Tác động của việc gia nhập WTO đến phát triển nông nghiệp Việt Nam - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN THỊ TƯƠI
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO ĐẾN
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2008


2.1.2. Trong lÜnh vùc l-u th«ng
1
1
3
4
4
5
6
7

8
8

8
10
13

13
15

18
18
22
23
26

26

26
40

50

50
56

62 62

62
64
65
65
68

88
91
3
MỞ ĐẦU
8. Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2006 là năm đánh dấu rất nhiều sự kiện lớn của nước ta. Trong số
đó thì việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO là một trong
những sự kiện được nhắc tới nhiều nhất. Ngày 7 tháng 11 năm 2006 là ngày
Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức Thương mại thế giới
(WTO). WTO là một tổ chức mà trong đó các nước là thành viên sẽ phải có
những cam kết chung về thương mại, trong đó có cam kết về thuế quan.

Bờn cnh nhng s thuõn li v nhng c hi ln, nụng nghip cng
phi i mt vi nhiu khn, thỏch thc. ú l nhng khú khn khụng th
trỏnh khi trong bi cnh ca xu th hi nhp kinh t quc t. Gia nhp WTO,
nụng nghip nc ta s phỏt huy c nhng li th ca mt nn nụng nghip
nhit i vi h thng cõy trng, vt nuụi a dng v chng loi. Chỳng ta
cng s gii quyt c mt lng lao ng ln trong xó hi cú cụng n vic
lm thng xuyờn. Tng giỏ tr úng gúp vo GDP hng nm t lnh vc
nụng nghip s ngy cng tng lờn.
Gia nhập WTO là một thành công lớn của Việt Nam sau bao nhiêu năm
n lc phn u. Tuy nhiên, có rất nhiều vấn đề Việt Nam phải đ-ơng đầu giải
quyết khi gia nhập WTO. Ch-a bao giờ nông nghiệp Việt Nam lại đứng tr-ớc
nhiều cơ hội và nhiều thử thách lớn nh- vậy. Nền kinh tế Việt Nam nói chung,
nông nghiệp Việt Nam nói riêng tỏ ra vô cùng lúng túng và ch-a biết làm thế
nào để vừa khắc phục đ-ợc những yếu kém, khó khăn, bất cập đồng thời lại có
thể phát huy đ-ợc lợi thế của ngành nông nghiệp. Bản thân ngành nông nghiệp
Việt Nam có rất nhiều thế mạnh, những thế mạnh đó nếu đ-ợc khai thác một
cách hợp lí và hiệu quả thì không những khắc phục và nhanh chóng v-ợt qua
khó khăn mà còn nắm bắt đ-ợc thời cơ của xu thế hội nhập để phát triển
ngành nông nghiệp, làm giàu cho nông dân, cho đất n-ớc.
Nhìn lại sau một năm (thời điểm cuối năm 2007) gia nhập WTO, nông
nghiệp Việt Nam ch-a thấy chuyển biến gì thực sự rõ rệt. Những mặt yếu kém

5
đã nảy sinh từ rất nhiều khâu, nhiều chủ thể trong ngành nông nghiệp. Đây
thực sự là nỗi lo lớn đối với ng-ời nông dân, nó cũng là trách nhiệm và sự trăn
trở từ phía Nhà n-ớc và xã hội đối với nông nghiệp, nông dân. Từ góc độ
nghiên cứu, đòi hỏi phải xem xét lại những vấn đề liên quan đến cam kết của
Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp, đánh giá một cách đúng đắn nhất đến
những tác động của gia nhập WTO đến ngành nông nghiệp, trên cơ sở đó tìm
ra những nguyên nhân và đ-a ra các giải pháp khắc phục. Đó là lí do để tôi lựa

