Tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA trong ngành giáo dục ở Việt Nam giai đoạn 1998-2009 - Pdf 25


i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

VŨ THỊ VÂN ANH

TÌNH HÌNH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN
ODA TRONG NGÀNH GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1998 - 2009
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Hà Nội - Năm 2010 iii
MỤC LỤC
Trang
Danh mục viết tắt…………………………………………………………… i
Danh mục các bảng, biểu…………………………………………………… ii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN ODA ĐỐI VỚI NGÀNH
GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM 4
1.1.1 Khái niệm về ODA …………………………………………………… .4
1.1.2. Nguồn gốc lịch sử của ODA ………………………………………… .4
1.1.3. Các điều kiện cơ bản để được nhận tài trợ nguồn vốn ODA 5
1.1.4. Mục tiêu của ODA …………………………………………………… 5
1.1.5. Ưu đãi và trục lợi của ODA 7
1.1.6. Phân loại ODA 8
1.1.7. Các nhà tài trợ ODA 10
1.2. Các khâu chủ yếu trong quá trình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA 12
1.2.1. Thu hút ODA 12
1.2.2. Giải ngân ODA 13
1.2.3 Sử dụng ODA 14
1.3 Đặc điểm và vai trò của ODA trong ngành giáo dục 14
1.3.1. Đặc điểm 14
1.3.2 Vai trò của nguồn vốn ODA đối với ngành giáo dục ở Việt Nam. 17
1.4 Các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục 19
1.4.1. Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước 19
1.4.2. Nguồn vốn đóng góp của các doanh nghiệp 22
1.4.3 Nguồn vốn đóng góp của nhân dân 22
1.4.4 Nguồn vốn đóng góp của tổ chức xã hội 22

3.1.1. Mục tiêu chung phát triển giáo dục Việt Nam thời kỳ 2001- 2015 71

v
3.1.2 Những triển vọng, cơ hội thu hút và sử dụng ODA trong ngành giáo dục … 72
3.1.3.Cơ hội trong thu hút ODA trong giáo dục …………………… …………74
3.1.4. Những thách thức trong thu hút vào sử dụng nguồn ODA trong giáo dục 75
3.2 Một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng thu hút và hiệu quả sử
dụng vốn ODA trong ngành giáo dục đào tạo ở Việt Nam trong thời gian
tới 76
3.2.1. Về phía nhà nước 76
3.2.2. Về phía nhà tài trợ 83
3.2.3. Đẩy mạnh công tác theo dõi và đánh giá dự án .85
KẾT LUẬN 87
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG - BIỂU ĐỒ

A. CÁC BẢNG

STT
DANH MỤC
TRANG
1
Bảng 1.1: Ngân sách nhà nước cho giáo dục.
20

chính phủ
48

B. BIỂU ĐỒ

STT
DANH MỤC
TRANG
1
Biểu đồ 1.1Quy mô đào tạo trong các năm 2000 - 2009 (Bộ GD
và ĐT)
21
2
Biểu đồ1.2: Ngân sách Nhà nước chi cho giáo dục - đào tạo năm
2000 - 2008.

21

Biểu đồ 2.1: Cam kết ODA cho ngành giáo dục Việt Nam so với
tổng cam kết ODA giai đoạn 1998 - 2009
30
3
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ giải ngân ODA trong ngành giáo dục so với tỷ
lệ giải ngân chung giai đoạn 1998 - 2009

31

4
Biểu đồ 2.3: Mục tiêu đầu tư cho giáo dục giai đoạn 2010- 2015
34

Development
Assistance Committee
Uỷ ban hỗ trợ phát triển
5
WB
World Bank
Ngân hàng thế giới
6
ADB
Asian Devolopment
Bank
Ngân hàng phát triển
Châu Á
7
THCS

Trung học cơ sở
8
THPT

Trung học phổ thông
9
TH

Tiểu học
10
THDN

Trung học dạy nghề
11

và sử dụng nguồn vốn ODA trong ngành giáo dục đã góp phần cải thiện môi
trường giáo dục ở Việt Nam song đồng thời cũng vẫn còn tồn tại nhiều vướng
mắc và trở ngại. Do đó, việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA như thế nào
để có hiệu quả cho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển
ngành giáo dục nói riêng là những vấn đề cấp thiết của đất nước, nên cần
được nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay có nhiều tài liệu đề cập đến đề tài thu hút và sử dụng nguồn
vốn ODA nói chung và trong ngành giáo dục nói riêng về cả chiều sâu và
chiều rộng. Đề tài này mang tính chất nghiên cứu, phân tích và tổng hợp tình

