ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
*** NGUYỄN THỊ GIANG VAI TRÒ CỦA NHÀ NƢỚC TRONG BƢỚC CHUYỂN
SANG THỜI ĐẠI KINH TẾ TRI THỨC Ở SINGAPORE
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số : 60.31.01 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. PHÍ MẠNH HỒNG
Hà Nội - 2010 MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
Đảng nhân dân hành động Singapore (PAP) 45
2.1.2.2. Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Singapore 47
2.2. Khái quát vai trò của nhà nƣớc trong phát triển kinh tế ở Singapore
trong giai đoạn CNH 50
2.2.1. Các chiến lược CNH và các chính sách thực tiễn 50
2.2.2. Xử lý mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường trong phát triển kinh
tế ở giai đoạn 56
2.2.3. Đánh giá vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế ở Singapore
trong giai đoạn CNH 61
2.3.Sự xuất hiện của kinh tế tri thức và vai trò nhà nƣớc Singapore trong
bƣớc chuyển sang thời đại kinh tế tri thức ở Singapore 65
2.3.1. Bối cảnh dẫn đến sự hình thành nền kinh tế tri thức ở Singapore 65 2.3.2. Vai trò của nhà nước trong việc tạo lập các điều kiện phát triển kinh
tế tri thức ở Singapore 68
2.3.3. Xử lý mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường trong bối cảnh phát
triển mới ở Singapore 83
Chƣơng 3: Bài học kinh nghiệm của Singapore đối với Việt Nam nhằm phát
huy vai trò của nhà nƣớc trong phát triển kinh tế và từng bƣớc chuyển sang
thời đại kinh tế tri thức 94
3.1 Sự tƣơng đồng và khác biệt về KT – XH giữa Việt Nam và Singapore
94
3.2 Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn Singapore có thể áp dụng
cho Việt Nam 99
3.2.1 Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn Singapore trong bước chuyển
sang thời đại kinh tế tri thức 99
3.2.1.1.Bài học chung về lựa chọn mô hình và chiến lược phát
triển 100
3.2.1.2. Một số bài học cụ thể 102 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
KÝ HIỆU
NỘI DUNG
TIẾNG ANH
TIẾNG VIỆT
ADN
Acid deoxyribonucleic
Là phân tử acid nucleic mang thông
tin di truyền mã hóa cho hoạt động
sinh trưởng và phát triển của sinh vật
APEC
Asia-Pacific Economic
Cooperation
Tổ chức kinh tế Châu Á – Thái bình
dương
ASEAN
Association of Southeast
Asia Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CNH
Tổng sản phẩm quốc nội
PAP
People’s Action Party
Đảng Nhân dân hành động Singapore
WTO
World trade organization
Tổ chức thương mại thế giới DANH MỤC BẢNG BIỂU DANH MỤC
TRANG
Bảng 2.1: Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính Châu Á đến
hoạt động sản xuất và thương mại của Singapore
65
Bảng 2.2: Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính Châu Á đến
hoạt động xuất khẩu Singapore với một số nước trong khu
vực
66
1
bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ và quá trình toàn cầu hóa trong
những năm gần đây đã tạo ra sự biến đổi toàn diện trong đời sống kinh tế - xã hội
của loài người. Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế có tính chất toàn cầu. Trong đó,
các đường biên giới vật lý giữa các quốc gia sẽ trở nên mờ đi trước sự di chuyển
dễ dàng của nguồn lực và hàng hóa. Mỗi nền kinh tế quốc gia không còn là một
thực thể độc lập mà sẽ chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố chung có tính chất toàn
cầu. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia cũng như sự phụ thuộc của một nền
kinh tế vào nền kinh tế thế giới chung khiến cho mỗi nền kinh tế, kể cả các nền
kinh tế đang hoặc kém phát triển đều phải chịu tác động của quá trình toàn cầu
hóa chung này. Điều đó sẽ đặt ra những cơ hội và thách thức cho các quốc gia
trong tiến trình phát triển kinh tế, đặc biệt là đối với những nước đang hoặc kém
phát triển. Thực tế đó đòi hỏi để thích ứng với quá trình này, chắc chắn mỗi quốc
gia đều phải tiến hành những bước thay đổi trong chiến lược phát triển, trong đó,
việc định hình đúng và đổi mới vai trò của nhà nước có ý nghĩa quan trọng.