nụng nghip Vit Nam, tỏc gi mun t c mt s mc ớch sau:
V mt lý lun, ti da trờn c s ca s tng kt cú tớnh khỏi quỏt
nht v WTO, v nhng nh hng ca vic gia nhp WTO ti s phỏt trin
ca nụng nghip Vit Nam.
V mt thc tin: nghiờn cu v hon thnh lun vn vi ti trờn tỏc
gi mun gúp phn vo vic nhỡn nhn, phõn tớch, ỏnh giỏ nhng nh hng
ca vic gia nhp WTO ti s phỏt trin ca nụng nghip Vit Nam. Trờn c
s ú ra mt s gii phỏp cú tớnh cht kh thi nhm phỏt huy c nhng
li th v khc phc nhng khú khn cho ngnh nụng nghip Vit Nam khi
chớnh thc tham gia vo sõn chi ln ca thng mi quc t.
11. i tng v phm vi nghiờn cu
Đề tài tập trung làm rõ một số vấn đề nh-:
- T chc thng mi th gii WTO;
- Tin trỡnh gia nhp WTO ca Vit Nam: t nm 1995 n 7/11/2006;
- Nhng cam kt gia nhp WTO trong lnh vc nụng nghip ca Vit Nam;
- ng phú ca Vit Nam trc nhng cam kt khi gia nhp WTO;
- Nhng tỏc ng ca vic gia nhp WTO n s phỏt trin ca nụng nghip
Vit Nam.
Khong thi gian khai thỏc phc v nghiờn cu ti: giai on t nm
1995 n trc thi im gia nhp; giai on t khi gia nhp n nay (t
7/11/2006 n cui nm 2008).

7
Khoảng thời gian nghiên cứu của tác giả dành cho đề tài: từ năm 2006
đến cuối năm 2008.
Phm vi nghiờn cu ca ti l khu vc kinh t nụng nghip, nông
thôn Việt Nam trong bi cnh hi nhp WTO.
12. Phng phỏp nghiờn cu
ti ó s dng mt s phng phỏp nghiờn cu c th nh sau:
- Phng phỏp nn tng ca mi khoa hc nht l khoa hc xó hi

liệu và sự kiện đó. Đôi khi phân tích và tổng hợp được sử dụng lồng ghép khi
trình bày những vấn đề của đề tài;
- Phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và phương pháp
chọn mẫu nghiên cứu cũng được sử dụng lồng ghép với các phương pháp
khác nhằm tạo ra hiệu quả của việc nghiên cứu. Không có phương pháp nào là
duy nhất và vạn năng, các phương pháp chỉ thực sự được sử dụng hiệu quả
khi được kết hợp một cách hợp lí. Trong đó có thể có những vấn đề cụ thể
được sử dụng một hoặc vài phương pháp đặc thù là chủ yếu đồng thời có sự
bổ trợ của các phương pháp khác.
13. Những đóng góp của luận văn
- Đưa ra nhận xét ban đầu về những cam kết trong lĩnh vực nông
nghiệp của Việt Nam khi gia nhập WTO;
- Phân tích những tác động tích cực của việc gia nhập WTO đến
phát triển nông nghiệp nước ta;
- Chỉ ra những khó khăn, thách thức và những tác động tiêu cực
của ngành nông nghiệp nước ta khi gia nhập WTO;
- Đưa ra và luận giải hệ thống các giải pháp nhằm khắc phục
những khó khăn, hạn chế những tác động tiêu cực do việc gia nhập WTO gây
ra cho ngành nông nghiệp Việt Nam.
9
14. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp khi gia
nhập WTO;
- Chương 2: Tác động của việc gia nhập WTO ®Õn phát triển nông nghiệp
Việt Nam;
- Chương 3: Định hướng giải pháp để khắc phục khó khăn và hạn chế tác

WTO là tên viết tắt của World Trade Organization – tổ chức Thương
mại Thế giới. Đây là tổ chức quốc tế duy nhất trên thế giới đưa ra các nguyên
tắc thương mại giữa các quốc gia. WTO được thành lập vào ngày 01/01/1995,
nó được coi là sự kế tục và mở rộng phạm vi điều tiết thương mại của GATT-
hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại. GATT ra đời sau chiến tranh
thế giới thứ hai, khi mà trào lưu hình thành hàng loạt cơ chế đa biên điều tiết
các hoạt động kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, điển hình là sự ra đời
của WB (Ngân hàng thế giới) và IMF (Quỹ tiền tệ quốc tế).
Với ý tưởng hình thành những nguyên tắc, thể lệ, luật chơi cho thương
mại quốc tế nhằm điều tiết các lĩnh vực về việc làm, thương mại hàng hóa,
khắc phục tình trạng bị hạn chế và ràng buộc đối với các hoạt động của
GATT. Vì vậy, 23 nước sáng lập GATT đã cùng một số nước khác tham gia
hội nghị về thương mại và việc làm. Đồng thời dự thảo Hiến chương La
Havana để thành lập tổ chức Thương mại quốc tế (ITO) với tư cách là chuyên
môn của Liên Hợp quốc. Các nước này cũng tiến hành đàm phán về thuế quan
và xử lý những biện pháp bảo hộ mậu dịch đã được áp dụng phổ biến từ
những năm 30. Mục đích là thực hiện tự do hóa mậu dịch, mở đường cho kinh
tế và thương mại phát triển tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và cải
thiện đời sống của nhân dân ở các nước thành viên.
Hiến chương thành lập tổ chức Thương mại quốc tế (ITO) nói trên đã
được thỏa thuận tại Liên hiệp quốc về thương mại và việc làm ở La Havana

