Vai trò của ngân hàng thế giới đối với các nước đang phát triển và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ

VŨ THỊ THU HƯƠNG
VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG THẾ GIỚI
ĐỐI VỚI CÁC
NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ
VẤN ĐỀ
ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 5.02.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

tế quốc tế. Trong các tổ chức kinh tế quốc tế nổi lên một định chế tài chính toàn
cầu là Ngân hàng thế giới. Từ khi ra đời, hoạt động của Ngân hàng thế giới ngày
càng mở rộng ra nhiều quốc gia và trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Vậy vai trò
của Ngân hàng thế giới trong nền kinh tế thế giới như thế nào? Mục đích, nguyên
tắc hoạt động của tổ chức đó ra sao? Nó có tác động đối với các quốc gia đặc biệt
là những quốc gia đang phát triển như thế nào? đó là những câu hỏi cần có câu
trả lời.
Việt Nam hiện nay đang trong quá trình đổi mới, chuyển sang nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới.
Trong quá trình mở cửa hội nhập, việc thiết lập quan hệ với các tổ chức tài chính
quốc tế đa phương là rất cần thiết, trong đó có Ngân hàng thế giới. Ngân hàng thế
giới hiện nay là nhà tài trợ ODA lớn thứ hai ở Việt Nam. Nếu Việt Nam thiết lập
quan hệ tốt với tổ chức này thì sẽ góp phần khai thác có hiệu quả các nguồn lực từ
bên ngoài đáp ứng nhu cầu tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Xuất phát từ suy nghĩ đó, em chọn đề tài “Vai trò Ngân hàng thế giới đối với các
nước đang phát triển và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam ” nhằm đánh giá tác
động của Ngân hàng thế giới đối với các nước đang phát triển và đề xuất một số giải
pháp cho Việt Nam để mở rộng quan hệ với tổ chức này.
2. Tình hình nghiên cứu.
Ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về
Ngân hàng thế giới. Những công trình chủ yếu là: “Các thiết chế tài chính quốc tế
và sự tác động đối với các nước đang phát triển” do Nguyễn Văn Thanh chủ biên
đã đề cập đến những thành công và thất bại của Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế trong 50 năm tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, tác phẩm đó chỉ tập hợp
những bài viết của những tác giả khác nhau ở trong và ngoài nước về các khía
cạnh khác nhau của hai tổ chức này. “Các tổ chức tài chính quốc tế và quan hệ
của Việt Nam” do Bộ Tài chính chủ biên giới thiệu sơ lược về lịch sử hình thành,
cơ cấu tổ chức của Ngân hàng thế giới và quan hệ với Việt Nam. “Các định chế

- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp để phát triển quan hệ giữa
Ngân hàng thế giới và Việt Nam.
8. Bố cục của luận văn.
Ngoài lời mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm ba chương:
Chương 1: Tổng quan về Ngân hàng thế giới.
Chương 2: Tác động của Ngân hàng thế giới đối với các nước đang phát triển
Chương 3: Quan điểm định hướng và những giải pháp nhằm phát triển quan hệ
giữa Ngân hàng thế giới và Việt Nam.
MỤC LỤC

Lời mở đầu

12
13
13
14
15
15
Chương 2 Tác động của Ngân hàng thế giới đối với
các nước đang phát triển

2.1. Tác động về kinh tế
2.1.1. Những tác động tích cực
2.1.1.1. Cung cấp vốn đa phương lớn nhất với điều kiện ưu đãi cho các nước
18
18
đang phát triển
2.1.1.2. Cải thiện cơ sở hạ tầng vật chất cho nền kinh tế ở các nước đang phát triển
2.1.1.3. Phát triển nông nghiệp, nông thôn ở những nước đang phát triển
2.1.1.4. Giúp các nước tạo lập và duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô
2.1.1.5. Khuyến khích sự phát triển mạnh mẽ của đầu tư tư nhân và đẩy mạnh cải
cách doanh nghiệp nhà nước
2.1.1.6. Khuyến khích các nước đang phát triển đẩy mạnh cải cách kinh tế theo hướng
tự do, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ hơn
2.1.1.7. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo
2.1.1. Những tác động hạn chế
2.2. Tác động chính trị , xã hội
2.2.1. Những tác động tích cực
2.2.1.1. Về xã hội