2
hình thực tế thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA trong giáo dục những năm
gần đây (1998-2009).
3. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung vào nghiên cứu những vấn đề chung về ODA và
tình hình thu hút và sử dụng ODA trong ngành giáo dục ở Việt Nam giai đoạn
hiện nay, cụ thể luận văn nhấn mạnh:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về ODA.
- Nghiên cứu tổng quát về vai trò của nguồn vốn ODA đối với
ngành giáo dục ở Việt Nam.
- Phân tích tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA trong
ngành giáo dục ở Việt Nam giai đoạn 1998 - 2009
- Từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường khả
năng thu hút và hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA trong ngành giáo dục ở
Việt Nam trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu về vấn đề thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA
trong ngành giáo dục ở Việt Nam những năm gần đây - Thực trạng và giải
pháp. Đây là một vấn đề có liên quan đến nhiều nhà tài trợ thuộc nhiều tổ

4
CHƢƠNG 1: VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN ODA ĐỐI VỚI NGÀNH
GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM 1.1 Khái niệm về ODA
1.1.1 Khái niệm về ODA
Hiện nay, trên thế giới có nhiều cách hiểu khác nhau về ODA. Theo
định nghĩa của Cơ chế quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA (ban hành kèm
theo Nghị định 17/2001/NĐ - CP ngày 04/05/2001 của Chính phủ) thì hỗ trợ
phát triển chính thức (ODA) là sự hợp tác phát triển giữa nước CHXHCN
Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế, bao gồm các hình
thức chủ yếu sau:
- Hỗ trợ cán cân thanh toán.
- Hỗ trợ theo chương trình.
- Hỗ trợ kỹ thuật.
- Hỗ trợ theo dự án.
ODA có thể ở dạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện

- Điều kiện thứ nhất: GDP bình quân trên đầu người thấp, đặc biệt là các
nước có mức GDP bình quân trên đầu người dưới 220 USD/ năm.
- Điều kiện thứ hai: Mục tiêu sử dụng vốn của nước tiếp nhận phù hợp
với chính sách bên cấp ODA về phương hướng ưu tiên sử dụng.
1.1.4. Mục tiêu của ODA
Kể từ khi ra đời cho đến nay, viện trợ ODA luôn chứa đựng hai mục
tiêu cùng tồn tại song song.
- Mục tiêu thứ nhất: Thúc đẩy tăng trưởng bền vững và giảm nghèo ở
những nước đang phát triển. Động cơ đã thúc đẩy các nhà tài trợ đề ra mục
tiêu này là do bản thân các nước phát triển nhìn thấy lợi ích của mình trong

6
việc hỗ trợ, giúp đỡ các nước đang phát triển để mở mang thị trường tiêu thụ
sản phẩm và thị trường đầu tư. Viện trợ thường gắn với các điều kiện kinh tế.
Mỹ cũng như nhiều nhà tài trợ khác qui định phải dùng khoản tiền viện trợ
của họ để mua hàng hoá của Mỹ, hoặc trực tiếp lấy hàng hoá dư thừa của Mỹ
thay cho khoản viện trợ. Mỹ còn đòi nước nhận viện trợ cung cấp vật tư
chiến lược trọng yếu, dành cho Mỹ những điều kiện đầu tư thuận lợi. Xét về
lâu dài, các nhà tài trợ sẽ có lợi về mọi mặt: an ninh, kinh tế, chính trị khi các
nước nghèo tăng trưởng. Mối quan tâm mang tính cá nhân này được kết hợp
với tinh thần nhân đạo, tính cộng đồng. Vì một số vấn đề mang tính toàn cầu
như sự bùng nổ dân số thế giới, bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, phòng
chống dịch bệnh, giải quyết các xung đột sắc tộc, tôn giáo đòi hỏi sự hợp
tác, nỗ lực của cộng đồng quốc tế, không phân biệt nước giàu nước nghèo.
- Mục tiêu thứ hai: Tăng cường lợi ích chính trị của các nước tài trợ. Các
nước phát triển sử dụng nguồn vốn ODA như một công cụ chính trị, xác định
vị trí và ảnh hưởng của mình tại các nước và khu vực tiếp nhận nguồn vốn
ODA. Mỹ là một trong những nước dùng nguồn vốn ODA làm công cụ để
thực hiện ý đồ gây “ảnh hưởng chính trị trong thời gian ngắn”. Chính sách
viện trợ của Mỹ nhằm một mặt dùng viện trợ kinh tế để bày tỏ sự thân thiện,

dụng nhiều hình thức khác nhau để làm “mềm” khoản vay, chẳng hạn kết hợp
một phần ODA không hoàn lại và một phần tín dụng gắn với điều kiện
thương mại thành tín dụng hỗn hợp.
Tính ưu đãi của ODA còn được thể hiện ở chỗ nó chỉ dành cho những
nước đang và chậm phát triển, vì mục tiêu phát triển.
Thông thường, mỗi nước cung cấp viện trợ đều có những chính sách
riêng của mình, họ tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khả
năng (về công nghệ, kinh nghiệm quản lý …). Đồng thời, mục tiêu ưu tiên

