các đóng góp đó
- Luận án đã phân tích thực trạng quan hệ hàng hoá trung gian giữa Nhật Bản
và Trung Quốc. Đây là hai đối tác thương mại hàng hoá trung gian quan trọng của
Việt Nam. Quan hệ hàng hoá trung gian Nhật Bản – Trung Quốc cho thấy sự phụ
thuộc lẫn nhau trong liên kết thương mại Đông Á, trong chuỗi cung ứng và chuỗi
giá trị khu vực Đông Á.
- Phân tích thực trạng quan hệ thương mại hàng hoá trung gian Việt Nam –
Nhật Bản, Việt Nam – Trung Quốc, đưa ra những đánh giá chung, rút ra những bài
học thiết thực từ kinh nghiệm của Trung Quốc và Nhật Bản, từ đó kiến nghị chính
sách cho Việt Nam trong thúc đẩy quan hệ thương mại thương mại hàng hoá trung
gian Việt Nam – Nhật Bản, Việt Nam – Trung Quốc.
- Luận án có ý nghĩa về mặt thực tiễn bởi nghiên cứu thực trạng mối quan hệ
thương mại hàng hoá song phương giữa Nhật Bản và Trung Quốc sẽ làm rõ được sự
phụ thuộc lẫn nhau của hai nước này trong mạng sản xuất khu vực Đông Á, thấy rõ
vai trò và vị trí khác nhau của hai nước này trong liên kết khu vực Đông Á và mạng
sản xuất Đông Á. Việc tìm hiểu bản chất, nguyên nhân và đánh giá các nhân tố tác
động lên mối quan hệ này trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI sẽ giúp Việt Nam
định vị rõ vị trí và những nhiệm vụ cần phải làm trong hệ thống thương mại hàng
hóa trung gian của khu vực, từ đó có thể nâng cấp các ngành sản xuất trong nước,
6
Bản – Trung Quốc từ năm 2001 đến năm 2017 và các chính sách trong phát triển
thương mại song phương. Từ đó, làm căn cứ để phân tích thực trạng, đặc điểm và
7
các nhân tố ảnh hưởng đến thương mại hàng hoá trung gian Nhật Bản – Trung
Quốc. Chương này nhằm làm rõ vai trò của hàng hoá trung gian trong quan hệ song
phương Nhật Bản – Trung Quốc, trong các chuỗi giá trị hàng hoá khu vực và toàn
cầu, sự ảnh hưởng và quan hệ kinh tế thương mại phụ thuộc lẫn nhau giữa hai nước
lớn nhất khu vực Đông Á, từ đó làm cơ sở để rút ra bài học kinh nghiệm và kiến
nghị chính sách cho chương 4.
Chương 4: Quan hệ thương mại hàng hoá trung gian Việt Nam – Trung
Quốc, Việt Nam – Nhật Bản : Bài học và một số kiến nghị chính sách.
Thông qua phân tích khái quát thực trạng thương mại hàng hoá trung gian
giữa Việt Nam – Trung Quốc, Việt Nam – Nhật Bản, chương 4 muốn làm rõ một số
đặc điểm và mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa Việt Nam – Trung Quốc, Việt
Nam – Nhật Bản trong quan hệ thương mại hàng hoá trung gian. Trên cơ sở đó và
dựa vào các kết quả nghiên cứu của các chương trước đó, chương 4 rút ra một số
bài học kinh nghiệm và kiến nghị chính sách cho Việt Nam trong quan hệ thương
mại hàng hoá trung gian với Nhật Bản và Trung Quốc trong thời gian tới.
8
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc
Nghiên cứu về các vấn đề lý thuyết liên quan đến luận án, ở Việt Nam hiện
nay thương mại hàng hóa trung gian được nghiên cứu dưới các thuật ngữ: thương
mại hàng hóa bán thành phẩm, thương mại chiều dọc, thương mại nội bộ ngành…
mạng lưới phân công lao động quốc tế. Tuy nhiên, tác giả ít đề cập đến thương mại
hàng hóa trung gian do phạm vi nghiên cứu của tác giả chỉ tập trung vào nâng cấp
ngành và một số hàm ý cho Việt Nam.
Nghiên cứu về các yếu tố thúc đẩy thương mại và đầu tư nội bộ khu vực,
Lưu Ngọc Trịnh [39] cho rằng có một số nhân tố ảnh hưởng đến thương mại và đầu
tư nội khối, trong đó có chính sách theo đuổi tự do hóa thương mại và đầu tư, FDI
và các công ty đa quốc gia, mạng sản xuất khu vực. Liên kết kinh tế khu vực theo
chiều dọc đã khiến thương mại hàng hóa trung gian trong khu vực Đông Á phát
triển mạnh, xuất khẩu và FDI bổ sung cho nhau và sự chia sẻ sản xuất
(fragmentation of production) từ đó xuất hiện.