Singapore là một quốc gia đạt được những thành tựu phát triển kinh tế - xã
hội thần kỳ trong những năm qua. Từ một đảo quốc nhỏ không có nhiều tài
nguyên, đất nước này đã có sự phát triển vượt bậc để trở thành một trong những
con rồng châu Á. Ngay cả trong giai đoạn hiện nay, khi Châu Á và thế giới đang
xảy ra những biến động lớn do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu,
Singapore vẫn giữ được vị thế và đạt được những thành tựu phát triển đáng kể. Để
đạt được những thành công đó, không thể phủ nhận những đóng góp quan trọng
của nhà nước Singapore trong quản lý, điều hành công cuộc phát triển kinh tế của
quốc gia này. Nhà nước Singapore không chỉ dẫn dắt nền kinh tế thực hiện thành
công quá trình công nghiệp hóa, đạt được mức tăng trưởng ấn tượng, mà còn tạo
ra các điều kiện để nền kinh tế thích ứng với bối cảnh phát triển mới và từng bước
tiến vào thời đại kinh tế tri thức. Trước xu thế phát triển nền kinh tế tri thức trên
quy mô toàn cầu, nhà nước Singapore đã ý thức được ưu thế vượt trội của thời đại
kinh tế này so với kinh tế công nghiệp. Vì vậy, họ đã chủ động triển khai các
3
cũng dẫn đến sự biến đổi trong vai trò nhà nước, tương quan giữa nhà nước và thị
trường khó có thể giữ nguyên như cũ.
Trên thế giới, những nghiên cứu về vai trò nhà nước trong bối cảnh kinh tế
tri thức thường gắn liền với những công trình nghiên cứu về chính nền kinh tế tri
thức. Tuy nhiên, do kinh tế tri thức còn là vấn đề khá mới mẻ nên có rất ít công
trình nghiên cứu bàn sâu về vai trò nhà nước trong giai đoạn này. Một số luận
điểm gợi mở về vấn đề này có thể thấy trong những tác phẩm của Alan.Toffler,
J.Stiglitz, Th. Friedman… Cuốn sách “Nhà nƣớc trong một thế giới đang
chuyển đổi” (Báo cáo về tình hình phát triển thế giới 1997) của Ngân hàng thế
giới là một trong số ít cuốn sách đề cập khá trực tiếp vào vấn đề vai trò nhà nước
trong thời đại kinh tế tri thức. Tuy nhiên, dưới dạng một báo cáo phát triển thường
niên, những khía cạnh lý thuyết không là mối quan tâm chính trong công trình
này. Tác phẩm “Những đỉnh cao chỉ huy” của tác giả Daniel Yergin & Jojep
Stanslaw mặc dù tập trung phân tích về vai trò nhà nước trong bối cảnh kinh tế thị
trường nhưng cũng có thể cung cấp những ý tưởng gợi mở để thấy được xu hướng
thay đổi tất yếu trong vai trò của nhà nước khi bối cảnh phát triển kinh tế thay
đổi…
Ở Việt Nam, trong những năm vừa qua, các nhà nghiên cứu đã quan tâm
đến việc nghiên cứu vai trò nhà nước trong bối cảnh “toàn cầu hóa” hoặc “đối với
sự phát triển kinh tế tri thức”. Tuy nhiên, những nghiên cứu về vai trò nhà nước
gắn với kinh tế tri thức thường chủ yếu xoay quanh vấn đề xem xét nhà nước như
một nhân tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức, dẫn đến đòi
hỏi phải xây dựng hệ thống đổi mới quốc gia. Một số công trình tiêu biểu có thể
kể đến là: kỷ yếu hội thảo khoa học: “Nhà nƣớc và khoa học trong một nền
kinh tế tri thức hiệu quả”, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn,…Trong đó
các nhà nghiên cứu đã bước đầu đề cập đến xu hướng hình thành nền kinh tế tri
thức trên thế giới và tác động tất yếu của xu thế này đến Việt Nam. Đề tài khoa
5
nêu ra chưa được phân tích sâu sắc và chủ yếu mới chỉ dừng lại ở việc mô tả thực
tiễn, còn ít giá trị về mặt lý luận.