11
từ tháng 11, năm 1947 đến ngày 23, tháng 4, năm 1948, nhưng một số quốc
gia không thể thống nhất được nên việc thành lập tổ chức Thương mại quốc tế
không thực hiện được. Tuy vậy, mục tiêu về thương mại đặt ra vẫn phải thực
hiện được nên 23 nước đã cùng nhau kí hiệp định chung về Thuế quan và
Thương mại– GATT, hiệp định chính thức có hiệu lực từ tháng 1, năm 1948.
Tiếp đó GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán chủ yếu về thuế quan.
Tuy nhiên, từ thập kỷ 70 và đặc biệt từ hiệp định Uruguay (1986- 1994) do

quốc gia thành viên, họp ít nhất hai năm một lần. Đại hội đồng cũng gồm đại
diện của tất cả các nước thành viên, sẽ họp khi cần thiết. Trong thời gian giữa
các khóa họp của Hội đồng Bộ trưởng thì chức năng chính của Hội đồng Bộ
trưởng do Đại hội đồng đảm nhiệm. Khi cần thiết Đại hội đồng sẽ đảm nhận
giải quyết tranh chấp và rà soát các chính sách thương mại. Đại hội đồng hành
động nhân danh Hội nghị Bộ trưởng và chịu trách nhiệm trước Hội nghị Bộ
trưởng. Hội đồng các cấp chịu trách nhiệm về nhiều lĩnh vực khác nhau. Bên
cạnh đó là các ủy ban chịu trách nhiệm các lĩnh vực khác nhau. Ủy ban cũng
bao gồm đại diện tất cả các quốc gia và chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng.
Các tiểu ban là cấp thứ tư của WTO, nó thuộc Đại hội đồng. Các tiểu ban này
chịu trách nhiệm điều hành việc thực thi hiệp định WTO về từng lĩnh vực
thương mại.
WTO đề ra những quy định để điều tiết hoạt động thương mại giữa các
quốc gia trên thế giới. Tính đến thời điểm 31/12/2005, WTO đã có đến 148
nước thành viên, đến tháng 11/2007, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150
của WTO.
WTO ra đời từ những lần đàm phán giữa các quốc gia về những vấn đề
liên quan đến thương mại quốc tế. Sau khi ra đời WTO vẫn tiếp tục tiến hành
các cuộc đàm phán. Đây là diễn đàn để các thành viên tiến hành các thỏa
thuận, thương lượng, nhân nhượng nhau về các vấn đề thương mại, dịch vụ,

13
đầu tư, sở hữu trí tuệ,… nhằm giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quan
hệ thương mại giữa các bên.
WTO đưa ra những quy định pháp lí nền tảng của Thương mại quốc tế.
WTO tạo ra một hệ thống pháp lý chung làm căn cứ để mỗi thành viên hoạch
định và thực thi chính sách. Nó có tác dụng trong việc mở rộng thương mại,
tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống của nhân dân các nước
thành viên. Bản chất của các văn bản pháp lý này chính là các bản hợp đồng,
theo đó chính phủ các nước tham gia kí kết, công nhận, cam kết duy trì chính

của WTO. Đồng thời cung cấp một khuôn khổ để thực thi, quản lý và điều
hành việc thực hiện các hiệp định nhiều bên;
(2) WTO là một diễn đàn cho các cuộc đàm phán giữa các nước thành
viên về những quan hệ thương mại đa biên trong khuôn khổ những quy định
của WTO. WTO cũng là diễn đàn cho các cuộc đàm phán tiếp theo giữa các
thành viên về những quan hệ đa biên. Đồng thời WTO còn là một thiết chế để
thực thi các kết quả từ việc đàm phán đó hoặc thực thi các quyết định do Hội
nghị Bộ trưởng đưa ra;
(3) WTO thi hành thỏa thuận về những quy tắc và thủ tục điều chỉnh
việc giải quyết tranh chấp giữa các thành viên;
(4) WTO thi hành chính sách rà soát chính sách thương mại của các
nước thành viên;
(5) WTO hợp tác với Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, Ngân hàng thế giới
WB và các cơ quan trực thuộc nó. Sự hợp tác đó nhằm tạo ra sự thống nhất
cao hơn về quan điểm trong việc tạo lập các chính sách kinh tế toàn cầu khi
cần thiết.
Đó là những mục tiêu và chức năng của tổ chức WTO. Quá trình thực
hiện các mục tiêu và chức năng này chính là quá trình thúc đẩy toàn cầu hóa
và tự do thương mại. Quá trình này ảnh hưởng đến mọi quốc gia, mọi quá
trình kinh tế của thế giới.