8
của các nước cung cấp ODA cũng có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể.
Vì vậy, nắm được hướng ưu tiên và tiềm năng của các nước, các tổ chức cung
cấp ODA là rất cần thiết.
Trục lợi của ODA:
Các nước viện trợ đều không quên mưu cầu lợi ích cho mình, vừa gây
ảnh hưởng chính trị, vừa đem lại lợi nhuận cho hàng hoá, dịch vụ, và tư vấn
trong nước. Bỉ, Đức và Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua
hàng hoá và dịch vụ của nước mình. Canada yêu cầu cao nhất (tới 65%);
Thuỵ Sĩ chỉ yêu cầu 1,7%, Hà Lan 2,2%, hai nước này được coi là những
nước có tỷ lệ ODA yêu cầu phải mua hàng hoá và dịch vụ của nhà tài trợ thấp
và thấp hơn cả là New – Zealand 0%. Nhìn chung, 22% viện trợ của DAC
phải được sử dụng để mua hàng hoá và dịch vụ của các quốc gia viện trợ.
1.1.6. Phân loại ODA
Tuỳ theo từng tiêu chí phân loại mà người ta có thể phân loại ODA như sau:
Theo tính chất:
- Viện trợ không hoàn lại: các khoản cho không, không phải trả lại.
- Viện trợ có hoàn lại: các khoản cho vay ưu đãi (vay tín dụng với điều
kiện “mềm”).
- Viện trợ hỗn hợp: Gồm một phần cho không, phần còn lại thực hiện
theo hình thức vay tín dụng.

+ Viện trợ chương trình: là khoản ODA dành cho một mục đích tổng
quát với thời gian nhất định mà không phải xác định một cách chính xác nó
sẽ được sử dụng như thế nào.

10
1.1.7. Các nhà tài trợ ODA
Hiện nay có nhiều nước và tổ chức quốc tế cho vay, cung cấp tài trợ
ODA. Nhìn chung các nước đều có chiến lược tài trợ riêng, đồng thời cũng
có những điều kiện về thủ tục, quy chế cung cấp tài trợ khác nhau. Tiềm lực
kinh tế là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến lượng vốn cho vay. Tuy
nhiên, nguồn vốn vay và cung cấp tài trợ còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố:
- Quan điểm chính trị, quan điểm cộng đồng rộng rãi dựa trên vấn đề
nhân đạo và mối quan tâm đến việc ổn định tình hình kinh tế xã hội quốc tế.
- Mối quan hệ truyền thống đối với các nước khác.
- Tầm quan trọng của các nước đang phát triển với tư cách bạn hàng (thị
trường, nơi cung cấp nguyên vật liệu, lao động).
- Chính sách đối ngoại, an ninh, lợi ích kinh tế xã hội.
- Các nhà tài trợ ODA gồm các nước viện trợ song phương và các tổ
chức viện trợ đa phương
a. Các nước thành viên Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV, CMEA):
Trong hai thập kỷ qua, Liên Xô (cũ) là nước viện trợ ODA lớn nhất cho
Việt Nam: 12,6 tỷ Rup chuyển nhượng. Nhưng đến năm 1990. Liên Xô (cũ )
tan rã, kéo theo các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, CMEA giải thể
khiến cho nguồn tài trợ này bị chấm dứt.
b. Các nước thuộc tổ chức OECD:
Nguồn vốn ODA có nguồn gốc chủ yếu từ các nước OECD. Tổ chức
hợp tác và phát triển kinh tế OECD gồm 24 nước thành viên, là những nước
công nghiệp phát triển, những nước xuất khẩu tư bản và cung cấp ODA cho
các nước đang phát triển, gồm: Anh, áo, Bỉ, Bồ Đào Nha, Canada, Đan Mạch,
Đức, Hà Lan, Mỹ, Nhật Bản, Newzealand, Na Uy, Pháp, Phần Lan, Tây Ban