Ở khía cạnh “Vai trò của nhà nước trong bối cảnh kinh tế tri thức ở
Singapore” cũng đã được một số công trình nghiên cứu đề cập đến. Tuy nhiên,
vấn đề này chủ yếu được bàn ở những công trình nghiên cứu về quá trình phát
triển kinh tế ở Singapore hoặc bản thân nền kinh tế tri thức ở Singapore. Các
công trình nghiên cứu về quá trình phát triển kinh tế ở Singapore thường tập
trung phân tích, làm rõ những thành tựu và bí quyết thành công của Singapore
trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế; từ đó, đề xuất chiến lược cơ bản
để xây dựng nền kinh tế tri thức ở Singapore để nhanh chóng biến Singapore
thành “đảo quốc thông minh”. Một số công trình tiêu biểu cho hướng nghiên cứu
này là: “Bí quyết hoá rồng : Lịch sử Singapore 1965-2000 và Singapore và sự
bùng nổ kinh tế Châu Á” của cựu thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu; “Phong
trào năng suất và năng lực cạnh tranh - Kinh nghiệm của Singapore” của tác
giả Low Choo Tuck, Nguyên Giám đốc Ban Kế hoạch - Cơ quan Tiêu chuẩn,
Năng suất và Đổi mới Singapore Trong các tác phẩm này, vai trò của nhà nước
Singapore được xem xét như một nguyên nhân quan trọng để Singapore đạt được
sự phát triển ấn tượng, đồng thời chỉ ra những thách thức mà quốc đảo này phải
đối diện trong thời đại mới. Tuy nhiên, vấn đề vai trò nhà nước Singapore đã có
những biến đổi như thế nào trong bối cảnh kinh tế tri thức thì còn chưa được đề
cập đến một cách trực tiếp. Ngoài ra, bên cạnh những nghiên cứu về phát triển
kinh tế nói chung, cũng đã có một số công trình nghiên cứu về bản thân nền kinh
tế tri thức ở Singapore, trong đó có nhắc đến (tuy còn rất sơ lược) về vai trò nhà
nước như: “Các sáng kiến của nhà nƣớc và phát triển kinh tế tri thức: trƣờng
hợp của Singapore”của Chew Lay Lek và Suliman Al - Hawamdeh.
Ở Việt Nam, những công trình bàn một cách trực tiếp vào vấn đề phát triển
kinh tế tri thức của Singapore còn rất ít ỏi. Vấn đề này chủ yếu được đề cập trong
7
lý thuyết và thực tiễn, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất một số
giải pháp đối với Việt Nam.
- Thời gian nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu vai trò của nhà nước
Singapore trong giai đoạn Singapore thực sự có bước chuyển sang thời đại kinh tế
tri thức – từ năm 1997 đến nay
5. Phương pháp nghiên cứu
Trên nền tảng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản như: phương pháp
duy vật biện chứng, phương pháp trừu tượng hóa khoa học… luận văn chú trọng
sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, phương pháp
tổng hợp, thống kê, phân tích đánh giá dựa trên số liệu và những thông tin thực tế.
