"Một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA để phát triển kết cấu hạ tầng đô thị thành phố Hà Nội". - Pdf 47

Mở đầu
Nằm trong khu vực Châu á - Thái Bình Dơng, Nhật Bản
và Việt Nam là hai quốc gia có điều kiện tự nhiên khác
nhau. Từ một quốc gia hải đảo nghèo tài nguyên thiên
nhiên, con đờng phát triển phải dựa vào bên ngoài nhng
Nhật Bản đã trở thành một quốc gia có nền kinh tế lớn thứ
hai trên thế giới. Không chỉ có nền kinh tế lớn, Nhật Bản còn
là một quốc gia có trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến, hiện
đại, một trung tâm công nghiệp và thế giới, có nguồn dự trữ
khổng lồ.
Việt Nam, Một quốc gia nhỏ bé nằm trong khu vực
Đông Nam Châu á, tài nguyên thiên nhiên phong phú, nhân
dân siêng năng cần cù, trải qua nhiều cuộc chiến tranh giữ n-
ớc, hiện nay đang trên đà đổi mời và phát triển.
Để thực hiện quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá,
sự giúp đỡ của Nhật Bản đối với Việt Nam để giảm bớt những
hạn chế và khó khăn trong việc đổi mới và tiến hành nhanh
hơn và đúng hớng là rất cần thiết, đặc biệt là về vốn và kỹ
thuật. Và để thực hiện mục tiêu tăng gấp đôi thu nhập quốc
dân dầu ngời từ nay đến năm 2000, Việt Nam cần khoảng 50
tỷ USD vốn đầu t. Trong khi đó, vốn trong nớc chỉ đáp ứng
50% nhu cầu vì vậy chỉ có thể trông chờ vào đầu t nớc ngoài.
Việc thu hút vốn đầu t của các nớc phát triển - các cờng quốc
nh Nhật Bản là việc hết sức là quan trọng.
Trong bài viết này, em muốn nhấn mạnh đến trực tiếp
đầu t của Nhật Bản vào Việt Nam trong giai đoạn từ 1986
đến nay. Đây là giai đoạn Việt Nam bắt đầu tiến hành công
cuộc đổi mới và bớc đầu đã có những kết quả tốt đẹp. Em xin
trân trọng cảm ơn thầy giáo đã giúp em rất nhiều trong bài
viết này.
1

hoạt động sử dụng vốn đầu t. Hình thức đầu t trực tiếp nớc ngoài gắn
liền với sự r a đời cuả các công ty xuyên quốc gia. Số lợng các Công ty
xuyên quốc gia và các chi nhánh của chúng đã tăng lên một cách nhanh
chóng, đặc biệt là sau chiến tranh thế giới lần thứ hai. Theo thống kê
của liên hiệp quốc, hiện nay trên thế giới có khoảng 37.000 Công ty với
170.000 chi nhánh. Con số này đã chứng tỏ sự phát triển mạnh mẽ cuả
đầu t trực tiếp nớc ngoài tgrong thời gian qua. Đầu t trực tiếp nớc ngoài
đã trở thành một xu thế tất yếu trong điều kiện quốc tế hoá sản xuất và
lu thông. Có thể nói trong thời đại ngày nay, không một quốc gia nào dù
lớn hay nhỏ, dù phát triển theo con đờng t bản chủ nghĩa hay định hớng
xã hội chủ nghĩa lại không cần đền đầu t trực tiếp nớc ngoài. Dới tác
động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, ngay cả những nớc có
tiềm lực kinh tế, khoa học kỹ thuật mạnh nh Mỹ, các nớc Tây Âu và
Nhật Bản cũng không thể tự mình giải quyết những vấn đề đã, đang và
tiếp tục đặt ra trên lĩnh vực khoa học công nghệ và tiếp tục đặt ra trên
lĩnh vực khoa học công nghệ và vốn. Do đó, con đờng hợp tác có hiệu
qảu. Mọi quốc gia đều coi đó là một nguồn lực quốc tế cần khai thác để
từng bớc hoà nhập vào cộng đồng quốc tế.
2. Những nhân tố thúc đẩy đầu t và nhận đầu t trực
tiếp.
2.1. Đối với quốc gia đi đầu t.
Thứ nhất, để mở rộng thị trờng tiêu thụ, ngay tại nớc chủ đầu t,
nhà đầu t có thể đã có một vị trí nhất định trên thị trờng . Cũng có thể
loại hàng hoá hoặc dịch vụ mà nhà đầu t có cung cấp đang bị cạnh tranh
3
gay gắt tại thị trờng trong nớc. Việc tìm kiếm những thị trờng ngoại nớc
với những nhu cầu lớn về loại hàng hoá hoặc dịch vụ của nhà đầu t sẽ
đáp ứng đợc việc mở rộng sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ. Ngoài
ra, các chủ đầu t có thể có lợi thế độc quyền nhờ sở hữu một nguồn lực
hay kỹ thuật mà các đối thủ cạnh tranh của họ không có đợc ở thị trờng