3.1.2.1. Những tác động tích cực
3.1.2.2. Những hạn chế trong việc thực hiện dự án
3.2. Những quan điểm định hướng trong việc phát triển quan hệ giữa
77
77
79
80
95
Việt Nam với Ngân hàng thế giới
3.2.1. Phát triển quan hệ với Ngân hàng thế giới là một vấn đề tất yếu, có tính
chiến lược và lâu dài
3.2.2. Phát triển quan hệ với Ngân hàng thế giới cần luôn tính đến tác
động hai mặt của nó
3.2.3. Chủ động thực hiện cải cách và tạo lập những điều kiện cần thiết
để hợp tác có hiệu quả với Ngân hàng thế giới
3.3. Các giải pháp nhằm mở rộng quan hệ với Ngân hàng thế giới
3.3.1. Tham gia hợp tác toàn diện với Ngân hàng thế giới trên tất cả các
mặt hoạt động khác nhau
3.3.2. Thực hiện cải cách một số lĩnh vực trọng yếu trong nền kinh tế hiện nay
3.3.3. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong quản lý và thực hiện
dự án với Ngân hàng thế giới
3.3.4. Đào tạo và nâng cao trình độ đối với những cán bộ làm trong lĩnh
vực có liên quan đến Ngân hàng thế giới

Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
97

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT IBRD Ngân hàng quốc tế cho tái thiết và phát triển
ICSID Trung tâm quốc tế giải quyết các tranh chấp đầu tư
IDA Hiệp hội phát triển quốc tế
IFC Công ty tài chính quốc tế
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
MIGA Cơ quan bảo lãnh đầu tư đa phương
OED Ban đánh giá hoạt động
WB Ngân hàng thế giới
77
CHƢƠNG 3:
QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP
NHẰM PHÁT TRIỂN QUAN HỆ GIỮA NGÂN HÀNG THẾ GIỚI
VÀ VIỆT NAM
3.1. HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THẾ GIỚI TẠI VIỆT NAM
3.1.1. Khái quát về mối quan hệ giữa Việt Nam và Ngân hàng thế giới

Năng lượng 23%; Giao thông 19%; Phát triển nông thôn 22%; Tín dụng hỗ trợ
giảm nghèo 13%; Giáo dục 8%; Phát triển đô thị 8%; Y tế và dân số 5%; Tài chính
ngân hàng 3%. Ngoài ra, WB còn cung cấp viện trợ không hoàn lại trị giá 2,7 triệu
đô la của Quỹ phát triển thể chế và 15 khoản viện trợ không hoàn lại trị giá 18,9
triệu đô la theo các quỹ uỷ thác tại WB [12,19]. Kết thúc năm tài chính 2005, Việt
Nam nhận được 700 triệu đô la vốn cam kết của IDA và trở thành một trong số 3
nước nhận được tín dụng IDA lớn nhất.
+ Về hoạt động hỗ trợ kỹ thuật: Ngoài việc cho các dự án vay, WB còn
cung cấp cho Việt Nam một số khoản hỗ trợ kỹ thuật của chính WB và một số
khoản hỗ trợ kỹ thuật do một số nước uỷ thác. Tính đến tháng 1 năm 2000, tổng số
hỗ trợ kỹ thuật của WB dành cho Việt Nam là 71 khoản với giá trị là 86 triệu đô la
[13,374]. Sự hỗ trợ kỹ thuật của WB tập trung vào lĩnh vực chuẩn bị dự án, phát
triển thể chế nhằm xây dựng, nâng cao năng lực một số ngành, cơ quan có liên
quan đến dự án; xây dựng và phát triển chính sách nhằm nâng cao khuôn khổ pháp
lý cho các dự án cơ sở hạ tầng thuộc ngành điện và vệ sinh môi trường.
WB đã xây dựng chiến lược hỗ trợ cho Việt Nam giai đoạn 2001 – 2003 với
mục tiêu hỗ trợ Việt Nam thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo và tăng
trưởng công bằng thông qua các chương trình, dự án và hỗ trợ kỹ thuật trong 7 lĩnh
vực ưu tiên:
- Tăng cường sự ổn định vĩ mô và tính cạnh tranh.
- Tăng cường khu vực tài chính.
- Đổi mới hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước.
- Tăng năng suất lao động thông qua cơ sở hạ tầng.
- Thúc đẩy phát triển nông nghiệp và nông thôn.
- Phát triển nguồn nhân lực và công bằng xã hội.