Đồng thời, trên cơ sở kết quả nghiên cứu cộng với những kiến thức đã học và kinh
nghiệm trong quá trình học tập và nghiên cứu của bản thân, tác giả đề xuất một số
giải pháp đối với Việt Nam
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hóa những vấn đề về vai trò của nhà nước trong phát triển kinh
tế, bối cảnh và đặc điểm của nền kinh tế tri thức. Trên cơ sở đó làm rõ nội dung
và phạm vi của vai trò của nhà nước trong bối cảnh nền kinh tế tri thức
- Khái quát hóa những chuyển biến trong vai trò của nhà nước Singapore
trước bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi sang kinh tế tri thức
- Tổng kết bài học kinh nghiệm của Singapore và kiến nghị một số giải
pháp đối với nhà nước Việt Nam để góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế và
từng bước tiến vào thời đại kinh tế tri thức
9
7. Bố cục luận văn
Chương 1: Tổng quan về vai trò nhà nước trong bối cảnh hình thành và phát triển
nền kinh tế tri thức
thị trường mà thôi. Vì vậy, việc giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước với thị
trường luôn là bài toán đặt ra cho các nhà nước trong mọi thời đại. Nhưng, “ranh
giới giữa nhà nước và thị trường không thể được phân định dứt khoát bởi một số
cuộc hội thảo ôn hòa. Đây là chủ đề của các cuộc chiến lớn nhỏ về trí tuệ và chính
trị trong suốt một thế kỷ. Các cuộc chiến nói chung đã tạo nên một trong những
vở kịch lớn định hình thế kỷ XX. Ngày nay, mâu thuẫn giữa thị trường và sự kiểm
11
soát của nhà nước đã trở nên sâu rộng đến mức đang làm thay đổi cả thế giới và
làm nền cho thế kỷ XXI” [3]. Sự thành công hay thất bại của các quốc gia trong
tiến trình phát triển kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào tính hiệu quả hay kém hiệu
quả của sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động khách quan của thị trường.
Và ngược lại, sự phát triển của kinh tế thị trường tất yếu sẽ kéo theo những biến
đổi trong cung cách can thiệp của nhà nước.
Từ thế kỷ XV, chủ nghĩa tư bản bắt đầu xuất hiện cùng với quá trình tích
lũy nguyên thủy, kéo theo đó, nền kinh tế thị trường từng bước được hình thành.
Nhà nước lúc đó đóng vai trò vai trò như “bà đỡ” cho sự ra đời của kinh tế thị
trường. Nhà nước khi đó đã sử dụng những chính sách, biện pháp nghiêm ngặt để
tích lũy tiền tệ, ngăn cấm xuất khẩu tiền tệ, kiểm tra, kiểm soát ngoại thương, lập
hàng rào thuế quan cao và đánh thuế nặng vào các mặt hàng được nhập khẩu từ
nước ngoài, kiểm soát tỷ giá hối đoái, hỗ trợ thương nhân trong nước bằng nhiều
chính sách như chính sách lãi suất Nhờ đó, các nước tư bản đã tích lũy được
lượng của cải đáng kể để tập trung cho sản xuất, phát triển khoa học - kỹ thuật và
làm cho nền sản xuất ở các nước tư bản phát triển rất nhanh, đẩy mạnh trao đổi
hàng hóa, đặc biệt là mở rộng quan hệ thương mại ra khỏi biên giới quốc gia.
Đến cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, tự do cạnh tranh đã trở thành xu thế tất
yếu do sự phát triển ngày càng lớn mạnh của các nước tư bản. Để đạt được cán
cân xuất siêu, bản thân nhà nước cũng phải điều chỉnh, thay đổi cách can thiệp
cho phù hợp với tình hình kinh tế mới. Thay vì sử dụng những giải pháp mang
kinh tế khác nên để cho thị trường tự quyết định.
Từ đầu những năm 30 của thế kỷ XX, các cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra
ngày càng thường xuyên hơn, đặc biệt là cuộc khủng hoảng 1929 -1933 đã chứng
tỏ “Bàn tay vô hình” không thể đảm bảo những điều kiện ổn định cho kinh tế thị
trường phát triển.Từ đó đã dẫn đến những tư duy mới về vai trò nhà nước, thể
hiện trong lý thuyết “Nhà nước điều tiết kinh tế thị trường” của Maynard Keynes.
