ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ PHẠM THANH TÂM
VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở
NÔNG THÔN TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ Hà Nội- 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
PHẠM THANH TÂM
tới sự phát triển bền vững. Có việc làm vừa giúp bản thân người lao động có
thu nhập, vừa tạo điều kiện để phát triển nhân cách và lành mạnh hóa các
quan hệ xã hội.
Ở Việt Nam, với đặc điểm dân số đông, trẻ, nên có nguồn lao động
phong phú, dồi dào. Đặc điểm đó là thế mạnh trong phát triển kinh tế - xã hội
của chúng ta, song đồng thời nó cũng luôn tạo ra sức ép về việc làm cho toàn
xã hội. Vì vậy, quan tâm giải quyết việc làm, ổn định việc làm cho người lao
động luôn là một trong những giải pháp về phát triển xã hội và là chỉ tiêu định
hướng phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng ta đã đề ra.
Đặc biệt, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xu
thế chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, lao động Việt Nam có
nhiều cơ hội để tìm kiếm việc làm. Người lao động có thể vươn lên nắm bắt
tri thức và tự do làm giàu bằng tri thức của mình. Tuy nhiên, bên cạnh đó
cũng có những thách thức đặt ra cho người lao động Việt Nam: đó là yêu cầu
về chất lượng nguồn lao động. Người lao động không biết nghề, hoặc biết
không đến nơi đến chốn thì rất khó tìm được việc làm. Mặt khác, kinh nghiệm
các nước cho thấy, khi hội nhập WTO, ngành dễ bị tổn thương nhất là nông
nghiệp, nhóm dân cư dễ bị tổn thương nhất là nông dân. Chính vì vậy, quan
tâm đến vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn vẫn luôn
là vấn đề mang tính cấp bách. 2
Ở Vĩnh Phúc hiện nay, số người thất nghiệp còn đông, nhất là ở khu vực
nông thôn. Năm 2008, dân số ở khu vực nông thôn chiếm khoảng 84%, lực
lượng lao động ở khu vực nông thôn còn chiếm 74,94% lực lượng lao động,
tỷ lệ người lao động thiếu việc làm còn cao. Chất lượng nguồn nhân lực còn
rất thấp. Thu nhập của lao động nông thôn thấp hơn nhiều các khu vực kinh tế
khác. Vĩnh Phúc xác định muốn thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa phải giải quyết được vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông
tháng 3-2005.
- Kinh nghiệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn, Lê Văn Bảnh, Tạp
chí Lao động và xã hội, số 218, 2003.
- Sử dụng nguồn nhân lực nông thôn Việt Nam: Thực trạng và giải pháp,
Bùi Quang Bình, Trường Đại học Kinh Tế, Đại học Đà Nẵng, 2007.
- Quan tâm lao động nông thôn không còn đất, Đoàn Tất Thảo, Tạp trí
Lao động và xã hội, số 186, 2008.
- Giải quyết vấn đề lao động nông thôn mất hoặc thiếu việc làm, Hoàng
Hùng, Trần Hưng và Kiều Thắng, Tạp trí Nhân Dân, số ngày 04-06-2009.
- Giải pháp nào cho lao động và việc làm ở nông thôn, Quốc Việt, Báo
Hậu Giang, số ngày 03-06-2009.
Trong các công trình đó, các tác giả đã có nhiều đóng góp quan trọng, đã
khái quát hoặc đi sâu phân tích thực trạng việc làm ở nông thôn và đề xuất
những giải pháp để tạo việc làm cho người lao động ở khu vực nông thôn.
Ngoài ra cũng có một số đề tài luận văn thạc sĩ viết về vấn đề việc làm ở
các tỉnh như Thái Bình, Ninh Bình, Bắc Ninh… Song cho đến nay chưa có 4
một công trình khoa học nào đi sâu vào nghiên cứu vấn đề việc làm cho người
lao động ở nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc dưới góc độ chuyên ngành kinh tế chính
trị học.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Góp phần làm rõ vấn đề việc làm cho người lao động nông thôn ở Vĩnh
Phúc; phân tích thực trạng và trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp chủ yếu
giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn Vĩnh Phúc.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ thực trạng việc làm của người lao động nông thôn; những nhân
tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn để làm cơ
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có 3 chương; 8 tiết.