Ngô Minh Thanh [36] đã đề cập đến hoạt động FDI sôi nổi ở Đông Bắc Á,
nhất là Trung Quốc, nhờ các công ty xuyên quốc gia và việc phát triển các mạng sản
xuất của các công ty này. Nghiên cứu này đề cập đến hoạt động FDI và hoạt động
phân tán sản xuất của các công ty đa quốc gia (MNCs) ở Đông Bắc Á hơn là đề cập
đến mạng sản xuất ở Đông Bắc Á.
Nghiên cứu về chính sách đối ngoại và hợp tác kinh tế của Nhật Bản và
Trung Quốc đối với khu vực trong những thập niên gần đây, từ đó thấy được quan
điểm hợp tác của hai nước này trong nhiều lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế thương mại.
Ngô Xuân Bình [3, tr. 3-10] đã phân tích sự thay đổi chính sách đối ngoại
của Nhật Bản kể từ sau chiến tranh lạnh, trọng tâm hướng đến các nước ở khu vực
Đông Á, trong đó có Trung Quốc.
Vũ Văn Hà [17] đã làm rõ sự tác động của bối cảnh mới đối với quan hệ
Trung Quốc – ASEAN – Nhật Bản; làm rõ bản chất, đặc điểm và xu hướng phát
10
triển quan hệ Trung Quốc – Nhật Bản, quan hệ ASEAN – Trung Quốc, quan hệ
ASEAN – Nhật Bản và đánh giá thực trạng, triển vọng của hợp tác đa phương giữa
ba thực thể này; làm rõ tác động của sự điều chỉnh chính sách trong quan hệ của ba
phẩm, trong đó quan hệ thương mại Nhật Bản – Trung Quốc đang ngày càng phụ
thuộc vào nhau và Trung Quốc đang dần thay thế Nhật Bản để trở thành đối tác
thương mại lớn nhất của các thành viên ASEAN+3. Ngô Xuân Bình [4] cho rằng,
gia tăng hợp tác kinh tế - một tiền đề quan trọng, trong đó có trao đổi thương mại
hàng hóa nội bộ giữa Nhật Bản – Trung Quốc và Hàn Quốc. Tác giả cũng nhận diện
những lợi ích và trở ngại và những cơ hội hướng tới một FTA Nhật Bản – Trung
Quốc – Hàn Quốc.
Các công trình nghiên cứu trên phần nào cho thấy bức tranh chung về chính
sách và thực trạng quan hệ thương mại hàng hóa trung gian giữa Nhật Bản – Trung
Quốc. Tuy nhiên, trong các tác phẩm trên, quan hệ hàng hóa trung gian được đề cập
khá rời rạc, không theo hệ thống, chưa theo một chủ đề riêng biệt. Vì vậy, rất khó
để đánh giá vai trò của hàng hóa trung gian trong quan hệ thương mại song phương
Nhật Bản – Trung Quốc, cũng như bản chất của mối quan hệ này, nên rất cần phải
có những nghiên cứu kế thừa và chuyên sâu hơn.
Về vấn đề nghiên cứu bài học cho Việt Nam từ quan hệ thương mại hàng
hóa trung gian Nhật Bản – Trung Quốc, các công trình nghiên cứu trong nước
mới chỉ tập trung vào quan hệ thương mại song phương giữa Nhật Bản – Việt Nam
hoặc Trung Quốc – Việt Nam.
Về quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Quốc, Nguyễn Đình Liêm
[26] đã đánh giá tổng quát quá trình phát triển của quan hệ Việt – Trung trước tác
động của một Trung Quốc trỗi dậy và phân tích thực trạng những vấn đề đặt ra như
vấn đề lòng tin chính trị trong quan hệ Việt – Trung; vấn đề nhập siêu của Việt Nam
từ Trung Quốc; vấn đề đầu tư của Trung Quốc tại Việt Nam; vấn đề sức mạnh mềm
văn hóa Trung Quốc; vấn đề quốc phòng - an ninh trong quan hệ Việt - Trung; vấn
đề Biển Đông trong quan hệ giữa hai nước và trên cơ sở đó đã đề ra đối sách xử lý
quan hệ Việt - Trung trong 10 năm tiếp theo của thế kỷ XXI đặt trong bối cảnh
Trung Quốc tiếp tục trỗi dậy.
12
1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc.
Về quan hệ thương mại hàng hóa trung gian, nghiên cứu của Grubel và
Lloyd [68] là một trong những công trình sớm nghiên cứu về mối liên hệ giữa
thương mại hàng hóa trung gian với việc phân đoạn sản xuất quốc tế. Theo Grubel
và Lloyd, nếu quá trình sản xuất có thể được chia thành nhiều giai đoạn, thì mỗi giai
đoạn sản xuất có thể được tiến hành ở nước có lợi thế so sánh trong việc sản xuất
các sản phẩm của giai đoạn đó. Do đó, các quốc gia càng khác biệt nhau về nguồn
lực thì thị phần của thương mại nội ngành theo chiều dọc càng lớn.