Tác động của khủng hoảng kinh tế đã chứng minh cơ chế thị trường không phải là
hoàn hảo, nền kinh tế thị trường không có khả năng tự điều tiết tuyệt đối và vô
13
hạn và sự can thiệp của nhà nước để khắc phục các khuyết tật của thị trường là
thực sự cần thiết. Muốn thoát khỏi khủng hoảng, hạn chế thất nghiệp và suy thoái,
trước hết nhà nước cần trực tiếp điều tiết thông qua chương trình chi tiêu công và
dùng những chương trình này để kích thích và duy trì tốc độ gia tăng ổn định của
tổng cầu, qua đó kích thích sản xuất, giải quyết vấn đề thất nghiệp và đạt được
mục tiêu tăng trưởng. Ở tầm vi mô, nhà nước trực tiếp thành lập các doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh và dịch vụ công cộng.
Trên thực tế, lý thuyết của Keynes đã góp phần giúp các nước tư bản khôi phục
lại nền kinh tế sau đại suy thoái 1929 – 1933. Nhưng bắt đầu từ cuối thập kỷ 60
cho đến giữa thập kỷ 70 của thế kỷ XX, hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa lại phải
đối mặt với dấu hiệu của các cuộc khủng hoảng mới. Nguyên nhân chủ yếu của
các cuộc khủng hoảng này xuất phát từ việc hầu hết các nhà nước phương Tây đã
áp dụng một cách cực đoan, thái quá công thức điều tiết chủ quan của Keynes.
Trong quá trình gia tăng chương trình kinh tế công cộng, các nước phương Tây đã
đưa vào lưu thông số lượng tiền tệ ngày càng lớn, làm xuất hiện hiện tượng “thừa
tiền”, đẩy nền kinh tế đứng trước nguy cơ lạm phát. Thực tế đó đã đòi hỏi cần
phải nhìn nhận và đánh giá lại vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế.
Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã gây ra những hậu quả nặng nề không
chỉ trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ, mà còn đánh dấu bước ngoặt xuống dốc thời
tác động đến vai trò của nhà nước. Trong đó, sẽ có những yêu cầu cao hơn về tăng
cường vai trò của luật pháp; vai trò điều tiết của nhà nước; vai trò kiểm soát các
thể chế thị trường; thiết lập hệ thống thông tin công khai, minh bạch; phát triển
các công cụ dự báo, cảnh báo và trừng phạt các hành vi gian lận nhưng cũng sẽ
xuất hiện những yêu cầu đòi hỏi nhà nước phải giảm mức độ can thiệp vào hoạt
động của thị trường. Vấn đề đặt ra là, nhà nước sẽ phải chuyển biến như thế nào
để xử lý hiệu quả mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường để tạo điều kiện cho
nền kinh tế phát triển bền vững.
15
Tóm lại, cơ sở của sự can thiệp của nhà nước là do thất bại thị trường. Tuy
nhiên, trong thời đại ngày nay, tính chất của thất bại thị trường đã có nhiều biến
đổi tất yếu sẽ kéo theo sự thay đổi trong phạm vi và cách thức can thiệp của nhà
nước vào các hoạt động kinh tế. Thực chất, nhà nước và thị trường là lực lượng bổ
sung cho nhau hơn là lực lượng thay thế nhau. Sự can thiệp của nhà nước vào nền
kinh tế thị trường là cần thiết. Công cụ can thiệp của nhà nước có thể giống nhau
ở các quốc gia khác nhau, thậm chí là giống nhau trong các bối cảnh kinh tế khác
nhau, nhưng cung cách can thiệp, mức độ và phạm vi can thiệp ra sao cũng như
can thiệp tại thời điểm nào là hợp lý… thực sự không phải là những lựa chọn dễ
dàng.
