Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chơng 1:
Lý luận về vai trò của nhà nớc
trong phân phối thu nhập
1.1. Một số vấn đề lý luận chung về phân phối
Từ trớc đến nay vấn đề phân phối giữ vai trò quan trọng trong lý luận kinh tế.
Từ các nhà kinh tế học cổ điển Anh nh A. Smith tới C. Mác đều nghiên cứu sâu
sắc vấn đề phân phối, thậm chí. D.Ricardo cho rằng nhiệm vụ chủ yếu của kinh
tế chính trị học là tìm ra quy luật chi phối sự phân phối. Tầm quan trọng của
vấn đề phân phối không chỉ ở chỗ nó nói lên quan hệ về lợi ích kinh tế trong
nền kinh tế, mà còn phản ánh những nguyên tố quyết định ẩn dấu đằng sau các
quan hệ lợi ích đó, giúp ta hiểu đợc quá trình vận động kinh tế; đặc biệt là quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về phân phối và vai trò của nhà nớc đối với
phân phối.
1.1.1. Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về phân phối
Lý luận phân phối trong chủ nghĩa xã hội và trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội đợc bắt nguồn từ học thuyết kinh tế của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác
- Lênin.
C. Mác và Ph. Ăng ghen lúc đơng thời đã nghiên cứu một cách có hệ thống chế
độ phân phối của phơng thức sản xuất TBCN. Các ông đã vạch rõ bản chất của
phơng thức phân phối này và cho rằng chế độ phân phố TBCN là bất công; nó
dựa trên cơ sở quan hệ bóc lột của giai cấp t sản và địa chủ đối với giai cấp công
nhân và nhân dân lao động. Vì trong thế kỷ XIX, CNXH vẫn cha ra đời nên
nhiệm vụ lý luận thực tế nhất, bức thiết nhất không phải là chú trọng trình bày
và thiết kế chế độ và nguyên tắc phân phối thu nhập trong CNXH, mà là vạch
trần bản chất và phê phán phơng thức phân phối TBCN, đồng thời còn phê phán
và đấu tranh với mọi sự xuyên tạc của chủ nghĩa cơ hội đối với CNXH. Tuy
nhiên, trong quá trình đó, C. Mác và Ph. Ăng ghen đã nêu lên đợc quan điểm và
nguyên tắc cơ bản về phân phối trong xã hội tơng lai. So với lý luận của tất cả
các nhà kinh tế trớc đó, thì lý luận phân phối của C. Mác và Ph. Ăng ghen đã
1
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
thực tế bằng việc mua hàng hoá và dịch vụ trên thị trờng. Với một thu nhập
danh nghĩa nhất định sẽ chuyển thành khối lợng hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ
lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào giá cả thị trờng. Đó cũng chính là quá trình phân
phối.
Phân phối còn quan hệ mật thiết với tiêu dùng. Việc tăng hoặc giảm sản
phẩm phân phối đều có tác động trực tiếp đến mức độ tiêu dùng. Ngợc lại, cơ
cấu, phơng thức và trình độ của tiêu dùng có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm
sự tăng trởng của phân phối.
Nh vậy, phân phối là một khâu độc lập tơng đối trong quá trình tái sản
xuất, nó luôn có tác động qua lại một cách biện chứng với các khâu khác của
quá trình tái sản xuất xã hội. Trong mọi phơng thức sản xuất đều diễn ra sự
phân phối sản phẩm xã hội, tức là nó là một phạm trù kinh tế chung cho mọi xã
hội.
* Vị trí của phân phối trong quan hệ sản xuất xã hội
Phân phối là một mặt của quan hệ sản xuất và do quan hệ sở hữu về t liệu
sản xuất quyết định. C.Mác đã nhiều lần nêu rõ quan hệ phân phối cũng bao
hàm trong phạm vi quan hệ sản xuất " quan hệ phân phối về thực chất cũng
đồng nhất với quan hệ sản xuất nhất định, nó cấu thành mặt sau của quan hệ sản
xuất ấy [5, Tr 634]. Theo Ph. Ăng ghen thì " Trên những nét chủ yếu của nó,
phân phối luôn luôn là kết quả tất nhiên của những quan hệ sản xuất và trao đổi
trong một xã hội nhất định" [9, Tr 261].
Vì vậy, mỗi phơng thức sản xuất nhất định có quy luật phân phối tơng
ứng với nó. Quan hệ sản xuất nh thế nào, thì quan hệ phân phối cũng nh thế ấy.
Cơ sở của quan hệ phân phối là quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất và quan hệ
trao đổi hoạt động cho nhau. Khi lực lợng sản xuất biến đổi và do đó quan hệ
sản xuất biến đổi, khi quan hệ phân phối cũng biến đổi. C. Mác viết " Mỗi một
hình thái phân phối đều biến đổi cũng một lúc với phơng thức sản xuất nhất
định tơng ứng với hình thái phân phối ấy và đã đẻ ra hình thái phân phối ấy" [8,
Hai là: một phần phụ thêm để mở rộng sản xuất
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Ba là: một quỹ dự trữ hoặc quỹ bảo hiểm để đề phòng những tai nạn,
những sự rối loạn do các hiện tợng tự nhiên gây ra vv.....
