ĐỀ TÀI:
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO
ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA NGÀNH DỆT MAY
LỜI NÓI ĐẦU
- Đề án môn học là hình thức nghiên cứu khoa học dành cho sinh viên
chuyên ngành, tôi là sinh viên của khoa thương mại dưới sự hướng dẫn của giáo
viên đặc biệt là sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của thầy Cấn Anh Tuấn tôi đã
lựa chọn đề tài: ''Tác động của việc gia nhập WTO đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của ngành dệt may Việt Nam'' , trong bối cảnh nước ta mới gia nhập tổ
chức thương mại quốc tế sự tác động và ảnh hưởng của nó là rất lớn đến kinh tế
nước ta. Tổ chức thương mại quốc tế còn rất mới lạ với Việt Nam ta và ngành
dệt may Việt Nam là một ngành phát triển rất mạnh của kinh tế Việt Nam và là
một ngành chủ lực, nó có tỷ trọng xuất khẩu cao và được nhà nước rất quan tâm
chú trọng phát triển. Ngành dệt may có thể nói là ngành trọng điểm của Việt
Nam, ngành sản xuất mũi nhọn và có tiềm lực phát triển khá mạnh. Do vậy sự
tác động của tổ chức thương mại quốc tế đến kinh tế việt nam là rất lớn vậy nên
nó tác động lên toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị sản xuất
kinh doanh, đề tài giúp ta hiểu thêm về tổ chức, ngành và sự tác động của tổ
chức tới ngành dệt may Việt Nam và cũng tác chung tới nền kinh tế.
- Tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài này với mục tiêu là giúp ta hiểu thêm về tổ chức
thương mại quốc tế và ngành dệt may Việt Nam đang lớn mạnh của nước nhà để
cũng hiểu được nó tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế như thế nào? để có những
chiến lược và chính sách cho hoạt động sản xuất kinh doanh cho phù hợp, tận
dụng cơ hội cho việc gia nhập WTO tạo cho kinh tế Việt Nam những bước phát
triển lớn mạnh, có thể hội nhập được với trường quốc tế.
- Tuy đối tượng tôi nghiên cứu ở đây chỉ là tổ chức thương mại quốc tế, ngành
dệt may Việt Nam, và sự tác động của tổ chức đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của ngành, nhưng chúng ta có thể hiểu chung cho nên kinh tế Việt Nam và
với phạm vi nghiên cứu trong nền kinh tế việt nam cụ thể là ngành dệt may Việt
1
phong trào chống toàn cầu hóa.
-Nguồngốc:
Hội nghị Bretton Woods vào năm 1944 đã đề xuất thành lập Tổ chức Thương
mại Quốc tế (ITO) nhằm thiết lập các quy tắc và luật lệ cho thương mại giữa các
nước. Hiến chương ITO được nhất trí tại Hội nghị của Liên hợp quốc về Thương
mại và Việc làm tại Havana tháng 3 năm 1948. Tuy nhiên, Thượng nghị viện
Hoa Kỳ đã không phê chuẩn hiến chương này. Một số nhà sử học cho rằng sự
thất bại đó bắt nguồn từ việc giới doanh nghiệp Hoa Kỳ lo ngại rằng Tổ chức
Thương mại Quốc tế có thể được sử dụng để kiểm soát chứ không phải đem lại
tự do hoạt động cho các doanh nghiệp lớn của Hoa Kỳ ( Lisa Wilkins,
1997).
ITO chết yểu, nhưng hiệp định mà ITO định dựa vào đó để điều chỉnh thương
mại quốc tế vẫn tồn tại. Đó là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại
3
(GATT). GATT đóng vai trò là khung pháp lý chủ yếu của hệ thống thương mại
đa phương trong suốt gần 50 năm sau đó. Các nước tham gia GATT đã tiến hành
8 vòng đàm phán, ký kết thêm nhiều thỏa ước thương mại mới. Vòng đám phán
thứ tám, Vòng đàm phán Uruguay, kết thúc vào năm 1994 với sự thành lập Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO) thay thế cho GATT. Các nguyên tắc và các
hiệp định của GATT được WTO kế thừa, quản lý, và mở rộng. Không giống như
GATT chỉ có tính chất của một hiệp ước, WTO là một tổ chức, có cơ cấu tổ
chức hoạt động cụ thể.
- WTO chính thức được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1995 .
- Chức năng:
WTO có các chức năng sau:
Quản lý việc thực hiện các hiệp ước của WTO
Diễn đàn đàm phán về thương mại
Giải quyết các tranh chấp về thương mại
Giám sát các chính sách thương mại của các quốc gia
Trợ giúp kỹ thuật và huấn luyện cho các nước đang phát triển
Mexico vào năm 2003 và Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 6 tại Hồng Kông từ ngày
13 tháng 12 đến ngày 18 tháng 12 năm 2005.