Chương 1: Những vấn đề chung về việc làm cho người lao động ở nông thôn
Chương 2: Thực trạng việc làm cho người lao động nông thôn ở Vĩnh Phúc
Chương 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho
người lao động ở nông thôn Vĩnh Phúc 6
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆC LÀM CHO NGƢỜI
LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN
1.1. Việc làm cho ngƣời lao động ở nông thôn
1.1.1. Những khái niệm cơ bản
Khái niệm việc làm
Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Việc làm là những hoạt động lao
động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật.
Điều 13, chương 2 (việc làm) Bộ luật lao động của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không
bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm". Khái niệm này được vận
dụng trong các cuộc điều tra về thực trạng lao động và việc làm hàng năm của
Việt Nam và được cụ thể hóa thành ba dạng hoạt động sau:
- Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương dưới dạng bằng tiền
hoặc bằng hiện vật.
- Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân. Bao gồm sản xuất
nông nghiệp trên đất do chính thành viên được quyền sử dụng; hoặc hoạt
động kinh tế phi nông nghiệp do chính thành viên đó làm chủ toàn bộ hoặc một
lượng, khối lượng việc làm sẽ giảm.
Trong xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới, khoa học công nghệ phát triển
mạnh mẽ, được ứng dụng nhanh chóng vào sản xuất và tất cả các lĩnh vực
khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội đã làm cho khối lượng công việc có
yêu cầu về mặt kỹ thuật cao tăng nhanh chóng. 8
Mặt khác, năng suất lao động tăng đã làm ảnh hưởng rất lớn tới "cầu" lao
động và "cơ cấu" lao động. Nếu người lao động không tự nâng cao tay nghề,
nâng cao trình độ của mình theo kịp với yêu cầu của sản xuất kinh doanh;
phân công lao động xã hội không phát triển, không tạo được nhiều việc làm
mới cho người lao động thì tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm là điều khó
tránh khỏi.
Trong nông nghiệp, lao động mang tính thời vụ, do vậy vào thời kỳ mùa vụ,
khối lượng công việc nhiều, tăng đột biến. Tuy nhiên, lúc nhàn rỗi, khối lượng
công việc giảm đột ngột, thậm chí có lúc người nông dân không có việc làm.
Đặc biệt trong điều kiện hiện nay dân số ở khu vực nông thôn vẫn tăng nhanh,
đất canh tác không tăng thậm chí có xu hướng giảm xuống vì nhiều lý do: đô thị
hóa, đất ở, tăng, mặt khác với khả năng ứng dụng máy móc, tiến bộ khoa học
công nghệ, làm cho năng suất lao động tăng nhanh, giải phóng một lượng lao
động lớn ra khỏi ngành nông nghiệp. Nếu không tạo đủ công ăn, việc làm cho
người nông dân, đặc biệt trong lúc nông nhàn với thu nhập được người nông dân
chấp nhận, sẽ dẫn đến hiện tượng nông dân di chuyển đến các thành phố và các
khu công nghiệp tìm kiếm việc làm gây nhiều vấn đề phức tạp cho việc quản lý
lao động, quản lý xã hội, tình trạng xóm liều, phố liều, tệ nạn xã hội gia tăng.
Khái niệm thất nghiệp: Theo khái niệm của tổ chức lao động Quốc Tế
(ILO), thất nghiệp (theo nghĩa chung nhất) là tình trạng tồn tại khi một số
người trong độ tuổi lao động muốn có việc làm nhưng không thể tìm được
việc làm ở mức tiền công nhất định. Người thất nghiệp là người trong độ tuổi
sản lượng của nền kinh tế. Trong giai đoạn suy thoái của chu kỳ kinh 10
doanh, tổng giá trị sản xuất giảm dần, hầu hết các nhà sản xuất giảm sản
lượng cầu đối với các đầu vào, trong đó có lao động. Đối với loại thất
nghiệp này, những chính sách nhằm khuyến khích tăng cầu thường mang
lại kết quả tích cực.