79
- Cải cách hành chính, tăng cường tính công khai và sự tham gia của cộng
đồng.
Hiện nay, trên cơ sở Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm

với các nước này. Tuy nhiên, những đặc điểm riêng của Việt Nam làm cho quan hệ
giữa WB và Việt Nam còn có những sắc thái riêng.
3.1.2.1. Những tác động tích cực
Một cách tổng quát, những hoạt động của WB tại Việt Nam trong thời gian vừa
qua được cả phía Việt Nam và WB đánh giá cao. Theo đánh giá của WB, Việt
Nam được xếp vào những quốc gia thực hiện tốt và đem lại kết quả tích cực: tốc độ
tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người tăng; ổn định kinh tế vĩ mô được duy trì;
tỉ lệ nghèo đói giảm xuống; hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học; tỉ lệ mù chữ
giảm xuống, tỉ lệ trẻ em đến độ tuổi đi học nhập trường cao; sức khoẻ và đời sống
của người dân được cải thiện, tuổi thọ bình quân tăng, tỉ lệ trẻ em bị suy dinh
dưõng giảm, sức khoẻ của bà mẹ và trẻ em có sự cải thiện rõ rệt… Khi đánh giá
kết quả các dự án đã hoàn thành ở Việt Nam, OED đánh giá hiệu quả phát triển của
các dự án của WB tiếp tục coi là tốt, tỉ lệ các dự án hoàn thành đạt yêu cầu cao.
Trong 8 dự án đã hoàn thành mà OED đánh giá, 100% đạt yêu cầu cả về mục tiêu
phát triển và tiến độ thực hiện. Trong 25 dự án hiện tại, 100% các dự án thiết kế
đều đạt được mục tiêu phát triển, xét về tiến độ thực hiện: 19/25 dự án được xếp
hạng đạt yêu cầu, chỉ có 6/25 dự án được xếp hạng không thoả đáng. Số dự án có
nguy cơ là 6, chiếm 24% tổng số dự án nhưng lại chỉ chiếm 19% tổng vốn cam
kết, cao hơn mức trung bình trong danh mục vốn cho vay của WB [8; tr 1 phụ lục
B1].
Việt Nam đánh giá cao sự hỗ trợ của WB trong thời gian vừa qua. Các dự án đã
góp phần hỗ trợ Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường vững chắc và có hiệu
quả hơn. Những tác động tích cực của WB tại Việt Nam được thể hiện ở những
khía cạnh sau:
3.1.2.1.1. Hỗ trợ cho Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường
Việt Nam đang trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa. Sự cam kết ngày càng mạnh mẽ của Chính phủ thực hiện cải
cách nền kinh tế hướng về thị trường mở cửa và điều này phù hợp với quan điểm
hỗ trợ của WB đối với các nước đang phát triển. Chính vì có sự thống nhất về quan