12
mà EU coi trọng là dân số, bảo vệ môi trường, phát triển dịch vụ, phát triển
nguồn nhân lực, xoá đói giảm nghèo.
f. Các tổ chức phi chính phủ (NGOs - Non Governmental Organization):
Trên thế giới hiện có hàng trăm tổ chức NGOs hoạt động theo các tôn
chỉ, mục đích khác nhau: nhân đạo, tri thức, y tế, tôn giáo. Các tổ chức phi
chính phủ thường có số vốn nhỏ, chủ yếu dựa vào nguồn quyên góp hoặc nhờ
sự tài trợ của các chính phủ, thường muốn hoạt động giữa các cá nhân với cá
nhân của nước viện trợ và các nước nhận viện trợ. Quy mô viện trợ thường
nhỏ, khả năng cung cấp viện trợ và thực hiện viện trợ thay đổi tuỳ từng thời
kỳ nhưng thủ tục viện trợ thường đơn giản, thực hiện lại nhanh.
h. Các tổ chức tài chính quốc tế:
- Ngân hàng thế giới (WB - World Bank):
- Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB - Asian Development Bank)
- Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF - International Monetary Fund)
- Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC)
1.2. Các khâu chủ yếu trong quá trình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA.
Từ tình hình tiếp cận và sử dụng nguồn vốn ODA trong thời gian qua có
thể nhận xét rằng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA là một quá trình với
nhiều công việc khác nhau, có thể biểu đạt thành 3 khâu chủ yếu:
- Thu hút ODA
- Giải ngân ODA
- Sử dụng ODA
1.2.1. Thu hút ODA
Đây chính là quá trình vận động các nhà tài trợ để có thể có được
nguồn tài trợ ODA. Quá trình vận động ODA này có thể được tiến hành ở
nhiều cấp khác nhau. Đó là thông qua các diễn đàn như Hội nghị nhóm tư vấn
vì hỗ trợ phát triển dành cho Việt Nam, các hội nghị điều phối viện trợ ngành,

13

Sau khi đã thu hút được nguồn vốn ODA, công việc giải ngân cũng đã
bắt đầu tiến hành thì việc sử dụng nguồn vốn ODA như thế nào là rất quan
trọng, quyết định hiệu quả của toàn bộ công việc. Số vốn ODA đã được giải
ngân sẽ được Chính phủ lên kế hoạch phân bố sử dụng cho các ngành, lĩnh
vực, dựa trên yêu cầu phát triển của ngành cũng như của đất nước. Từ đó, các
bộ ngành lại lên những kế hoạch cụ thể theo định hướng ưu tiên cho các vấn
đề cần giải quyết trước. Đồng thời, từ trung ương đến địa phương phải lập ra
bộ máy quản lý hệ thống các vấn đề, các chương trình, dự án có liên quan đến
nguồn vốn ODA. Hệ thống quản lý này sẽ thường xuyên theo dõi, giám sát
xem nguồn vốn ODA đã được phân bổ cho các ngành, các lĩnh vực được sử
dụng như thế nào, từ đó rút ra những kết quả đã đạt được và những vấn đề cần
khắc phục. Tất cả những công việc trên luôn được tiến hành phối hợp giữa hai
phía là Việt Nam và phía nhà tài trợ nước ngoài.
1.3 Đặc điểm và vai trò của ODA trong ngành giáo dục
1.3.1. Đặc điểm
Như đã nêu trong khái niệm ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại,
viện trợ có hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi. Do vậy, ODA nói chung và ODA
trong giáo dục nói riêng có những đặc điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, vốn ODA mang tính ưu đãi
Vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn dài), có thời gian ân hạn
dài. Chẳng hạn, vốn ODA của ƯB, ADB, JBIC có thời gian hoàn trả là 40
năm và thời hạn là 10 năm.
Thông thường, trong ODA có thành tố viện trợ không hoàn lại (cho
không) tức là nhận viện trợ không có nghĩa vụ pháp lý phải trả khoản viện trợ,
đây cũng chính là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại. Thành
tố cho không được xác định dựa vào thời gian cho vay, thời gian ân hạn, so

15
sánh lãi suất viện trợ với mức lãi suất tín dụng thương mại. Sự ưu đãi ở đây là
so sánh với tập quán thương mại quốc tế. Đối với Việt Nam, một khoản được