15
1.5. qu¸ tr×nh gia nhËp wto cña viÖt nam vµ ¶nh h-ëng
cña nã tíi ngµnh n«ng nghiÖp
1.5.1. Lộ trình gia nhập WTO của Việt Nam
Việt Nam cũng giống như các quốc gia khác muốn gia nhập WTO đều
phải trải qua một trình tự nhất định. Thời gian dài hay ngắn phụ thuộc vào
nước xin gia nhập và các thành viên khác của WTO đàm phán với nhau và
chấp thuận những nhượng bộ của nhau như thế nào.
Thủ tục gia nhập WTO bao gồm các bước: nộp đơn xin gia nhập; đàm

- Đàm phán mở cửa thị trường: việc đàm phán được thực hiện trên hai
phương diện là song phương và đa phương. Tính đến tháng 12/2005, Việt
Nam đã tiến hành 10 phiên đàm phán đa phương. Thực chất của đàm phán đa
phương chính là các cuộc đàm phán giữa Việt Nam với nhóm công tác. Các
cuộc đàm phán được tiến hành tại Giơneva, trụ sở của WTO. Các cuộc đàm
phán này mục đích là tổng kết hóa các cam kết của Việt Nam. Có khoảng 30
đối tác có yêu cầu đàm phán song phương với Việt Nam. Khi bước vào giai
đoạn đàm phán, các nước xin gia nhập bắt đầu đưa ra Bản chào. Bản chào là
danh mục những cam kết về thuế quan, về thương mại dịch vụ, đầu tư, sở hữu
trí tuệ,…đáp ứng yêu cầu của các thành viên nhóm công tác. Trong quá trình
đàm phán, Bản chào sẽ được sửa đổi, Bản chào cuối cùng sẽ được coi là
những cam kết chính thức. Bản chào đầu tiên được Việt Nam gửi tới Ban thư
kí của WTO vào tháng 12/2001. Tính đến tháng 12/2005, Việt Nam đã đưa ra
Bản chào thứ tư.
Bước 3: Kết nạp
Theo thông lệ, khi nhóm công tác đã kết thúc việc xem xét chế độ
ngoại thương của nước xin gia nhập, các cuộc đàm phán song phương, đa
phương về mở của thị trường kết thúc thì thủ tục kết nạp được xúc tiến. Nhóm
công tác sẽ dự thảo một bản báo cáo gia nhập của nước xin gia nhập, bao

17
gồm một Nghị định thư gia nhập và một danh mục ghi các cam kết của nước
xin gia nhập.
Tất cả các văn bản trên sẽ được trình lên Đại hội đồng hoặc Hội nghị
Bộ trưởng. Nếu số thành viên của WTO có từ 2/3 tán thành, quyết định việc
gia nhập WTO sẽ được thông qua. Sau đó, Nghị định thư gia nhập của Việt
Nam sẽ được Tổng giám đốc WTO và chính phủ Việt Nam ký, Việt Nam trở
thành thành viên của WTO. 30 ngày sau khi Chủ tịch nước phê chuẩn nghị
định thư, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO.
Đó là toàn bộ tiến trình Việt Nam gia nhập WTO. Từ khi nộp đơn xin