Những khoản khấu trừ nh thế vào "thu nhập không bị cắt xén của lao
động" là một tất yếu kinh tế và khấu trừ nhiều hay ít là tuỳ theo những t liệu và
những lực lợng sản xuất hiện có, một phần là nhờ lối tính xác suất. Còn lại phần
kia của tổng sản phẩm thì dành làm vật phẩm tiêu dùng.
Trớc khi phân phối cho cá nhân, lại còn phải khấu trừ:
Một là, những chi phí quản lý chung, không trực tiếp thuộc về sản xuất...
Hai là, những khoản dùng để cùng chung nhau thoả mãn những nhu cầu,
nh trờng học, cơ quan y tế vv.....
Ba là, quỹ cần thiết để nuôi dỡng những ngời không có khả năng lao
động, vv....., tóm lại là những cái thuộc về việc mà ngày nay, ngời ta gọi là cứu
tế xã hội của nhà nớc.
Cuối cùng, bây giờ mới tới cái phần những vật phẩm tiêu dùng đem chia
cho cá nhân những ngời sản xuất của tập thể. [2, Tr 31 - 32].
Nh vậy, C. Mác đã vạch ra hai bớc phân phối: bớc thứ nhấ là phân chia
tổng sản phẩm xã hội làm sáu khoản phải khấu trừ và toàn bộ t liệu tiêu dùng;
bớc thứ hai là phân phối t liệu tiêu dùng cho những ngời lao động theo nguyên
tắc phân phối theo lao động (sẽ đợc trình bày dới đây).
Một số ngời nghiên cứu cho rằng C. Mác đã không nói rõ các tỷ lệ phân
chia đó. Ông chỉ nói sơ lợc, không nêu cụ thể biện pháp khấu trừ các khoản
trên. Thiết nghĩ rằng những tỷ lệ đó là tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi n-
ớc ở những giai đoạn phát triển nhất định, do đó không nên đòi hỏi C. Mác
phải giải quyết tất cả những vấn đề cụ thể cho chúng ta.
Sơ đồ phân phối nêu trên của C. Mác là sơ đồ phân phối vĩ mô, vạch rõ
khái quát việc phân phối tổng sản phẩm xã hội. Nó vừa đảm bảo tái sản xuất mở
rộng vừa đảm bảo thoả mãn nhu cầu chung của xã hội và của các cá nhân, cũng
Trong bộ " T bản",. C. Mác đã bắt đầu khẳng định phơng thức phân phối
mới: lấy lao động làm thớc đo để phân phối, C. Mác chỉ rõ trong thể liên hiệp
của những ngời lao động tự do, " phần t liệu sinh hoạt chia cho mỗi ngời sản
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
xuất do thời gian lao động của ngời đó quyết định. Trong điều kiện ấy, thời gian
đóng vai trò hai mặt. Việc phân phối thời gian theo một kế hoạch xã hội sẽ quy
định tỷ lệ đúng đắn giữa các chức năng lao động khác nhau và nhu cầu khác
nhau. Mặt khác, thời gian lao động cũng đồng thời dùng để đo phần tham gia
của cá nhân ngời sản xuất vào lao động chung và do đó, cả cái phần tham dự
của anh ta vào bộ phận có thể sử dụng cho tiêu dùng cá nhân trong toàn bộ sản
phẩm " [4, Tr124 - 125].
Tác phẩm "Phê phán cơng lĩnh Gô- ta" của C. Mác đã đánh dấu sự hình
thành lý luận phân phối theo lao động. Nó là sản phẩm của cuộc luận chiến của
C. Mác với chủ nghĩa cơ hội. Trong tác phẩm này, C. Mác nêu lên quan niệm về
xã hội tơng lai và phê phán quan niệm " phân phối công bằng" của bản cơng
lĩnh: " thu nhập lao động đem lại là thuộc về tất cả mọi thành viên trong xã hội
một cách không bị cắt xén, theo nguyên tắc ngang nhau" [2, tr 28]. Đồng thời
C. Mác đã nêu lên nguyên tắc phân phối thu nhập cá nhân trong CNXH là phân
phối theo lao động.
Lý luận phân phối theo lao động của C. Mác gồm hai bộ phận: điều kiện
tiền đề để phân phối theo lao động; nguyên tắc và phơng thức phân phối theo
lao động.
Tiền đề để thực hiện phân phối theo lao động gồm hai mặt liên quan chặt
chẽ với nhau; một là, phân phối theo lao động là nguyên tắc phân phối trong "
giai đoạn đầu của xã hội cộng sản", tức là trong điều kiện lịch sử mà nh C. Mác
đã giải thích " các xã hội mà chúng ta nói ở đây không phải là một xã hội cộng
sản chủ nghĩa đã phát triển trên những cơ sở của chính nó, mà trái lại là một
xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội t bản chủ nghĩa, do đó là
một xã hội, về phơng diện - kinh tế, đạo đức, tinh thần - còn mang dấu vết của
phân phối theo lao động.