mâu dịch trên Thế giới ngày càng gia tăng, đặc biệt là ở các nớc công
nghiệp phát triển. Đầu t ra nớc ngoài là biện pháp hữu hiệu để xâm nhập
chiếm lĩnh thị trờng và tránh đợc các hàng rào bảo hội mậu dịch giúp
các chủ đầu t giảm bớt chi phí sản xuất nhằm tránh đợc các trớng ngại
cho việc tiêu thụ hàng hoá hay dịch vụ của mình nh tránh đợc thuế nhập
khẩu, hạn ngạch.
2.2. Đối với quốc gia nhận đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài không những đáp ứng đợc nhu cầu và lợi
ích của nớc chủ đầu t mà còn giữ một vai trò quan trọng trong sự phát
triển kinh tế của nớc tiếp nhận đầu t.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài cung cấp cho nớc chủ nhà một nguồn
vốn lớn để bù đắp sự thiếu hụt nguồn vốn trong nớc. Hầu hết các nớc,
nhất là các nớc đang phát triển đều có nhu cầu vốn để thực hiện công
nghiệp hoá và nâng cao tốc độ tăng trởng kinh tế. Nhiều nớc đã thu hút
đợc một lợng vốn nớc ngoài lớn từ đầu t trực tiếp để giải quyết khó khăn
về vốn và do đó đã thực hiện tốt quá trình công nghiệp hoá đất nớc.
Cùng với việc cung cấp vốn là kỹ thuât. Qua thực hiện đầu t trực
tiếp nớc ngoài, các chủ đầu t đã chuyển giao công nghệ từ các chi
nhánh, nhà máy của học ở nớc khác sang nớc chủ nhà. Mặc dù sự
chuyển giao này còn nhiều mặt hạn chế do những yếu tố chủ quan và
khách quan chi phối song điều không thể phủ nhận là chính nhờ có sự
chuyển giao đố mà các nớc đang phát triển có điều kiện tốt hơn để khai
thác các thế mạnh sẵn có về tài nguyên thiên nhiên, tăng sản xuất, sản l-
5
ợng và khả năng cạnh tranh với các nớc khác trên thị trờng Thế giới
nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Với việc thiết lập các cơ sở sản xuất ở nớc sở tại, chủ đầu t cần sử
dụng lao động ở chính nơi đây. Sự xuất hiện hang loạt các nhà máy mới,
nông trại mới đã thu hút đợc nhiều lao động vào làm việc. Hơn thế nữa,
các nhà đầu t nớc ngoài còn phải đào tạo những ngời lao động thành

ren mất ổn định cho nền kinh tế nớc chủ nhà. Nhiều nhà đầu t
nớc ngoài đã lợi dụng những sở hở trong luật pháp sử tại để
trốn thuế, xâm phạm lợi ích của nớc chủ nhà.
Mặc dù vậy, những hạn chế của đầu t trực tiếp nớc ngoài không
thể phủ nhận đợc vai trò tích cực của nó đối với cả nớc chủ đầu t và nớc
nhận đầu t. Vấn đề là ở chỗ các nớc tiếp nhận đầu t phải kiểm soát đầu
t trực tiếp nớc ngoài một cách hữu hiệu để phát huy mặt tích cực và hạn
chế mặt tiêu cực của nó.
7
chơng II
Đầu t trực tiếp của nhật bản vào Việt
Nam
1. vài nét về quan hệ kinh tế Việt Nam - nhật
bản
Ngày 21 tháng 09 năm 1973, Việt Nam và Nhật Bản chính thực
thiết lập quan hệ ngoại giao đánh dấu sự tiếp nối các quan hệ giao lu
vốn có từ lâu đời giữa hai nớc. Từ những thế kỷ trớc, nhiều thơng gia
Nhật Bản đã đến buôn bán và kinh doanh ở Việt Nam. Phố Hiến (Miền
Bắc), Hội An (miền trung) là những địa danh ghi đạm dấu ấn của các
mối quan hệ giao lu đó.
Sau khi Việt Nam hoàn toàn thống nhất, mối quan hệ giữa hai nớc
có cơ hội phát triển toàn diện cả về ngoại giao , chính trị, kinh tế và các
lĩnh vực khác. Trong giai đoạn này mối quan hệ về kinh tế chủ yếu là
trao đổi thơng mại và viện trợ.
Về thơng mại, năm 1976 Nhật là bạn hàng lớn thứ 2 của Việt Nam
sau Liên Xô, Việt Nam đã xuất sang Nhật khối lợng hàng hoá trị giá
44,5 triệu USD, chiếm 40% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
sáng khu vực 2. Việt Nam nhập khối lợng bằng 184,5 triệu, 247 triệu và
268 triệu USD (
1