nông nghiệp Việt Nam.
Tuy nhiên, khi gia nhập vào WTO, nông nghiệp Việt Nam cũng đối
mặt với rất nhiều thách thức lớn. Nông nghiệp Việt Nam canh tác lạc hậu
nhưng số lượng xuất khẩu lại lớn. Khi gia nhập WTO Việt Nam phải cam kết
cắt giảm trợ cấp đối với nông nghiệp. Đối với ngành nông nghiệp thì đây là
một khó khăn rất lớn. Chúng ta vẫn phải chấp nhận vì bất kỳ quốc gia nào khi
gia nhập WTO cũng phải trải qua giai đoạn này. Khi đề cập đến vấn đề này,
Oxfam- một tổ chức phi chính phủ đã từng đặt ra những vấn đề cho nông
nghiệp Việt Nam: liệu hàng hóa nông nghiệp Việt Nam có tồn tại và phát
triển khi hàng hóa nông sản của các nước thành viên tràn ngập thị trường Việt
Nam.
Ngay khi mới gia nhập, nông nghiệp Việt Nam chưa thể áp dụng ngay
tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trong thời gian trước mắt. Hai lĩnh vực sản xuất
được dự đoán là ảnh hưởng bất lợi nhất là ngô và mía đường. Lĩnh vực dịch
vụ nhất là kiểu cung ứng dịch vụ nhỏ lẻ, phân tán cũng được coi là sẽ gặp bất
lợi do năng lực cạnh tranh kém,
Chúng ta thừa nhận đây thực sự là những khó khăn song nó chỉ là khó
khăn trong giai đoạn trước mắt. Về lâu dài nông nghiệp Việt Nam sẽ có nhiều

19
điều kiện thuận lợi để phát triển. Nông sản Việt Nam vào thị trường các nước
thành viên sẽ thuận lợi hơn vì hàng rào thuế quan gần như đã bị cắt giảm hoàn
toàn. Việt Nam cũng là một thị trường đầy hứa hẹn, đây cũng là điều mà rất
nhiều doanh nghiệp nước ngoài quan tâm. Khi Việt Nam cam kết thực hiện
các quy định của WTO cũng là lúc mà Việt Nam gửi thông điệp tới các nhà
đầu tư về một môi trường đầu tư an toàn, lý tưởng. Gia nhập WTO cũng tạo
điều kiện cho những công nghệ hiện đại thâm nhập vào Việt Nam, kết hợp
công nghệ hiện đại với nguồn lao động dồi dào sẽ cho năng suất lao động và
nâng cao hiệu quả cạnh tranh.
Khi Việt Nam trở thành viên của WTO cũng có nghĩa là rất nhiều vấn

Sau khi ký kết và trở thành thành viên WTO, Việt Nam đã cam kết cắt
giảm trợ cấp xuất khẩu nông nghiệp ngay sau khi gia nhập WTO. Việt Nam
sẽ có 5 năm quá độ cho việc cắt giảm trợ cấp xuất khẩu dưới dạng khuyến
khích đầu tư. Việt Nam đã cam kết thực hiện những điều khoản vệ sinh an
toàn thực phẩm ngay sau khi gia nhập, đồng thời Việt Nam sẽ cắt giảm mức
thuế quan đối với các mặt hàng nông nghiệp. Hiện tại mức thuế quan bình
quân trong nông nghiệp của Việt Nam là 27%, mức thuế này sẽ bị cắt giảm
xuống khoảng 15%. Một cam kết nữa là Việt Nam sẽ không được tiếp cận với
cơ chế tự vệ đặc biệt nhằm giảm thiểu tác động của đột biến nhập khẩu đối
với giá cả các mặt hàng chăn nuôi như thịt lợn, thịt bò, điều này sẽ gây thiệt
thòi cho người nông dân. Từ đó dẫn đến những thuận lợi và khó khăn cho
nông nghiệp Việt Nam khi hội nhập vào WTO.
1.6.1. Cam kết về mức thuế của các mặt hàng nông sản
1.6.1.1. §èi víi hµng nhËp khÈu
Qua biểu cam kết về thuế quan các mặt hàng nông sản nhËp khÈu, có
một số vấn đề dễ nhận thấy sau:
Thứ nhất, thuế suất dành cho nhóm các mặt hàng nông sản dao động
trong khoảng từ 0% - 150%. Đây là một khoảng dao động có biên độ lớn.

21
Những sản phẩm có thuế suất thấp thường rơi vào những mặt hàng thiết yếu,
nhất là những sản phẩm được dùng làm giống. Thuế suất cao rơi chủ yếu vào
những mặt hàng xa xỉ như rượu bia và thuốc lá (đây là những sản phẩm được
chế biến từ nông sản). Điều này rất phù hợp với định hướng phát triển chung
của nước ta.
Thứ hai, các mặt hàng tươi sống thường có thuế suất thấp hơn các mặt
hàng đã qua sơ chế hoặc chế biến thành phẩm. Trong khi đó các mặt hàng
nông sản nhập khẩu vào Việt Nam rất ít thực phẩm tươi sống, chủ yếu là đã
qua chế biến. Thực tế điều này gây bất lợi cho việc xuất khẩu nông sản Việt
Nam ra nước ngoài, vì phần lớn là ta xuất khẩu sản phẩm tươi sống hoặc chỉ

