ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN MẠNH AN
TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ
ĐỐI VỚI NGÀNH THÉP VIỆT NAM VÀ
MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
HÀ NỘI : 2008
2.1.1.1.Doanh nghiệp nhà nước
2.1.1.2.Doanh nghiệp có vốn nước ngoài
1
2
4 10
10
10
14
17
17
19
19
20
30
32
34
34
34
36
38
38
40
40
42
43
2.2.2.2.Tác động của việc gia nhập WTO đối với đầu tư nước
ngoài……………
44
46
47
49
49
49
53
55
55
56
58
61
65
65
68
68
70
71
76
76
Việt Nam trong những năm
tới
3.1.1.Dự báo về ngành thép trong những năm
tới
91
91
91
91
94
95
98
101
101
102
104
108
112
113
113
115
117
118
120
120
121
lực
3.2.7. Giải pháp bảo vệ môi
trường
3.3. Một số gợi ý chính sách
3.3.1.Chính sách hỗ trợ đối với ngành thép
3.3.2. Các chính sách về đầu tư, tài chính
124
129 3.3.3.Chính sách phát triển khoa học công nghệ và
bảo vệ môi
trường
3.3.4.Chính sách về quyền sở hữu và quản lý chất
lượng
3.3.5.Chính sách xuất nhập khẩu và phát triển thị trường
KẾT
LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Viện Gang Thép Đông Nam Á
WTO
World Trade
Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới
ASEAN
Association South
East of Asia Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
AFTA
ASEAN Free Trade
Area
Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN
CEPT
Common Effective
Preferential Tarriff
and Trade
Chương trình Ưu đãi Thuế quan có Hiệu
lực chung cho Khu vực Thương mại Tự
do ASEAN
MFN
Most Favour Nation
Quy chế Tối huệ quốc
WEF
World Economic
Forum
Diễn đàn Kinh tế Thế giới
ACFTA
ASEAN China Free
Trade Agreement
Hệ số Bảo hộ Thực tế
FDI
Foreign Direct
Investment
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài 3
Danh mục cac hình, bảng, sơ đồ và hộp
A. Hình
1. Hình 1.1 và 1.2: Chỉ số EBITDA của ngành công nghiệp thép toàn cầu
2. Hình 1.3: Chi phí sản xuất cuộn cán nóng
3. Hình 1.4: Chi phí nguyên liệu
4. Hình 1.5: Chỉ số vận chuyển đường biển tầu cỡ lớn Cape và Panamax
5. Hình 1.6 và 1.7: Chi phí nhân công theo giờ ( USD )
6. Hình 1.8 và 1.9: Chi phí nhân công theo giờ (Euro)/ chi phí nhân công theo
giờ (USD)
7. Hình 1.10 và 1.11: Chỉ số giờ làm/ tấn thép thô năm 2004/ chi phí nhân
công/ năng suất
8. Hình 1.12 và 1.13: Sản lượng và dự trữ khí thiên nhiên, 2004/ thời hạn sử
dụng nguồn dự trữ tính theo sản lượng năm 2004( năm )
9. Hình 2.1: Xuất nhập khẩu phôi thép của Trung Quốc 2002-2006
10. Hình 2.2: Lượng xuất nhập khẩu phôi thép hàng tháng của Trung Quốc từ
năm 2004-2006
11. Hình 2.3: Lượng xuất khẩu phôi thép hàng tháng của Trung Quốc từ năm
2004-2006
12. Hình 2.4: Biểu đồ giá nhập khẩu các sản phẩm thép
B. Bảng
1. Bảng 2.1: Công suất và sản lượng thực tế của các doanh nghiệp nhà nước
5
Phần mở đầu 1. Sự cần thiết của đề tài
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, bất cứ một quốc gia nào dù là
phát triển hay đang phát triển cũng phải vạch cho mình một hướng đi có tính
chiến lược lâu dài, việc Việt Nam đang thực hiện công cuộc công nghiệp hoá,
hiện đại hoá với mục tiêu hướng tới là cơ bản trở thành nước công nghiệp vào
năm 2020 là một minh chứng rõ nét như vậy. Để đạt được mục tiêu này,
nước ta đang cố gắng xây dựng được một ngành công nghiệp nặng hiện đại,
đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế, trong đó ngành thép đóng vai trò rất
lớn không chỉ góp phần vào xây dựng cơ sở hạ tầng mà còn cung cấp nguyên
liệu cho các ngành công nghiệp khác như cơ khí, đóng tầu, ôtô
Trong bối cảnh nước ta đang tham gia tích cực vào quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế - mà nổi bật là nước ta đã chính thức trở thành viên của WTO
trong năm 2006 - các doanh nghiệp thép của Việt Nam có cơ hội được tiếp
cận, tham gia thị trường thế giới. Tuy nhiên họ cũng phải đối mặt với nhiều
áp lực và thách thức bởi sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các tập đoàn nước ngoài.