- Xét về tính chủ động của người lao động, thất nghiệp có thể chia thành:
Thất nghiệp tự nguyện: Là loại thất nghiệp mà ở mức tiền công nào đó
người lao động không muốn làm việc vì lý do cá nhân nào đó (di chuyển, sinh
con) thất nghiệp loại này thường gắn với thất nghiệp tạm thời.
Thất nghiệp không tự nguyện: Là loại thất nghiệp mà ở mức tiền công nào
đó người lao động chấp nhận nhưng vẫn không được làm việc do kinh tế suy
thoái, cung lớn hơn cầu về lao động.
Ngoài thất nghiệp hữu hình (thất nghiệp tự nguyện và không tự nguyện)
còn tồn tại thất nghiệp trá hình:
Thất nghiệp trá hình: Là hiện tượng xuất hiện khi người lao động được sử
dụng ở dưới mức khả năng mà bình thường người lao động sẵn sàng làm việc.
Hiện tượng này xảy ra khi năng suất lao động của một ngành nào đó thấp. Thất
nghiệp loại này thường gắn với việc sử dụng không hết thời gian lao động.
Xét theo hình thức thất nghiệp có thể chia thành:
Thất nghiệp theo giới tính: Là loại thất nghiệp của lao động nam (hoặc nữ).
Thất nghiệp chia theo lứa tuổi: Là loại thất nghiệp của một lứa tuổi nào đó
trong tổng số lực lượng lao động.
Thất nghiệp chia theo vùng lãnh thổ: Là hiện tượng thất nghiệp xảy ra
thuộc vùng lãnh thổ (thành thị, nông thôn, đồng bằng, miền núi ).
Thất nghiệp chia theo ngành nghề: Là loại thất nghiệp xảy ra ở một ngành
nghề nào đó.
12
Thiếu việc làm vô hình: Là những người có đủ việc làm, làm đủ thời gian
thậm chí nhiều thời gian hơn mức bình thường nhưng thu nhập thấp. Nguyên
nhân của tình trạng này là do tay nghề hoặc kỹ năng của người lao động thấp
không sử dụng hết khả năng hiện có hoặc do điều kiện lao động tồi, tổ chức
lao động kém. Thước đo khái niệm thiếu việc làm vô hình là mức thu nhập
thấp hơn mức lương tối thiểu.
Nguyên nhân thiếu việc làm:
Do nền kinh tế chậm phát triển, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu
người thấp và giảm dần do quá trình đô thị hoá, công nghiệp hóa.
Do lực lượng lao động tăng quá nhanh, trong khi đó số chỗ làm việc mới
tạo ra quá ít, do trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề của người lao động
còn thấp kém.
Do tính chất thời vụ, thời tiết khí hậu, do chính sách đầu tư chưa hợp lý,
sản phẩm sản xuất ra không tiêu thụ được v.v.
1.1.2. Đặc điểm của việc làm ở nông thôn
Nông thôn là nơi sinh sống của một bộ phận dân cư chủ yếu làm việc
trong lĩnh vực nông nghiệp. Có nhiều loại việc làm diễn ra ở nông thôn, phản
ánh tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội ở nông thôn. Nhưng việc
làm của người lao động ở nông thôn lại gắn với đặc điểm của lực lượng lao
động ở đây, với điều kiện tự nhiên nơi họ sinh sống.