82
Những tác động trên đã góp phần cải thiện chung cho môi trường đầu tư của
khu vực tư nhân. Quốc hội đã thông qua những sửa đổi trong Hiến pháp, biến khu
vực tư nhân trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế, thừa nhận quyền
của doanh nghiệp và doanh nhân trong việc quyết định hình thức kinh doanh và
hoạt động trong những lĩnh vực không bị cấm. Hội nghị Trung ương 5 khoá IX
tháng 3-2002 đã thừa nhận khu vực tư nhân là một yếu tố đóng góp quan trọng vào
tạo việc làm, thu nhập và ngân sách. Hội nghị kêu gọi các nhà lãnh đạo đất nước
khuyến khích khu vực tư nhân và ra quyết định đề xuất những chính sách tạo điều
kiện cho việc phát triển khu vực tư nhân. 50 loại giấy phép liên quan đến việc
thành lập và các hoạt động của doanh nghiệp tư nhân bị bãi bỏ hoặc sửa đổi. Một
Nghị định về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ đã được ban
hành, tiến dần tới xoá bỏ chế độ hai giá đối với các tổ chức trong và ngoài nước.
Luật doanh nghiệp ra đời khuyến khích tư nhân đầu tư, biểu hiện từ khi Luật
Doanh nghiệp ra đời, cứ mỗi tháng có 1600 doanh nghiệp mới đăng ký. Thực hiện
áp dụng mức thuế thu nhập thống nhất 28% đối với mọi loại hình sở hữu.
* Cải cách doanh nghiệp nhà nƣớc. Để nâng cao tính hiệu quả và tăng cường
nguồn tài chính cho giảm nghèo, WB đã hỗ trợ kỹ thuật đối với lĩnh vực cải cách
doanh nghiệp nhà nước trong một loạt các hoạt động đi kèm với Tín dụng hỗ trợ
giảm nghèo bao gồm tăng cường cổ phần hoá, giải thể và bán đứt doanh nghiệp
nhà nước; điều chỉnh khuôn khổ pháp lý để nâng cao hiệu quả và tính minh bạch
của việc cổ phần hoá; Tiến hành kiểm toán chẩn bệnh và kế hoạch cơ cấu lại các
doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn (kế hoạch cơ cấu lại 3 tổng công ty Cà phê
(Vinacafe), Dệt may (Vinatex), Xuất nhập khẩu thuỷ sản (Seaprodex)); đưa ra các
thông tin đáng tin cậy về hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước hàng năm; mở
rộng hệ thống an sinh cho công nhân thuộc doanh nghiệp nhà nước phải thôi việc
do cải cách. Với sự tài trợ của DFID, một chuyên gia chuyên trách về doanh
nghiệp nhà nước đã làm việc tại văn phòng ở Hà Nội. Một dự án do ASEM tài trợ
và chính phủ thực hiện nhằm theo dõi việc thực hiện kế hoạch chuyển đổi các

ngân hàng đã kết nối 55 tổ chức tín dụng và 217 chi nhánh trong 5 tỉnh thành phố
và mỗi ngày thực hiện từ 10 đến 14 ngàn giao dịch. Có 4 ngân hàng thương mại
kết nối hệ thống trong 5 tỉnh thành phố lớn (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải
Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ) với hàng trăm chi nhánh (riêng VCB và ngân hàng