Thứ ba, vốn ODA mang yếu tố chính trị
Các nước viện trợ nói chung đều không quên dành được lợi ích cho
mình vữa gây ảnh hưởng chính trị vừa thực hiện xuất khẩu hàng hoá và dịch
vụ tư vấn vào nước tiếp nhận viện trợ. Chẳng hạn, Bỉ, Đức và Đan Mạch yêu
cầu khoảng 50% viện trợ phải mua hàng hoá dịch vụ của nước mình. Canada
yêu cầu tới 65%. Nhìn chung 22% viện trợ của DAC phải được sử dụng để
mua hàng hoá và dịch vụ của các quốc gia viện trợ.
Kể từ khi ra đời tới nay, viện trợ luôn chứa đựng hai mục tiêu cùng tồn
tại song song:
- Mục tiêu thứ nhất là thúc đẩy tăng trưởng bền vững và giảm nghèo ở
các nước đang phát triển. Động cơ nào đã thúc đẩy các nhà tài trợ đề ra mục
tiêu này? Bản chất các nước phát triển nhìn thấy lợi ích của mình trong việc
hỗ trợ, giúp đỡ các nước đang phát triển để mở mang thị trường tiêu thụ sản
phẩm và thị trường đầu tư. Viện trợ thường gắn với các điều kiện kinh tế xét
về lâu dài, các nhà viện trợ sẽ có cài lợi về mặt an ninh, kinh tế, chính trị khi
kinh tế nước nghèo tăng trưởng. Mục tiêu mang tính cá nhân này được kết
hợp với tinh thần nhân đạo, tính cộng đồng. Vì một số vấn đề mang tính
toàn cầu như sự bùng nổ dân số thế giới, bảo vệ môi trường sống, bình
đẳng giới, phòng chống dịch bệnh, giải quyết xung đột sắc tộc, tôn giáo v.v
đòi hỏi sự hợp tác, nỗ lực của cả cộng đồng quốc tế không phân biệt nước
giàu, nước nghèo.
- Mục tiêu thứ hai là tăng cường vị thế chính trị của các nước tài trợ. Các
nước phát triển sử dụng ODA như một công cụ chính trị: xác định vị thế và
ảnh hưởng của mình tại các nước khu vực tiếp nhận ODA . Ví dụ, Nhật Bản

17
hiện là nhà tài trợ hàng đầu thế giới và cúng là nhà tài trợ đã sử dụng ODA
như một công cụ đa năng về chính trị và kinh tế. ODA của Nhật không chỉ
đưa lại lợi ích cho nước nhận mà còn mang lại lợi ích cho chính họ, các
khoản vay tính bằng đồng Yên và gắn với những dự án có các công ty Nhật

lệ này hiện nay ở Trung Quốc là 16,6%; ở Nhật Bản là 16,7%; Singapore
18,1%; Hàn Quốc 19,6%; Thái Lan và Malaysia đều trên 20%. Vì thế trong
tình hình muốn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
như hiện nay thì Việt Nam cần đẩy mạnh các chương trình hợp tác quốc tế
trong giáo dục - đào tạo, tranh thủ mọi nguồn lực, đặc biệt là nguồn vốn
ODA, qua đó có thể thấy rõ rằng nguồn vốn ODA đóng một vai trò rất quan
trọng trong phát triển giáo dục ở Việt Nam.
Ngay sau khi thống nhất đất nước, trong các nhà tài trợ ODA thì
UNICEF là một trong những tổ chức quốc tế đầu tiên đến giúp đỡ ngành giáo
dục. Sự hỗ trợ của giai đoạn viện trợ khẩn cấp sau năm 1975 tập trung vào sự
giúp đỡ về cơ sở vật chất cho trường học như: giúp xây dựng 12 xưởng đóng
bàn ghế, 78 trung tâm giáo dục lao động hướng nghiệp, xây dựng 3074 phòng
học, trang thiết bị cho 38 trường cao đẳng sư phạm, 40 trường mẫu giáo, 41
trường trung học sư phạm, 41 trường thực hành. Nhờ có sự giúp đỡ trong giai
đoạn đầu này mà cơ sở vật chất ngành giáo dục được cải thiện đáng kể, làm
tiền đề cho những sự phát triển của giáo dục sau này.
Kể từ năm 1993 đến nay, nguồn vốn ODA tài trợ cho giáo dục tăng lên
nhờ sự tài trợ của các tổ chức viện trợ đa phương cũng như các nước viện trợ
song phương. Nhờ có nguồn vốn ODA mà không những quy mô giáo dục
không ngừng tăng lên mà chất lượng giáo dục cũng đã có nhiều chuyển biến
tích cực, giúp thực hiện vấn đề xã hội hoá giáo dục cũng như công bằng xã
hội trong giáo dục. Nhờ thế mà vị thế của giáo dục Việt Nam dần được nâng

Trích đoạn Tổng quan về thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA trong ngành giáo dục ở Theo qui mô Theo các cấp và loại hình đào tạo Theo các nhà tài trợ Đẩy mạnh công tác theo dõi và đánh giá dự án
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status