Việc làm của người lao động ở nông thôn là những hoạt động lao động
trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã
hội của một bộ phận lực lượng lao động sinh sống ở nông thôn để mang lại
thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm. 13
Việc làm của người lao động ở nông thôn gắn liền với môi trường, điều
kiện sinh sống và làm việc của người lao động. Và chính môi trường, điều
Như vậy, có thể nói lao động trong trồng trọt và chăn nuôi là việc làm chính
của người lao động ở nông thôn. Thế mạnh của lĩnh vực này là người lao động
được kế thừa kinh nghiệm sản xuất của ông cha để lại. Người lao động ở nông
thôn lớn lên đã theo cha mẹ ra đồng làm việc nên họ thường quan niệm rằng
không cần phải qua trường lớp đào tạo. Kiến thức nghề nông được tích lũy dần
trong quá trình người lao động tham gia sản xuất từ nhỏ với tư cách là người lao
động phụ của gia đình. Bên cạnh đó, loại công việc này còn nhiều hạn chế:
Thứ nhất, sản xuất năm này theo năm khác, lặp đi lặp lại nên người lao
động chỉ làm việc theo kinh nghiệm, ít có cải tiến, sáng tạo dẫn đến năng
suất và hiệu quả công việc không được nâng cao. Quá trình đó cứ diễn ra như
thế từ ngàn năm, làm cho tiến trình phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn diễn
ra một cách chậm chạm.
Thứ hai, loại công việc này có tính chất mùa vụ nên lao động ở nông thôn
sẽ thiếu việc làm trong những lúc nông nhàn. Mặt khác, cùng với quá trình đô
thị hóa, đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng làm cho người nông
dân bị mất tư liệu sản xuất và với trình độ học vấn, tay nghề thấp họ sẽ gặp
khó khăn trong tìm kiếm việc làm và phải làm những công việc nặng nhọc với
mức lương thấp Đặc biệt là trong quá trình hội nhập, người lao động làm
việc trong lĩnh vực thuần nông có nguy cơ bị thiếu việc làm và bị thất nghiệp
cao.
Việc làm phi nông nghiệp là lĩnh vực rộng lớn, gồm tất cả các ngành, nghề
ngoài nông nghiệp ở nông thôn. Cùng với sự hình thành và phát triển của cơ
chế thị trường có sự quản lý của nhà nước các loại ngành, nghề ở nông thôn 15
phát triển đã tạo nên sự phong phú, đa dạng về việc làm cho người lao động ở
khu vực này. Hiện nay đã có nhiều loại hình công việc ngoài nông nghiệp ra đời
và phát triển mạnh. Bên cạnh sự phát triển của các làng nghề truyền thống như
sản xuất đồ gỗ, gốm sứ, thêu ren, đồ thủ công mỹ nghệ nhiều ngành nghề chế
liệu đã hình thành nên hệ thống dịch vụ đầu vào, đầu ra, đưa lại giá trị gia
tăng cho sản phẩm nông nghiệp. Mặt khác do yêu cầu của công việc, người
lao động làm việc trong các ngành nghề ít nhiều phải có tay nghề và đòi hỏi
phải có tay nghề ngày càng cao. Điều đó bắt buộc người lao động phải
không ngừng học tập, rèn luyện giúp nâng cao chất lượng nguồn lao động ở
nông thôn.
Việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn hiện nay đang phát triển phong
phú, đa dạng. Tuy nhiên sự phát triển của loại việc làm này cũng gặp khó
khăn do hạn chế về trình độ tay nghề của người lao động, về công nghệ cũng
như giới hạn về khả năng quản lý của chủ hộ sản xuất kinh doanh, về nguồn
vốn và phong tục tập quán. Người dân có nghề phi nông nghiệp vẫn chưa
mạnh dạn bỏ ruộng để tập trung sản xuất ngành nghề.
Tóm lại, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn trong phát triển ngành nghề ở
nông thôn, nhưng so với việc làm thuần nông thì sự phát triển gia tăng của
việc làm phi nông nghiệp hiện nay đang chiếm ưu thế và đang trong xu thế
phát triển. Bởi vì so với lĩnh vực thuần nông, lĩnh vực phi nông nghiệp ở nông
thôn ít gặp những giới hạn của tự nhiên, ngược lại nó còn được thúc đẩy mạnh
mẽ bởi sự phát triển của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nếu như
việc làm thuần nông ngày càng bị thu hẹp thì việc làm phi nông nghiệp đang
trong xu thế phát triển mở rộng do chính sự phát triển của một nền nông 17
nghiệp hàng hóa đưa lại. Hơn nữa, nông thôn Việt Nam đang vươn mình phát
triển. Điều đó tạo ra thị trường rộng lớn cho sản xuất, hình thành cơ cấu kinh
tế công, nông nghiệp, dịch vụ và cơ cấu lao động tiến bộ ở nông thôn.