84
thương mại cổ phần Hàng hải đã kết nối với tất cả các chi nhánh). Tổng số có 70
môđun nghiệp vụ đã triển khai cho 6 ngân hàng. Các hệ thống của các ngân hàng
thương mại thực hiện từ 6 đến 7 triệu giao dịch mỗi ngày. Đồng thời, dự án này
còn huy động vốn đóng góp của chính các ngân hàng thương mại 41,3 triệu đô la.
Dự án này không chỉ đem lại việc tiết kiệm tiền mà các ngân hàng thương mại
giảm thời gian thanh toán từ 30 ngày tính theo thời điểm giữa năm 1995 xuống còn
không đầy 24 giờ hiện nay và thúc đẩy lưu thông chu chuyển vốn nhanh, tạo điều
kiện thúc đẩy các hoạt động kinh doanh và nâng cao chất lượng dịch vụ của các
ngân hàng thương mại [53, 23].
Trong lĩnh vực tài chính, dự án tài chính nông thôn 1 cũng đem lại kết quả
thành công khá nổi bật. Mục tiêu của dự án này là làm lành mạnh hoá tài chính
nông thôn thông qua sự tài trợ hướng vào nông nghiệp và các doanh nghiệp vừa và
nhỏ ở nông thôn cùng với những hỗ trợ kỹ thuật… từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế nhanh, tạo điều kiện cho người nghèo có cơ hội để cải thiện cuộc sống của họ.
Để đạt được những mục tiêu đó, dự án đã cung cấp luồng vốn tín dụng cho các hộ
gia đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư vào nông nghiệp và các lĩnh vực
khác trong nông thôn thông qua các tổ chức tín dụng tham gia. Dự án làm lành
mạnh hoá tài chính nông thôn thông qua các chương trình hỗ trợ kỹ thuật và đào
tạo nhân viên Ngân hàng nhà nước Việt Nam trong việc quản lý và giám sát hoạt
động tổng thể đặc biệt tập trung vào việc nâng cao năng lực đánh giá và sự uỷ
quyền cho các tổ chức tín dụng tham gia; nâng cao năng lực của các tổ chức tín
dụng tham gia thông qua các chương trình đào tạo, các cuộc hội thảo và thảo luận
nhằm đem kỹ năng mới nhất của hệ thống ngân hàng quốc tế đến với Việt Nam
đồng thời nâng cao năng lực đánh giá vốn vay, kế toán, kiểm toán, quản lý hồ sơ,

cạnh tranh của Việt Nam. WB còn hỗ trợ toàn diện về nghiên cứu phân tích cho
Chính phủ, thiết lập và thực hiện một lộ trình hội nhập WTO với danh mục những
biện pháp chính sách cụ thể kèm theo những đánh giá hậu quả của việc lựa chọn
những chính sách và biện pháp khác nhau, hỗ trợ về thể chế cho các cơ quan của
Việt Nam đang chuẩn bị cho lộ trình cải cách chính sách, dọn đường cho việc gia
nhập WTO.
Những hoạt động trên góp phần khuyến khích sự cải cách của Việt Nam theo xu
hướng đó: phạm vi hạn chế định lượng đối với hàng hoá nhập khẩu đã giảm từ

86
20% lượng nhập và 22% sản lượng vào đầu năm 2003 xuống còn 13% và 4% cuối
năm 2003, thuế bình quân đối với mặt hàng xuất nhâp khẩu từ các nước ASEAN
giảm xuống còn 11%, hạn ngạch xuất khẩu đối với hàng may mặc sang châu Âu đã
được đấu giá một phần đã tăng cường sự tham gia của tư nhân vào xuất khẩu hàng
may mặc [8, tr1, phụ lục A6].
* Việc thiết kế các dự án dựa trên phƣơng thức thị trƣờng: Các dự án hầu hết
được thiết kế nhằm tăng cường phát triển thể chế và chính sách hỗ trợ theo các
phương thức thị trường. Các dự án đô thị của WB tại Việt Nam đã cung cấp dịch
vụ đô thị và đề xuất các loại phí đánh vào người sử dụng. Các dự án năng lượng hỗ
trợ cho hình thức đấu thầu cạnh tranh trong sản xuất điện, dịch vụ cung cấp tư
nhân cấp xã và đề xuất cách tính giá theo cận biên dài hạn (LRMC). Các dự án
nông thôn hỗ trợ việc phân bổ và đăng ký sử dụng đất, đề xuất ngân hàng hiện đại
về tín dụng nông thôn. Các dự án giáo dục đã chuyển trợ cấp từ người sản xuất
sang người sử dụng, đề xuất hình thức phân bổ cạnh tranh nguồn vốn cho giáo dục
đại học
Ngoài các chương trình, hoạt động hỗ trợ thể chế, WB còn hỗ trợ cải tạo cơ sở
hạ tầng cho nền kinh tế Việt Nam, tạo điều kiện vật chất cần thiết cho sự chuyển
đổi sang nền kinh tế thị truờng. Các dự án mà WB hỗ trợ đã đem điện đến 2 triệu
người ở 32 tỉnh nghèo và cộng đồng nông thôn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
nhỏ tăng trưởng và cải thiện các thiết bị y tế và giáo dục. WB đã giúp Chính phủ