Mặt khác những tồn tại và khó khăn của ngành thép Việt Nam khi tham gia
vào quá trình hội nhập đang dần bộc lộ rõ đó là trình độ công nghệ lạc hậu, sự
liên kết lỏng lẻo trong các lĩnh vực, hay như việc tìm một hướng đi hiệu quả
cho các doanh nghiệp nhà nước trong ngành đã và đang cổ phần hoá,… đang
thật sự là những vấn đề nan giải cho ngành thép của Việt Nam
Xuất phát từ yêu cầu thực tế các doanh nghiệp thép Việt Nam cần có một
mô hình, hướng đi phù hợp để có thể vừa tránh những tác động xấu vừa tận
dụng những cơ hội cho mình và cả đương đầu với những thách thức trong quá
trình hội nhập. Chính vì vậy việc nghiên cứu những Tác động của quá trình
4) Những Báo cáo trong Dự án “ Nghiên cứu về chính sách phát triển
kinh tế cho chuyển đổi kinh tế theo hướng kinh tế thị trường ở nước Cộng hoà
Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” – Dự án nghiên cứu hợp tác giữa Tổ chức JICA
Nhật Bản và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân; Các tác giả: Fukui, Aiba,
Hishimoto (2001); Ohno và Kawabata (2001); Hoàng Đức Thân và các cộng
sự (2002). Cũng giống như nghiên cứu của Kawabata, những nghiên cứu này 7
chỉ đề cập đến cơ cấu sản xuất của ngành cùng những chính sách bảo hộ
ngành thép trong từng giai đoạn nhất định. Tiến trình hội nhập kinh tế và
những tác động của nó đến ngành thép thì trong các nghiên cứu này chưa chỉ
ra được.
5) “ Ngành thép Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ” -
Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Xuân Chiến ( Đại học quốc gia Hà Nội - Khoa
kinh tế, năm 2006 ). Luận văn đã có những đánh giá và phân tích cụ thể về
ngành thép trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, tuy nhiên hoặc là chưa
đánh giá hết được những ảnh hưởng của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,
chưa nêu bật được những cơ hội, thách thức cũng như chưa đưa ra dự báo
được những xu hướng mới của ngành thép thế giới, cũng như của ngành thép
Việt Nam đang và sẽ diễn ra. Có thể là do trong những năm gần đây, tình hình
nền kinh tế thế giới nói chung và ngành thép nói riêng đang có những diễn
biến khó lường. Những biến động liên tục cùng với những nhân tố mới nảy
sinh, khiến cho những tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế càng
khó dự báo. Mặt khác, vì vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế ở cấp độ ngành rất
có tính thời sự, nên một số bất cập mới nảy sinh trong ngành thép như quá
trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, sự bảo hộ ngành thép, mô hình
liên kết giữa các doanh nghiệp, cũng chưa được nghiên cứu đầy đủ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
nghiên cứu đến trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến nay. Phân tích những
tác động của hội nhập kinh tế, cũng như việc đánh giá triển vọng, dự báo xu
hướng và đưa ra giải pháp, khuyến nghị chính sách trong giai đoạn từ năm
2007 đến năm 2020.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Đây là luận văn nghiên cứu tổng quan cần thiết để có thể đưa ra những
khuyến nghị, giải pháp cho ba cấp độ từ chính sách của nhà nước, chiến lược
tổng thể của ngành thép Việt Nam đến những giải pháp của doanh nghiệp. Để
thực hiện luận văn này tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
kinh tế tuỳ thuộc từng nội dung, như là: 9
+ Phương pháp phân tích thống kê theo chuỗi thời gian, dựa trên các số
liệu được trích dẫn từ các tài liệu của các cơ quan trong nước như Tổng công
ty thép Việt Nam, Hiệp hội thép, Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách
công nghiệp, Tổng cục thống kê, Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Công thương, nên
có độ tin cậy cao. Cùng các số liệu về ngành thép thế giới từ các tạp chí
chuyên ngành nước ngoài, mạng internet, để đánh giá thực trạng và các tác
động của quá trình hội nhập hội nhập kinh tế quốc tế đối với ngành thép Việt
Nam hiện nay.