1.1.3 Đặc điểm của lực lượng lao động ở nông thôn
Lực lượng lao động ở nông thôn là một bộ phận của lực lượng lao động cả
nước sinh sống và làm việc tại khu vực nông thôn. Cũng như lực lượng lao
động chung của cả nước, lực lượng lao động ở nông thôn là bộ phận dân số
Ở nước ta, năm 2008, dân số khu vực thành thị là 24 triệu người, tăng
2,85% so với năm trước, chiếm 27,9% tổng dân số; dân số khu vực nông thôn
là 62,1 triệu người, tăng 0,55% và chiếm 72,1%. [39]
Trên phạm vi cả nước từ 2001 đến 2008, tỉ trọng lao động làm việc trong
khu vực I (Nông, Lâm, Thủy sản) giảm từ 62,6% năm 2001 xuống còn 53,2%
năm 2008, bình quân hàng năm giảm gần 1,2%. Tỉ trọng lao động làm việc
trong khu vực II (công nghiệp) tăng từ 13,1% năm 2000 lên 20,9% năm 2008,
bình quân hàng năm tăng gần 1%. Tỉ trọng lao động làm việc trong khu vực
III (dịch vụ) tăng từ 24,3% năm 2001 lên 26,1% năm 2008. Lao động ở nông
thôn cũng không nằm ngoài xu hướng vận động chung đó. [39]
Đặc biệt từ khi thực hiện chủ trương giao đất, giao rừng, người lao động ở
nông thôn đã có sự độc lập tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Nền sản xuất
nông thôn đã có sự chuyển hướng từ thuần nông, tự túc, tự cấp sang sản xuất
hàng hóa, ai giỏi nghề gì làm nghề ấy, đa dạng nhiều ngành nghề. Ngoài trồng
trọt, chăn nuôi người lao động có thể làm việc trong các ngành nghề khác tại
các xí nghiệp vừa và nhỏ tại địa phương.
Dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quá trình
chuyển dịch về cơ cấu lao động trên càng được thúc đẩy nhanh chóng. Việc 19
ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, một mặt đã tạo ra nhiều ngành
nghề ở địa phương, kéo theo sự xuất hiện của nhiều loại hình dịch vụ có khả
năng thu hút lao động lớn. Mặt khác, do ứng dụng khoa học công nghệ vào
sản xuất, năng suất lao động của nông nghiệp sẽ không ngừng tăng lên, vai trò
quan trọng của nông thôn là cung cấp lương thực, thực phẩm cho toàn dân,
cung cấp nguyên vật liệu cho công nghiệp ngày càng được đảm bảo cho phép
giải phóng lao động nông nghiệp sang làm các ngành nghề khác. Như vậy,
song song với quá trình rút lao động ra khỏi sản xuất nông nghiệp cũng đồng
thời diễn ra quá trình thu hút lực lượng lao động ở nông thôn vào các ngành
vóc và tuổi thọ trung bình của người lao động ở nông thôn thường thấp hơn
người lao động ở thành thị. Khu vực nông thôn cũng chưa được tạo điều kiện
để nâng cao các yếu tố khác của chất lượng nguồn lao động như văn hóa,
chuyên môn nghiệp vụ cũng như nhận thức về công ăn việc làm, tinh thần ý
thức trách nhiệm để có việc làm và làm việc có năng suất, chất lượng, hiệu
quả. Hạn chế này của lực lượng lao động ở nông thôn hiện nay đang được
khắc phục cùng với sự phát triển của nông thôn và quá trình rút ngắn khoảng
cách giữa nông thôn và thành thị.