nghèo nông thôn trong 368 xã nghèo nhất với dự tính 85% số người hưởng lợi từ
dự án là đồng bào dân tộc thiểu số; Dự án cải thiện mạng lưới đường bộ sẽ cải tạo
hệ thống đường quốc lộ ở miền Bắc, xây dựng 6800 km đường liên xã và liên
huyện ở 49 tỉnh; Dự án năng lượng nông thôn 1 đã giúp tăng cường khả năng sử
dụng điện cho các hộ gia đình nông thôn từ 50% lên 82% trong nửa thập kỷ qua;
Dự án Quản lý nguồn nước sông Cửu Long, dự án Phòng chống lũ lụt và giao
thông sông Cửu Long, dự án phát triển cơ sở hạ tầng giao thông Đồng bằng sông
Cửu Long; Các hoạt động phân tích và tư vấn đã bắt đầu cập nhật chiến lược nông
thôn 1998 và đánh giá tác động của đầu tư vào thuỷ lợi lên giảm nghèo [8, tr1, phụ
lục C3]

88
* Dự án cơ sở hạ tầng và đời sống dựa vào cộng đồng: Dựa vào những kinh
nghiệm thành công trước đây về việc sử dụng các biện pháp dựa vào cộng đồng
trong dự án giảm nghèo các tỉnh miền núi phía Bắc, trong các dự án cơ sở hạ tầng
nông thôn dựa vào cộng đồng, WB tiếp tục phân cấp và đẩy mạnh sự tham gia của
người dân trong các dự án tiếp theo. Đồng thời, một nghiên cứu được thực hiện
nhằm đánh giá kinh nghiệm của những dự án phân cấp, các dự án có sự tham gia
của cộng đồng để tìm ra các nguyên tắc chính cho việc thiết kế các chương trình
tương lai chẳng hạn đảm bảo sự tham gia của cộng đồng và cơ chế quản lý, hướng
đối tượng nghèo một cách hiệu quả hơn thông qua lập bản đồ nghèo, các cơ chế tài
trợ, xây dựng năng lực thể chế và cải cách chiến lược nhằm thúc đẩy phân cấp hiệu
quả ở Việt Nam.
* Đáp ứng nhu cầu cho những ngƣời nghèo ở đô thị: Mặc dù bất bình đẳng diễn
ra trầm trọng nhất là sự bất bình đẳng giữa thành thị và nông thôn, song ngay trong
các thành phố vẫn có những bộ phận nghèo trầm trọng, đặc biệt những người này
nằm trong số những người nhập cư. Như là một phần trong chương trình tín dụng
hỗ trợ giảm nghèo, WB hợp tác chặt chẽ với chính phủ để thiết kế và thực hiện
những chương trình để tăng khả năng tiếp cận dịch vụ công tới người dân đô thị
bao gồm cả những người nhập cư, đề nghị sửa đổi những quy định của chính phủ