- Giải quyết tranh chấp
Ngoài việc là diễn đàn đàm phán các quy định thương mại, WTO còn hoạt động
như một trọng tài giải quyết các tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan
đến việc áp dụng quy định của WTO. Không giống như các tổ chức quốc tế
khác, WTO có quyền lực đáng kể trong việc thực thi các quyết định của mình
thông qua việc cho phép áp dụng trừng phạt thương mại đối với thành viên
không tuân thủ theo phán quyết của WTO. Một nước thành viên có thể kiện lên
Cơ quan Giải quyết Tranh chấp của WTO nếu như họ tin rằng một nước thành
viên khác đã vi phạm quy định của WTO.
Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO bao gồm hai cấp: sơ thẩm và phúc
thẩm. Ở cấp sơ thẩm, tranh chấp sẽ được giải quyết bởi một Ban Hội thẩm Giải
quyết Tranh chấp. Ban hội thẩm này thông thường gồm 3 chuyên gia trong lĩnh
vực thương mại liên quan. Ban hội thẩm sẽ nghe lập luận của của các bên và
soạn thảo một báo cáo trình bày những lập luận này, kèm theo là phán quyết của
ban hội thẩm. Trong trường hợp các bên tranh chấp không đồng ý với nội dung
phán quyết của ban hội thẩm thì họ có thể thực hiện thủ tục khiếu nại lên Cơ
quan phúc thẩm. Cơ quan này sẽ xem xét đơn khiếu nại và có phán quyết liên
quan trong một bản báo cáo giải quyết tranh chấp của mình. Phán quyết của các
cơ quan giải quyết tranh chấp nêu trên sẽ được thông qua bởi Hội đồng Giải
quyết Tranh chấp. Báo cáo của cơ quan giải quyết tranh chấp cấp phúc thẩm sẽ
có hiệu lực cuối cùng đối với vấn đề tranh chấp nếu không bị Hội đồng Giải
quyết Tranh chấp phủ quyết tuyệt đối (hơn 3/4 các thành viên Hội đồng giải
quyết tranh chấp bỏ phiếu phủ quyết phán quyết liên quan).
Trong trường hợp thành viên vi phạm quy định của WTO không có các biện
pháp sửa chữa theo như quyết định của Hội đồng Giải quyết Tranh chấp, Hội
5
đồng có thể ủy quyền cho thành viên đi kiện áp dụng các "biện pháp trả đũa"
(trừng phạt thương mại). Những biện pháp như vậy có ý nghĩa rất lớn khi chúng
hoặc tương đương).
Hội đồng Rà soát Chính sách Thương mại được nhóm họp để thực hiện việc rà
soát chính sách thương mại của các nước thành viên theo cơ chế rà soát chính
sách thương mại. Đối với những thành viên có tiềm lực kinh tế lớn, việc rà soát
6
diễn ra khoảng hai đến ba năm một lần. Đối với những thành viên khác, việc rà
soát có thể được tiến hành cách quãng hơn.
+ Cấp thứ ba: Các Hội đồng Thương mại
Các Hội đồng Thương mại hoạt động dưới quyền của Đại Hội đồng. Có ba Hội
đồng Thương mại là: Hội đồng Thương mại Hàng hóa, Hội đồng Thương mại
Dịch vụ và Hội đồng Các khía cạnh của Quyền Sở hữu Trí tuệ liên quan đến
Thương mại. Mội hội đồng đảm trách một lĩnh vực riêng. Cũng tương tự như
Đại Hội đồng, các hội đồng bao gồm đại diện của tất cả các nước thành viên
WTO. Bên cạnh ba hội đồng này còn có sáu ủy ban và cơ quan độc lập khác chịu
trách nhiệm báo cáo lên Đại Hội đồng các vấn đề riêng rẽ như thương mại và
phát triển, môi trường, các thỏa thuận thương mại khu vực, và các vấn đề quản
lý khác. Đáng chú ý là trong số này có Nhóm Công tác về việc Gia nhập chịu
trách nhiệm làm việc với các nước xin gia nhập WTO.
Hội đồng Thương mại Hàng hóa chịu trách nhiệm đối với các hoạt động thuộc
phạm vi của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), tức là các
hoạt động liên quan đến thương mại quốc tế về hàng hóa.
Hội đồng Thương mại Dịch vụ chịu trách nhiệm đối với các hoạt động thuộc
phạm vi của Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS), tức là các hoạt
động liên quan đến thương mại quốc tế về dịch vụ. Hội đồng Các khía cạnh của
Quyền Sở hữu Trí tuệ liên quan đến Thương mại chịu trách nhiệm đối với các
hoạt động thuộc phạm vi của Hiệp định về Các khía cạnh của Quyền Sở hữu Trí
tuệ liên quan đến Thương mại (TRIPS), cũng như việc phối hợp với các tổ chức
quốc tế khác trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ.