+ Phương pháp phân tích so sánh được áp dụng đối chiếu với những
trường hợp hoặc quốc gia có những điều kiện và tiêu chí tương đồng. Từ đó
có thể tìm ra những ưu điểm và hạn chế, thấy rõ được những cơ hội và thách
thức của ngành thép trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
+ Phương pháp tổng hợp được sử dụng để đưa ra những đánh giá
chung, rút ra những kết luận của việc nghiên cứu. Từ đó đề xuất những giải
pháp phù hợp cho sự phát triển của ngành thép nói riêng, trong tổng thể của
nền kinh tế Việt Nam nói chung cùng xu thế phát triển của ngành thép thế
tế quốc tế.
Chƣơng3: Một số khuyến nghị chính sách nhằm củng cố phát triển
ngành thép Việt Nam 11
Chương 1
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến ngành thép Việt Nam trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
1.1. Những khái niệm chung
1.1.1. Khái niệm và vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình trong đó hai hay nhiều chính phủ ký
với nhau các hiệp định để tạo nên khuôn khổ pháp lý chung cho sự phối hợp
và điều chỉnh quan hệ kinh tế giữa các nước. Mức độ hội nhập tuy có khác
nhau, nhưng tất cả đều nhằm thuận lợi hoá và tự do hoá hoạt động kinh tế đối
ngoại của mỗi nước, góp phần sử dụng các nguồn lực có hiệu quả hơn và
nâng cao mức sống của người dân.
Các cấp độ của hội nhập kinh tế quốc tế
Có thể chia hội nhập ra làm 5 cấp độ từ thấp đến cao như sau:
1. Khu vực mậu dịch tự do (FTA): Là một hiệp định thương mại tự do đa
phương giữa các nước trong nội khối với mục đích thực hiện tiến trình giảm
dần thuế quan, loại bỏ dần các hàng rào phi thuế quan cũng như hài hoà hoá
thủ tục hải quan giữa các nước. Như Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ
(NAFTA), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp hội mậu dịch tự
do Châu Âu (EFTA), Khu vực mậu dịch tự do Trung Âu (CEFTA).
2. Liên minh thuế quan (Customs Union): Là hình thức mà trong đó, các
thành viên ngoài việc hoàn tất loại bỏ thuế quan và các hạn chế về số lượng
trong thương mại nội khối cũng phải cùng nhau thực hiện một chính sách thuế
quan chung đối với các nước ngoài khối. Như Cộng đồng Kinh tế Châu Âu
Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế
Việc mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của mỗi quốc gia sẽ có ảnh hưởng
không nhỏ đến quốc gia đó bởi lẽ:
- Thứ nhất, hội nhập kinh tế quốc tế là trình độ cao của quan hệ hợp tác kinh
tế quốc tế ở nhiều mức độ từ nông đến sâu, từ một vài lĩnh vực đến nhiều lĩnh
vực, từ một vài nước đến nhiều nước. Do đó, khi đó mở cửa hội nhập thì phải
tuân thủ tất cả các nguyên tắc chung, phải thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ
của 13
mọi thành viên, phải điều chỉnh chính sách của mình cho phù hợp với luật
chơi
chung.