WB đã đề nghị sự bình đẳng giới thông qua việc đề nghị cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cần phải ghi cả tên vợ và tên chồng, tạo điều kiện cho người
phụ nữ bình đẳng với nam giới trong việc quyết định đất đai được sử dụng như thế
nào. Và điều này đã dẫn đến việc đưa thêm một quy định mới vào Luật Đất đai
mới được thông qua. Trong dự án Giáo dục tiểu học, WB đã mở rộng quy mô giáo
dục tiểu học, tạo điều kiện cho trẻ em gái đến độ tuổi đến trường nhập học, tỉ lệ
học sinh đến độ tuổi đến trường nhập học là gái tăng lên. Dự án tài chính nông
thôn đã tạo điều kiện cho những người phụ nữ có điều kiện tiếp cận với dịch vụ tín
dụng chính thức, nâng cao quyền quyết định của họ trong việc sử dụng tín dụng
như thế nào để có hiệu quả. Theo trường Đại học Kinh tế Quốc dân, trong dự án
này, 30% số người vay mượn nhỏ là phụ nữ, họ đã tham gia một cách chủ động
trong quyết định vay mượn và số tiền đã vay mượn được sử dụng như thế nào.
* Cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản với chi phí hợp lý cho ngƣời nghèo

90
Đối với dịch vụ giáo dục: Trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã đạt được
nhiều thành tựu trong lĩnh vực giáo dục như tỉ lệ đi học tăng lên ở mọi cấp (đạt
90% đối với hầu hết những nhóm dân), chất lượng giáo dục tăng lên, và cải thiện
hiệu quả và công bằng trong chi tiêu công đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Đóng góp vào thành quả này có một phần không nhỏ của WB. Thông qua các hoạt
động nghiên cứu và phân tích, WB đã chỉ ra những vấn đề trong hệ thống giáo dục
ở Việt Nam hiện nay như có sự chênh lệch lớn về số lượng và chất lượng giáo dục
giữa các vùng; đầu tư giáo dục cho đồng bào các dân tộc thiểu số còn thấp và giáo
dục cho những trẻ em thiệt thòi còn hạn chế, giáo dục đại học chưa đáp ứng được
nhu cầu về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Về hoạt động cho vay, WB cho
vay 70 triệu đô la đối với dự án Giáo dục tiểu học và dự án này đã hoàn thành năm
1996 với kết quả là: cung cấp 82 triệu bộ sách giáo khoa môn Toán và Tiếng Việt
đến tất cả các trường ở Việt Nam; 350.000 học sinh ở những xã nghèo nhất được
mượn sách giáo khoa miễn phí; gần 7000 phòng học được xây dựng ở 35 tỉnh; 320
lớp học của trẻ em dân tộc thiểu số được trang bị sách giáo khoa và những đồ dùng

tế ở cấp xã [12,7]. Trong thời gian tới, một số dư án trong lĩnh vực y tế tiếp tục
được triển khai nhằm hướng vào vấn đề này như dự án Hiện đại hoá hệ thống
chăm sóc sức khoẻ tốt, dự án an toàn máu…
* Nâng cao tính bền vững của môi trƣờng: Đảm bảo bền vững về môi trường là
một trong những hoạt động nổi bật của WB ở các nước đang phát triển. Ở Việt
Nam cũng vậy, công tác môi trường của WB tập trung hỗ trợ 3 mục tiêu chiến lược
của chính phủ là: (i) ngăn chặn và kiểm soát ô nhiễm; (ii) bảo vệ giữ gìn, sử dụng
bền vững các nguồn lực tự nhiên và đa dạng sinh học; (iii) tăng cường chất lượng
môi trường ở những khu đô thị. Về hoạt động phân tích và tư vấn: các hoạt động
này đang nỗ lực nâng cao tính bền vững của môi trường thông qua chương trình
giáo dục và tuyên truyền nhằm tăng cường thông tin và ý thức bảo vệ môi trường;
hỗ trợ loại bỏ sử dụng xăng pha chì chuyển sang sử dụng xăng không pha chì;
chuẩn bị một loạt các Quan trắc về môi trường với ấn bản năm 2003 tập trung vào
vấn đề nước; tư vấn xây dựng năng lực để đưa vấn đề môi trường vào trong các
chương trình phát triển của chính phủ.
Về hoạt động cho vay: WB đã phối hợp với Quỹ môi trường toàn cầu (GEF)
tiến hành viện trợ không hoàn lại một loạt các hoạt động nhằm bảo tồn và sử dụng