Liên quan tới mạng sản xuất và mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và
FDI, Akamastu [47] đã đưa ra mô hình “đàn nhạn bay” dựa trên sự phân công lao
động quốc tế trong vùng. Mô hình này ban đầu mô tả mô hình công nghiệp hoá của
một nước phát triển, nhưng sau đó nó được mở rộng phạm vi áp dụng cho mô hình
công nghiệp hoá, phát triển mạng lưới sản xuất và hợp tác trong khu vực. Sự hợp
tác và phát triển vùng theo mô hình này có thể hình dung dựa trên ba nhóm nhạn
bay theo trình tự rượt đuổi: thứ nhất là Nhật Bản, thứ hai là các nước NICs và tiếp
theo là các nước ASEAN 4 tương ứng với lợi thế so sánh của các nước này trong
vùng. Các ngành công nghiệp cũng chuyển biến một cách tương ứng với các lợi thế
so sánh trên từ các ngành sử dụng nhiều lao động đến các ngành sử dụng nhiều tri
thức và công nghệ. Trong đội hình bay trên, mỗi con nhạn đều nhận được từ Nhật
Bản một cơ cấu công nghiệp tương tự như của Nhật Bản nhưng với độ trễ thời gian
lớn hơn và đến một thời gian nhất định cơ cấu công nghiệp và thương mại vùng có
tính bổ xung lẫn nhau cũng sẽ được hình thành. Ở đây, FDI được xem là hình thức
chủ yếu của sự phát triển mạng lưới sản xuất vùng trên.
Young-Kyung [126] đã đưa ra mô hình về thương mại hàng hóa theo chiều
dọc (vertical trade), trong đó hàng hóa trung gian được trao đổi dựa trên nguyên tắc
lợi thế so sánh và có những đặc điểm chủ yếu trong trao đổi thương mại hàng hóa
trung gian. Bổ sung cho các quan điểm này, Pittiglio [100] đưa ra sự phân biệt giữa
thương mại hàng hóa theo chiều dọc và thương mại hàng hóa theo chiều ngang và
nhiều công trình nghiên cứu đã tiếp cận với các góc độ khác nhau. Nhóm tác giả
Hook, Gilson, Hughes và Dobson [74] đã phân tích bối cảnh quốc tế mới và vai trò
của Nhật Bản trong các mối quan hệ kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế, trong đó
nhấn mạnh một số mối quan hệ quan trọng của Nhật Bản với Mỹ và Đông Á. Hoặc
15
Vyas [116] đưa ra các khái niệm về quyền lực mềm, nghiên cứu mối quan hệ Nhật
Bản – Trung Quốc từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, nghiên cứu quyền lực mềm
trong mối quan hệ Nhật Bản – Trung Quốc trong ba khía cạnh: nhà nước, chính
quyền địa phương và các tổ chức phi chính phủ. Thêm vào đó, Urata [113] đã phân
tích thực trạng mối quan hệ thương mại và đầu tư của Nhật Bản với khu vực Đông
Á, trong đó có Trung Quốc, Việt Nam; chiến lược FTA của Nhật Bản với Đông Á
và cơ hội đối với xuất khẩu hàng hóa trong khu vực. Katayama [79] đã phân tích
các giai đoạn phát triển của mối quan hệ Nhật Bản và Trung Quốc, những rào cản
trong phát triển mối quan hệ đó hiện nay.
Tác giả Hideo [71] đã phân tích vai trò nổi lên của Trung Quốc đối với
hoạt động xuất nhập khẩu Trung Quốc – Nhật Bản, các nhân tố ảnh hưởng đến
mô hình đàn nhạn bay, cơ hội và thách thức đối với Nhật Bản. Gần hơn nữa,
nhóm tác giả Du, Xiao và Sheng [60] đã phân tích thực trạng của mối quan hệ
kinh tế - thương mại Trung Quốc – Nhật Bản, những nhân tố bổ sung cho mối
quan hệ này và triển vọng.
Liên quan trực tiếp đến thương mại hàng hóa trung gian Nhật Bản –
Trung Quốc, chỉ có ít một số tác phẩm đề cập đến vấn đề này. Tổ chức thương mại
thế giới (WTO) và Cục xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) [118] trong ấn
phẩm “Trade patterns and global value chains in East Asia: from trade in goods to
trade in tasks” đã giành một chương (Chương XIII) để phân tích về thương mại
hàng hóa trung gian, trong đó có nhấn mạnh đến các sản phẩm hàng hóa trung gian
của châu Á và mối quan hệ thương mại ba bên Mỹ – Nhật Bản –Trung Quốc. Trong