Về viện trợ, mối quan hệ này đã có từ trớc 1975, trong thời gian
đó, Nhật Bản đã chính thức viện trợ theo chơng trình cho Việt Nam
DCCH. Sau khi Việt Nam thống nhất, tổng số viện trợ của Nhật Bản
trong hai năm 1975 - 1976 là 15 triệu USD. Để tăng cờng thúc đẩy buôn
bán trong hai năm tiếp theo, Nhật Bản đã quyết định cho Việt Nam vay
tiền với lãi suất thấp thông qua các cơ quan hợp tác quốc tế của Nhật
Bản, hứa cung cấp cho Việt Nam một khoản viện trợ không hoàn lại là
16 tỷ yên trong 4 năm và các khoản cho vay khoảng 20 tỷ yên. Việc
Nhật Bản quyết định trì hoãn kế hoạch tài trợ 14 tỷ yên (trong đó có 4 tỷ
yên viện trợ không hoàn lại và cho vay 10 tỷ yên) vào cuối năm 1978
báo hiệu 1 thời kỳ xấu đi trong quan hệ của hai nớc. Thời ký 1979 -
2
Dơng Phú Hiệp - đã dẫn - Trang 8
3
Đỗ Đức Định - Quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản đang phát triển - Nhà xuất bản KH-XH Hà Nội
1996 - Trang 8
9
1992 là thời kỳ Nhật Bản thực hiện chủ trơng đông cứng tài trợ kinh
tế nhng không đình chỉ các cuộc tiếp xúc ngoại giao và viện trợ nhân
đạo đợc thể hiện Nhật Bản tiếp tục viện trợ cho Việt Nam một khoản trị
giá 130.000 USD dới hình thức viện trợ nhân đạo sử dụng mua hàng của
của Nhật nh xe tải hạng nặng, ô tô điện, máy ủi và các loại hàng há
khác cần thiết cho việc xây dựng lại nền kinh tế Việt Nam và cho phép
một cách không chính thức các Công ty Nhật Bản tiếp tục buôn bán với
Việt Nam.
Tới đầu những năm 1990 cuộc chiến tranh lạnh kết thúc, nền kinh
tế Việt Nam từng bớc thoát khỏi khủng hoảng và quan hệ ngoại giao của
Việt Nam với nhiều quốc gia phơng Tây và các tổ chức quốc tế đợc bình
thờng hoá. Vào năm 1992, chính phủ Nhật Bản quyết định nối lại viện
trợ ODA cho Việt Nam với tổng số 281,2 triệu USD, đa nớc này từ vị trí

2.1. Phía Việt Nam.
Trải qua một thời gian dài trong chiến tranh, sau chiến thắng
1975, Việt Nam bắt tay vào xây dựng lại đất nớc. Tại Đại hội VI Đảng
cộng sản Việt Nam họp tháng 12/1986 đã đề ra chính sách đổi mới,
trong đó chỉ rõ phải kiên quyết chuyển từ nền kinh tế tập trung quan
liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động
theo cơ chế thị trờng có sự quản lý vĩ mô của Nhà nớc, theo định hớng
XHCN (
5
).
Về kinh tế, đề ra các chính sách kinh tế và đổ mới tổ chức quản lý
kinh tế với những nội dung chủ yếu: điều chỉnh cơ cấu kinh tế, khai
thác mọi nguồn vốn đầu t và đổi mới cơ chế quản lý, phát huy vai trò
động lực của khoa học kỹ thuật, đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối
ngoại,...
Việc chuyển sang nên kinh tế thị trờng làm kích thích sản xuất
hàng hoá, tăng khả năng cành tranh, vốn nà kỹ thật hiên đại, đòi hỏi thị
trờng tiêu thụ rộng lớn. Nền kinh tế thị trờng cũng tạo cho các doanh
5
Lê Hồng Phục - Đỗ Đức Định - Một số vấn đề về kinh tế đối ngoại của các nớc đang phát triển ở Châu á
-Viện kinh tế Thế giới - Nhà xuất bản KHXH Hà Nội 1988
11
nghiệp trong và ngoài nớc thấy một thị trờng mở , đa dạng, chứa đựng
nhiều lợi nhuận. Đây là nhân tố quan trọng để thu hút vốn, kỹ thuật
trong và ngoài nớc.
Về chính trị, ta vẫn thực hiện một Đảng cầm quyền duy nhất và đi
theo đờng lối dẫn dắt của Đảng, mở rộng quan hệ với các nớc không
phân biệt chế độ chính trị. Đây là bớc thay đổi cơ bản của chính phủ
Việt Nam. Trong khi các nớc trong cùng khu vực đã có những bớc nhảy
vọt về kinh tế thì Việt Nam vẫn ở trong tình trạng chậm phát triển do

Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
(BOT Bruld - Operate - Transfer - Operate Contact)
Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh
(BTO Build - Transfer - Operate Contact)
Hợp đồng xây dựng - chuyển giao
(BT - Build - Transfer Contact)
Doanh nghiệp chế xuất (doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng
xuất khẩu)
Với luật này, các nhà đầu t nớc ngoài sẽ có cơ hội để phát triển
công việc kinh doanh của mình trên thị trờng mới mẻ nhng đa dạng về
tài nguyên và nguồn lao động dồi dào.
Để sánh kịp với các quốc gia phát triển trong khu vực và đẩy
mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, Việt Nam đang
thay đổi mạnh mẽ để phù hợp với xu thế chung của Thế giới. Việc thu
hút đầu t nớc ngoài là rất cần thiết đặc biệt là đầu t trực tiếp của Nhật
Bản - nền kinh tế lớn của Thế giới, nguồn dự trc tài chính khổng lỗ và
có trình độ khoa học công nghệ tiên tiến nhất.
13
2.2. Phía nhật bản
Đầu t trực tiếp của Nhật Bản vào các nớc trong khu vực Đông và
Đông Nam châu á từ giữa những năm 80 bắt đầu tăng. Nguyên nhân nào
khiến cho đầu t trực tiếp của Nhật Bản chú trọng vào khu vực này?
Việc đồng yên lên giá làm cho chi phí sản xuất ở Nhật Bản tăng
lên so với nớc ngoài, hạn chế khả năng sinh lãi của chúng. Do vậy, để
tồn tại và duy trì đợc sức cạnh tranh, các Công ty Nhật Bản, nhất là các
Công ty chế tạo xuất khẩu, phải đầu t ra nớc ngoài để lợi dụng chi phí rẻ
hơn.
Từ cuối những năm 70 lại đây, sự thâm nhập mạnh của các hàng
xuất khẩu Nhật Bản đã gây ra những bất bình sâu sắc ở cả các nớc phát
triển lẫn đang phát triển Châu á. Tâm lý tẩy chay hàng Nhật Bản và bảo

Nam.
3.1. Tốc độ đầu t.
Nhật Bản bắt đầu đầu t vào Việt Nam chỉ sau khi Việt Nam ban
hành luật đầu t nớc ngoài tháng 12/1997.
Năm 1989, Nhật Bản có 4 dự án đầu t tại Việt Nam nhng những
dự án mang tính thăm dò khảo sát trong các ngành cơ khí, chế biến thực
phẩm và khách sạn. Trong 9 tháng đầu năm 1994, các Công ty Nhật Bản
cũng chỉ tham gia vào 21 dự án với tổng số vốn đầu t là 162 triệu USD, tơi
107% so với năm 1997 (
6
). Tính đến hết năm 1994, Nhật Bản đứng hàng
thứ 5 trong số các nớc chủ yếu đầu t ở Việt Nam.
Đài Loan 2512 (Triệu USD)
Hồng Kông 2024
Singapor 1213
6
Đỗ Đức Định - đã dẫn - trang 18
15
Hàn Quốc 1075
Nhật Bản 949
Ôxtralia 678
Malaixia 618
Mỹ 517
Nguồn : Uỷ ban hợp tác và đầu t, từ 1988 - 3/1995
ở bảng trên cho thấy tốc độ đầu t củ Nhật Bản vào Việt Nam là t-
ơng đối chậm chạp. So với đầu t của Nhật Bản ở các nớc đang phát triển
khác ở Châu á thì số lợng đầu t củ Nhật Bản ở Việt Nam là quá nhỏ.
Nếu so sánh với đầu t của Mỹ thì đầu t của Nhật Bản ở Việt Nam là rất
chậm, mặt dù các Công ty Mỹ là ngời đến dự tiệc sau. Vì mãi đến
tháng 2/1994 chính quyền Mỹ mới bỏ lệnh cấm vận chống Việt Nam.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status