92
bền vững đa đạng sinh học bao gồm: Dự án bảo vệ khu vực biển Hòn Mun, dự án
bảo vệ hành lang xanh Bạch Mã-Hải Vân, khu vực bảo tồn thiên nhiên Chu Yang
Sin và đa dạng hoá sinh thái ở vùng đá vôi Cúc Phương-Pu Loung. Ngoài ra WB
còn cho Việt Nam vay các dự án về môi trường sau đây: Bảo vệ rừng, Đa dạng hóa
nông nghiệp, Vệ sinh cho 3 thành phố, Bảo vệ rừng ngập mặn ven biển, Vệ sinh
môi trường ở thành phố Hồ Chí Minh… . Các dự án này đã góp phần cải thiện môi
trường ở Việt Nam.
3.1.2.1.3. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước
* Cải thiện tính minh bạch, cung cấp thông tin và tăng cƣờng tính hiệu quả về
quản lý tài chính công:
Ngân hàng thế giới đã tác động rất nhiều đến quản lý tài chính công. Ngân hàng

nước là cơ quan chịu trách nhiệm hàng đầu về thông tin thực hiện ngân sách và
quản lý tài chính thống nhất.
Đối với quản lý chi tiêu công, Nhà nước đã có những cơ chế để tránh bội chi và
sử dụng sai nguồn lực, đồng thời hướng đối tượng vào y tế và giáo dục. Quỹ khám
chữa bệnh cho người nghèo đã được thành lập và đã cấp kinh phí trực tiếp cho
những cơ sở y tế để miễn phí cho người nghèo, có trợ cấp cho những tỉnh nghèo để
cấp sách giáo khoa miễn phí cho những người sống ở vùng sâu vùng xa. Những
chính sách chi tiêu mới vì người nghèo này đã được đưa vào trong định mức phân
bổ ngân sách mới và sẽ được sử dụng để tính mức trợ cấp ngân sách cho các tỉnh.
Chính phủ đã cho xây dựng thí điểm khuôn khổ chi tiêu trung hạn trong ngành
giáo dục trong đó có kết hợp giữa chi thường xuyên và chi đầu tư một cách phù
hợp.
* Phát triển luật pháp: WB đã hỗ trợ Đánh giá nhu cầu luật pháp và xây dựng
chiến lược phát triển luật pháp Việt Nam bao gồm cả việc thông qua các khoản
viện trợ không hoàn lại của Quỹ phát triển quốc tế cũng như những hỗ trợ thiết kế
những luật trọng tâm gồm Luật điện năng, Luật khí đốt, Luật khai thác mỏ, Luật
đất đai, Luật nước sinh hoạt, Luật về các tổ chức và hiệp hội. Tính minh bạch của
luật pháp đã được cải thiện thông qua sáng kiến thí điểm công bố các dự thảo luật
để lấy ý kiến đóng góp trên các phương tiện thông tin đại chúng kể cả trên Internet.

Trích đoạn Phát triển quan hệ với Ngân hàng thế giới là một vấn đề tất yếu, có tính chiến lược và lâu dài. Phát triển quan hệ với Ngân hàng thế giới phải luôn tính đến tác động hai mặt của nó. Chủ động thực hiện cải cách và tạo lập những điều kiện cần thiết để hợp tác có hiệu quả với Ngân hàng thế giới. Tham gia hợp tác toàn diện với Ngân hàng thế giới trên tất cả các mặt hoạt động khác nhau Thực hiện cải cách một số lĩnh vực trọng yếu trong nền kinh tế hiện nay
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status