Nếu nhìn vào lịch sử phát triển của kinh tế thị trường có thể thấy có nhiều mô
hình lý thuyết khác nhau về kinh tế thị trường và cũng có rất nhiều kinh nghiệm
thực tiễn trong việc sử dụng vai trò của nhà nước. Nhưng mọi mô hình lý thuyết
hay mọi kinh nghiệm thực tiễn đều mang tính lịch sử. Thế giới đang đổi thay ngày
càng mạnh mẽ, kinh tế thị trường đang ngày càng phát triển và xuất hiện thêm
nhiều nhân tố mới của thời đại, điều này đòi hỏi tư duy về vai trò nhà nước cũng
cần có sự chuyển biến để theo kịp với thực tế sinh động. Thực tiễn đã chứng
minh, mô hình kinh tế chỉ huy đã thất bại trong việc duy trì tăng trưởng kinh tế
cũng như các mặt khác của đời sống xã hội. Vì vậy, việc phát triển kinh tế thị
Để đảm bảo công bằng, nhà nước có nhiệm vụ xây dựng hệ thống chính sách như
thuế thu nhập cá nhân, trợ cấp, bảo hiểm thất nghiệp.v.v… để giúp đỡ những
người có thu nhập thấp, những người già, người tàn tật hoặc người lao động thất
nghiệp.
Nội dung thứ 3 - Ổn định kinh tế vĩ mô: Khi can thiệp vào nền kinh tế vĩ mô,
đòi hỏi nhà nước phải hết sức thận trọng vì bối cảnh kinh tế vĩ mô rất phức tạp,
nhiều nhân tố tác động qua lại, thậm chí tác động theo hướng trái chiều nhau. Vì
vậy, trong quá trình can thiệp, nhà nước cần phải cố gắng lường trước những thất
bại có thể xảy ra, ngay cả khi nền kinh tế đang giữ được trạng thái bình ổn. 17
1.1.2. Nội dung, công cụ, điều kiện can thiệp của nhà nƣớc trong nền kinh tế
thị trƣờng
Nhà nước đóng vai trò quan trọng để hạn chế những khuyết tật của kinh tế thị
trường. Sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế nhằm mục đích khai thác hiệu
quả các nguồn lực quốc gia, điều chỉnh các quan hệ xã hội để các hoạt động sáng
tạo được tiến hành một cách tối ưu. Đồng thời sự can thiệp của nhà nước cũng
giúp các quan hệ lợi ích được thực hiện một cách công bằng, hiệu quả; tạo lập
hành lang pháp lý cho các hoạt động kinh tế - xã hội; cung cấp các phương tiện
sản xuất kinh doanh mà công dân không thể tự lực được như: cơ sở hạ tầng, các
điều kiện để mở rộng thị trường trong và ngoài nước; bảo vệ và tăng cường mở
rộng môi trường kinh doanh, môi trường thiên nhiên. Để có thể thực hiện tốt các
vai trò đó, nhà nước cần phải sử dụng hệ thống các công cụ thích hợp.
Công cụ thứ nhất: Hệ thống pháp luật
Cấu trúc của nền kinh tế là một hệ thống những quan hệ phức tạp, đan xen vào
nhau, tác động qua lại và chi phối lẫn nhau. Trong đó, chủ yếu là mối quan hệ
giữa các ngành, các lĩnh vực; quan hệ giữa các vùng, các địa phương; quan hệ
giữa các doanh nghiệp; quan hệ giữa thị trường nội địa và thị trường quốc tế. Việc
- Chính sách kinh tế: bao gồm chính sách tài chính; chính sách giá cả; chính
sách kinh tế đối ngoại; chính sách đầu tư.v.v…
- Chính sách xã hội: bao gồm chính sách dân số; chính sách giáo dục; chính sách
khoa học – công nghệ; chính sách bảo hiểm; chính sách quốc phòng; chính
sách xóa đói giảm nghèo; chính sách môi trường.v.v…
Trong hệ thống các công cụ quản lý kinh tế - xã hội của nhà nước, chính sách là
bộ phận năng động nhất, có độ nhạy cảm cao với những biến động của đời sống
kinh tế - xã hội. Thành công hay thất bại trong công cuộc xây dựng và phát triển
kinh tế đều bắt nguồn từ việc lựa chọn và áp dụng chính sách kinh tế phù hợp hay