+ Cấp thứ tư: Các Ủy ban và Cơ quan
Dưới các hội đồng trên là các ủy ban và cơ quan phụ trách các lĩnh vực chuyên
+ Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp chống Trợ cấp Hiệp định về Tự vệ
+ Hiệp định về Thủ tục Cấp phép Nhập khẩu
+ Hiệp định về các Biện pháp Vệ sinh và Kiểm dịch (SPS)
+ Hiệp định về các Rào cản Kỹ thuật đối với Thương mại (TBT)
+ Hiệp định về Định giá Hải quan
+ Hiệp định về Kiểm định Hàng trước khi Vận chuyển
+ Hiệp định về Xuất xứ Hàng hóa (ROO)
+ Thỏa thuận về Cơ chế Giải quyết Tranh chấp
2. Một số nguyên tắc của WTO
Các hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) rất nhiều và phức tạp
bao gồm cả nông nghiệp, dệt may, ngân hàng, viễn thông, nông nghiệp và cả
thực phẩm... Tuy nhiên, xuyên suốt các hiệp định này là những nguyên tắc, và
chúng được coi là nền tảng của hệ thống thương mại đa phương.
a. Thương mại không phân biệt đối xử: thể hiện ở hai nguyên tắc:
- Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc: Tối huệ quốc có nghĩa là “nước
(được) ưu đãi nhất”, “nước (được) ưu tiên nhất”. Nội dung của nguyên tắc này
8
được WTO quy định rằng các quốc gia không thể phân biệt đối xử với các đối
tác thương mại của mình.
Cơ chế hoạt động của nguyên tắc là mỗi thành viên của WTO phải đối xử với
các thành viên khác của WTO một cách công bằng như những đối tác “ưu tiên
nhất”. Nếu một nước dành cho một đối tác thương mại của mình một hay một số
ưu đãi nào đó thì nước này cũng phải đối xử tương tự như vậy đối với tất cả các
thành viên còn lại của WTO để tất cả các quốc gia thành viên đều được “ưu tiên
nhất”.
- Nguyên tắc đối xử quốc gia là đối xử bình đẳng giữa sản phẩm nước
ngoài và sản phẩm nội địa. Nội dung của nguyên tắc này là hàng hóa nhập khẩu
và hàng hóa tương tự sản xuất trong nước phải được đối xử công bằng, bình
đẳng như nhau.
Cơ chế hoạt động của nguyên tắc này: Bất kỳ một sản phẩm nhập khẩu nào, sau
nhận khi đàm phán gia nhập tổ chức thương mại thế giới.
c. Nguyên tắc cạnh tranh công bằng:
Nguyên tắc cạnh tranh công bằng thể hiện sự tự do cạnh tranh trong
nhưng điều kiệnbình đẳng như nhau. Nguyên tắc này nhằm hạn chế những tác
động nhưng tiêu cực của biện pháp cạnh tranh không bình đẳng như bán phá giá,
trợ cấp hay dành một số đặc quyền cho một số doanh nghiệp nhất định.
d. Dành cho các thành viên đang phát triển một số ưu đãi:
Các ưu đãi này được thể hiện thông qua việc cho phép các thành viên
đang phát triển một số quyền và không phải thực hiện một số quyền và không
phải thực hiện một số nghĩa vụ hay thời gian quá độ dài hơn để điều chỉnh chính
sách.
Qua các vòng đàm phán, lợi ích của các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát
triển đã tăng lên khá nhiều. Sau vòng đàm phán Uruguay, các nước giàu trong
WTO đã cam kết sẽ rộng mở hơn nữa đối với hàng hoá xuất khẩu từ những nước
kém phát triển và trợ giúp kỹ thuật cho các nước này. Gần đây, những nước phát
triển đã bắt đầu cho phép nhập khẩu tự do, không thuế, không hạn ngạch đối với
tất cả những sản phẩm từ hầu hết quốc gia kém phát triển trong WTO.
10
Chương II
THỰC TRẠNG NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM SAU KHI VIỆT NAM
LÀ THÀNH VIÊN CỦA WTO
1. Kinh tế Việt Nam sau một năm gia nhập WTO
a. Những điều đạt được của kinh tế Việt Nam sau khi gia nhập
WTO
Năm 2007, kinh tế Việt Nam phát triển trong điều kiện khó khăn nhiều hơn
thuận lợi so với các năm trước. Thành công tiêu biểu nhất của việt nam là tốc độ
tăng trưởng GDP cao hơn dự kiến, đạt 8,44%, cao nhất trong 10 năm qua,dẫu
rằng có nhiều khó khăn về thiên tai lớn, dịch bệnh diễn biến phức tạp và sự biến
động thị trường bất lợi về giá cả tăng song nền kinh tế nước ta vẫn tăng GDP
cao, đứng thứ 3 châu Á (sau Trung Quốc: 11,3% và Ấn Độ khoảng: 9%)