- Thứ hai, hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng toàn cầu cho nên nó ảnh
hưởng, tác động đến mọi quốc gia cho dù quốc gia đó chưa tham gia vào quá
trình này. Kinh tế là nền tảng của mỗi quốc gia, do đó, một khi nó đã tác động
đến kinh tế thì thường tác động đến chính trị, văn hoá, xã hội…
- Thứ ba, về chính sách mở cửa, tự do hoá thương mại, đầu tư, hội nhập
kinh tế quốc tế cũng đòi hỏi mỗi nước phải mở cửa nền kinh tế, thực hiện tự
do hoá thương mại và đầu tư với xung quanh.
- Thứ tư, do hội nhập mang tính toàn cầu nên đó xuất hiện xu hướng hội nhập
khu vực và cũng được thực hiện theo các nguyên tắc như tự do hoá và hội nhập
toàn cầu.
- Thứ năm, hội nhập đòi hỏi các quốc gia phải tiến hành cải cách, đổi mới
kinh tế trong nước. Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay tạo nhiều sức
ép buộc các nước phải tiến hành mở cửa, tự do hoá để hội nhập mạnh hơn,
nhanh hơn. Đồng thời, hội nhập cũng làm cho sức cạnh tranh mạnh hơn, gay
gắt hơn ảnh hưởng không nhỏ đến nền sản xuất hàng hoá, dịch vụ, đặc biệt là
của các nước đang phát triển.
Dỡ bỏ dần các rào cản về thuế quan, phi thuế quan giữa các thành viên,
tạo nên khuôn khổ kinh tế và pháp lý phù hợp với tiến trình tự do hoá đa
phương, góp phần phát triển hệ thống thương mại đa phương cả về chiều rộng
lẫn chiều sâu.
Ảnh hƣởng tiêu cực
Mở cửa đồng nghĩa với việc cạnh tranh gay gắt giữa hàng hoá và doanh
nghiệp của mỗi quốc gia, dẫn đến những nguy cơ phá sản trong những ngành
kinh tế và doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, khả năng cạnh tranh thấp. Từ
đó có nguy cơ gây xáo trộn về công ăn việc làm cho người lao động, gây bất
ổn cho an ninh, chính trị, xã hội. 15
Xoá bỏ hàng rào thuế quan sẽ mất đi nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
Điều này ảnh hưởng đặc biệt đến các nước đang phát triển với nguồn thu ngân
sách chủ yếu là thuế. Tiến hành cải cách và điều chỉnh cơ cấu kinh tế trước áp
lực hội nhập đòi hỏi phải có nguồn tài lực và vật lực rất lớn, không dễ gì cho
một nước có thể đáp ứng được đặc biệt là các nước đang phát triển.
Sự khác biệt về trình độ các nước thành viên tạo nguy cơ phụ thuộc của
các nước đang phát triển vào các trung tâm kinh tế lớn, dẫn đến giảm khả
năng độc lập trong việc hoạch định chính sách, an ninh quốc gia.
Các giá trị về đạo đức, văn hoá, truyền thống dễ bị xói mòn, cám dỗ từ
bên ngoài, làm lan toả một số hành động xấu, mang tính độc hại như: khủng
bố, mại dâm, bệnh dịch, tội phạm xuyên quốc gia…
Trong quá trình toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế song phương và khu vực
cũng có thể làm nảy sinh mâu thuẫn giữa các khối kinh tế, mậu dịch với nhau,
giữa các nước trong khối và ngoài khối, dẫn đến việc thị trường thế giới bị
chia cắt và ngăn cản quá trình tự do hoá đa phương, làm chậm tiến trình toàn
cầu hoá.
1.1.2. Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
thế giới, tìm kiếm và tạo lập thị trường ổn định, từ đó có điều kiện thuận lợi
để xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, phát triển kinh tế trong nước. Việc nâng
cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và hàng hoá là một
trong những nội dung quan trọng nhất để hội nhập kinh tế quốc tế hiệu quả,
thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2001 - 2010.