biệt rõ rệt về mức thuế giữa mặt hàng là động vật sống chưa qua chế biến với
các là sản phẩm từ động vật đã qua sơ chế hoặc chế biến thành phẩm.
Đối với động vật sống, thuế suất ở mức thấp: từ 0% đến 5%, 10%, cao
nhất là 20%. Thuế suất nhập khẩu 0% chủ yếu là động vật sống sử dụng làm
giống. Mức 5% và 10% là mức áp dụng chung cho phần lớn các mặt hàng
Đối với thịt động vật sau khi được giết mổ và qua sơ chế hoặc chế biến
thành phẩm thì mức thuế suất thuế nhập khẩu cao hơn. Dao động từ 0% đến
40%. Tuy nhiên, lộ trình cắt giảm dần mức thuế suất đối với mặt hàng này
cũng được thực hiện nhanh chóng.
- Các sản phẩm thực vật (Phần II): mức thuế suất dao động từ 0%
đến 50%. Có một bộ phận không nhỏ mặt hàng có thuế suất là 0%. Mặt hàng
thiết yếu quan trọng nhất của phần này chính là ngũ cốc. Đối với ngũ cốc,
riêng lúa gạo được đánh thuế cao hơn so với các loại ngũ cốc khác. Mức thuế
này tuy được các bên đưa ra đàm phán nhưng về cơ bản nó tạo điều kiện về
mặt thời gian để bản thân những người sản xuất trong nước điều chỉnh và
chống đỡ với cạnh tranh. Lộ trình cắt giảm nhóm hàng nay chủ yếu là đến

23
năm 2010, cho dù không phải là dài nhưng cũng là khoảng thời gian cần thiết
để nông nghiệp nước ta chuẩn bị đối phó.
- Mỡ và dầu động vật hoặc thực vật và các sản phẩm tách từ
chúng; mỡ ăn được đã chế biến; các loại sáp động vật hoặc thực vật (Phần
III): nhóm hàng này không thuộc nhóm thiết yếu, tuy nhiên nhu cầu về nó ở
nước ta cũng không phải nhỏ. Phần lớn các mặt hàng này ta hoặc không thể
sản xuất được hoặc có sản xuất nhưng không phải là mặt hàng có ưu thế lớn.
Mức thuế suất cũng khác nhau rõ rệt, dao động từ 5% đến 50%, mà chủ yếu là
mức 5%.
- Thực phẩm chế biến; đồ uống, rượu mạnh và giấm; thuốc lá và
các nguyên liệu thay thế thuốc lá lá đã chế biến (Phần IV): đây là lĩnh vực
hàng hoá có tính chất đặc biệt. Chính vì vậy thuế suất ỏ khu vực hàng hoá này

xử);
1.6.2. Những cam kết về lộ trình cắt giảm thuế đối với hàng nông sản
Qua biểu cam kết về thuế quan, ta nhận thấy lộ trình cắt giảm thuế của
các mặt hàng nông sản là không giống nhau. Có những mặt hàng không có lộ
trình cắt giảm mà ấn định mức thuế suất ngay từ khi gia nhập. Lộ trình chủ
yếu là tới năm 2010 và 2012. Lộ trình thực hiện càng ngắn thì thách thức đối
với lĩnh vực nông nghiệp nói riêng và tổng thể nền kinh tế nói chung càng
lớn.
Việc đặt ra lộ trình cắt giảm các mức thuế suất thuế nhập khẩu là cần
thiết. Đây cũng là khoảng thời gian chuẩn bị và chạy đà của nhiều quốc gia
nhất là những nước đang phát triển khi gia nhập WTO. Có rất nhiều mặt hàng
nông sản không có lộ trình cắt giảm mà được ấn định ngay một mức thuế suất
ngay từ ban đầu khi vừa gia nhập.
Trong chương 1, phần I của biểu cam kết, ta nhận thấy đối với động vật
sống thì hầu hết không có lộ trình cắt giảm. Mức thuế suất rất thấp, chủ yếu là
từ 5%- 10% và lại được ấn định ngay từ khi gia nhập. Có những mặt hàng

Trích đoạn Nguyên nhân khách quan Nguyên nhân chủ quan Yêu cầu về phía các giải pháp Các giải pháp cụ thể để phát triển nông nghiệp n-ớc ta khi gia nhập WTO
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status