- Lực lượng lao động ở nông thôn có trình độ học vấn và trình độ tay nghề
thấp, người lao động thường làm việc theo kinh nghiệm nên không có điều kiện
nâng cao tay nghề. Mặt khác, người lao động có trình độ cao thường muốn tìm
cho mình một chỗ làm việc ở thành thị, có thu nhập cao, có điều kiện hưởng thụ
những kết quả của sự phát triển xã hội. Họ thường tìm việc làm ở thành phố chứ
ít khi làm việc ở nông thôn. Lực lượng lao động còn lại ở nông thôn thường là
những người không có điều kiện đi làm ở nơi khác mới ở lại nông thôn làm việc.
Do vậy, cần phải đào tạo và tập huấn tay nghề cho họ để nâng cao chất lượng
nguồn lao động ở khu vực này. 21
Tóm lại, lực lượng lao động ở nông thôn nước ta chiếm phần lớn trong lực
lượng lao động cả nước. Đó là nguồn lực to lớn, có vai trò quan trọng trong
phát triến kinh tế xã hội ở nông thôn nói riêng và trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung. Tiềm năng của lực lượng lao động ở
nông thôn là hết sức to lớn. Tuy nhiên tiềm năng đó chưa được khai thác và
phát huy đầy đủ. Lực lao động ở nông thôn đông nhưng chưa mạnh. Chính vì
vậy cần phát triển kinh tế xã hội, tạo việc làm cho người lao động ở nông thôn
một cách đầy đủ, phù hợp với trình độ người lao động để khai thác, phát huy
nguồn nhân lực ở nông thôn đồng thời phải có chiến lược bồi dưỡng, phát
triển lực lượng lao động cho khu vực này.
Một là, chuyển bớt lao động ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp, chỉ để lại
lượng lao động đủ để tạo ra sản lượng cố định. Từ đó nâng cao sản lượng theo
đầu người đồng thời tạo việc làm cho số lao động dôi dư trong nông nghiệp.
Mặt khác, việc di chuyển này sẽ làm tăng lợi nhuận trong lĩnh vực công
nghiệp, tạo điều kiện nâng cao sức tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung.
1.1.4.3. Lý thuyết của Harry Toshima (nhà kinh tế học người Nhật Bản)
Theo Harry Toshima, lý thuyết của Athur Lewis không có ý nghĩa thực tế
với tình trạng dư thừa lao động trong nông nghiệp ở các nước châu Á gió
mùa. Bởi vì, nền nông nghiệp lúa nước vẫn thiếu lao động lúc đỉnh cao của
thời vụ và chỉ dư thừa lao động trong mùa nhàn rỗi. Vì vậy, ông cho rằng cần
giữ lại lao động nông nghiệp và chỉ tạo thêm việc làm trong những tháng nhàn
rỗi bằng cách thâm canh, tăng vụ, đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi Đồng
thời, sử dụng lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp vào các ngành sản xuất
công nghiệp cần nhiều lao động. Việc tạo thuận lợi hơn nữa để có việc làm
đầy đủ cho mọi thành viên gia đình nông dân trong những tháng nhàn rỗi sẽ 23
nâng cao mức thu nhập hàng năm của họ và sẽ mở rộng được thị trường trong
nước cho các ngành công nghiệp và dịch vụ. Như vậy, lực lượng lao động sẽ
được sử dụng hết.
Tóm lại, các lý thuyết về việc làm nêu trên đều tập trung nghiên cứu, xác
định mối quan hệ cung cầu lao động tác động đến việc làm. Những lý luận đó
chưa làm rõ vai trò của Chính phủ thông qua hệ thống các chính sách kinh tế
kết hợp với chính sách xã hội để tạo việc làm ổn định cho nền kinh tế, nhưng
có tác dụng gợi mở cho chúng ta khi phân tích thực trạng việc làm và đề ra
những giải pháp phù hợp tạo việc làm cho người lao động, đặc biệt là cho
người lao động ở khu vực nông thôn.
1.2. Các nhân tố ảnh hƣởng đến việc làm của lao động ở nông thôn
1.2.1. Vai trò của nhà nước