Trong thời gian qua, nền kinh tế ở Việt Nam đã đạt được những kết
quả quan trọng như: tăng trưởng GDP ở nhịp độ cao, cơ cấu kinh tế tiếp tục
chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng của công nghiệp, dịch vụ, giảm dần tỉ
trọng nông nghiệp. Tỉ lệ huy động vốn cho đầu tư phát triển có xu hướng
tăng, các nguồn lực trong xã hội được huy động tốt hơn, đặc biệt trong khu
vực kinh tế tư nhân, đầu tư cho cơ sở hạ tầng có tiến bộ, năng lực sản xuất của
nhiều ngành tăng lên. Tuy nhiên, hiệu quả sức cạnh tranh kinh tế nước ta
vẫn còn 17
một số tồn tại:
- Xét về các chỉ số cạnh tranh của nền kinh tế, Việt Nam xếp thứ 48/53
nước được xem xét năm 1999; 53/ 59 nước năm 2000; 60/ 75 nước năm 2001;
65/ 80 năm 2002 nước tham gia xếp hạng. Năm 2004 giảm 17 bậc so với năm
2003, năm 2005 giảm tiếp 4 bậc so với năm 2004, năm 2006 xếp thứ 64/ 122
quốc gia, năm 2007 Việt Nam ở vị trí thứ 68 nhưng trên tổng số 131 nước
được xếp hạng ( Nguồn: Báo cáo thường niên về khả năng cạnh tranh toàn
cầu của các quốc gia được đánh giá bởi Diễn đàn Kinh tế thế giới – WEF;
công bố ngày 31/ 10 hàng năm )
- Sức cạnh tranh và năng lực quản lý doanh nghiệp còn yếu, thiếu sự chuẩn
bị để ứng phó hiệu quả với quá trình hội nhập đang diễn ra ngày càng sâu rộng.
- Xét tiêu chí cạnh tranh của sản phẩm như giá cả, chất lượng, mạng lưới
tổ chức tiêu thụ và uy tín doanh nghiệp thì sức cạnh tranh của hàng Việt Nam
chậm, môi trường kinh doanh còn chưa bình đẳng, chính sách còn thiếu đồng
bộ, nhất quán, khó thực hiện.
1.2. Ngành thép thế giới thời kỳ toàn cầu hoá
1.2.1. Vị trí và vai trò của ngành thép trong nền kinh tế quốc dân
Hiện nay, mặc dù loài người đã nghiên cứu và sản xuất được rất nhiều
loại vật liệu với tính năng rất đa dạng, nhưng sắt thép vẫn giữ vai trò hàng đầu
trong các ngành công nghiệp cũng như đời sống hàng ngày.
Ngành thép bắt đầu phát triển từ năm 1856 khi H. Bessemer phát minh ra
lò chuyển luyện thép ( converter ). Chỉ sau đó ít lâu, năm 1865 W. Siemens
phát minh ra lò luyện thép ( open hearth ) ở Anh và P. Marten ở Pháp. Đến
năm 1900 thì lò điện hồ quang ( electric arc furnace ) ra đời để nấu luyện các
loại thép chất lượng cao. Từ đó đến nay ngành thép phát triển không ngừng,
nhất là trong những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21. Sau những trầm lặng ở
giai đoạn 1970 -1990, giai đoạn 1990 đến nay là giai đoạn rất sôi động, đặc
biệt là ở các nước châu Á ( như Hàn Quốc, Trung Quốc, ấn Độ, Đài Loan ).
Trong giai đoạn 2004 - 2007 sản lượng thép thế giới luôn đạt trên 1 tỷ tấn.
Công nghệ sản xuất thép
Thép là một sản phẩm công nghiệp có tính đặc thù, khác với những
ngành 19
công nghiệp khác trong nền kinh tế quốc dân, đó là: Thép là sản phẩm
công
nghiệp trong một chuỗi dây chuyền sản xuất mà sản phẩm của một khâu sản
xuất ( trừ phôi thép ) có thể vừa mang tính tiêu dùng nhưng đồng thời có
thể là nguyên liệu cho khâu sản xuất tiếp theo.
Để sản xuất thép người ta dùng nguyên liệu là gang ( gang được sản xuất
bằng nguồn quặng sắt ) và sắt thép phế. Từ những năm 1970, nhiều công nghệ