Thứ hai, dới độ công hữu, mọi ngời đều có quyền bình đẳng đối với t liệu
sản xuất. Quyền bình đẳng đó chỉ có thể chuyển hoá thành quyền lợi lao động
bình đẳng, lao động trở thành phơng tiện mu sinh cơ bản nhất, trở thành tiền đề
quan trọng để thu đợc lợi ích kinh tế. Nh vậy, C. Mác đã xác lập cơ sở của mối
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
liên hệ nội tại giữa lao động và thu nhập, lao động trở thành điều kiện tất yếu để
nhận đợc thu nhập.
Thứ ba, lý luận phân phối theo lao động của C. Mác thừa nhận tồn tại sự
khác biệt về thu nhập và phủ nhận phân phối bình quân. Nhng sự khác biệt này
chính là sự công bằng trong phân phối, mà không phải là chủ nghĩa bình quân.
C. Mác đã xác định nguyên tắc phân phối trong CNXH, đó là phân phối
theo lao động. Nhng phơng thức phân phối đó đợc thiết kế trên cơ sở giả định
kinh tế hàng hoá đã tiêu vong. Do đó, kinh tế sản phẩm là điều kiện kinh tế xã
hội để thực hiện phân phối theo lao động. Nhà nớc trực tiếp tổ chức sản xuất và
phân phối sản phẩm vì thế việc áp dụng vào thực tiễn cần giải quyết một số vấn
đề thao tác cụ thể.
Nguyên tắc phân phối theo lao động đợc V. I Lênin phát triển trong quá
trình xây dựng CNXH ở Nga. VI Lênin đã nêu ra một cách rõ ràng khái niệm
phân phối theo lao động: Một là, "ngời không lao động thì không đợc ăn", hai
là, " dựa vào lợng lao động ngang nhau lĩnh số sản phẩm ngang nhau." Ông đã
xuất phát từ thực tế, cho rằng CNXH vừa mới thoát thai từ xã hội cũ mà ra, sự
biến đổi về chất của lao động không thể hoàn thành trong ngày thứ hai sau khi
xây dựng chế độ mới. "....Nếu không rơi vào không tởng thì không thể nghĩ
rằng sau khi lật đổ chủ nghĩa t bản, thì ngời ta sẽ tức khắc có thể làm việc cho
xã hội mà không cần phải có tiêu chuẩn pháp quyền nào cả, hơn nữa, việc
xoá bỏ CNTB không thể đem lại ngay đợc những tiền đề kinh tế cho một sự
thay đổi nh vậy [12, Tr 116]. Do đó, V.I Lênin đã đề ra phải thực hiện chế độ
lao động nghĩa vụ, thông qua đó mới thực hiện đợc phân phối theo lao động. Vì
phân phối kết quả sản xuất cho cá nhân phải tơng xứng với phần đóng góp của
mỗi ngời. Sau đó, thông qua các chính sách xã hội phù hợp mà giúp đỡ cho
những ngời có thu nhập thấp. Phân phối phải đợc thực hiện trên cơ sở công bằng
theo cả chiều ngang và công bằng theo chiều dọc. Công bằng theo chiều ngang
là phân phối phải đảm bảo sự công bằng cho những ngời ngang nhau về đóng
góp lao động, đóng góp vốn. Công bằng theo chiều dọc là tái phân phối từ
những ngời có thu nhập cao sang những ngời có thu nhập thấp hoặc không có
thu nhập [33, tr.408].
Theo họ, công bằng trong phân phối phải đợc thể hiện ở chỗ, một mặt
thực hiện tiền lơng tối thiểu và bảo đảm lơng phân biệt thông qua sự thoả thuận
tự do; mặt khác, thực hiện cân bằng thu nhập, xoá bỏ những khác biệt vô lý
trong thu nhập thông qua các biện pháp đánh thuế, mở rộng hình thức công
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
nhân có cổ phần trong doanh nghiệp, áp dụng chính sách tăng việc làm, hỗ trợ
cho các nhóm ngời có thu nhập thấp bằng các biện pháp nh u đãi thuế đối với
các nhà kinh doanh, trả lơng bổ sung cho công nhân căn cứ vào mức thu nhập
thấp, trợ cấp nhà ở, phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội. Các quan niệm về phân
phối và yêu cầu thực hiện các chính sách nh trên của trờng phái này nhằm tạo
sự ổn định xã hội - một trong hai mục tiêu chính mà họ đặt ra.
b) Lý thuyết phân phối thu nhập của trờng phái Chính hiện đại
Trờng phái chính hiện đại nghiên cứu vấn đề phân pgối thu nhập trên cơ
sở quan điểm cơ chế thị trờng có sự can thiệp của nhà nớc. Ngời đứng đầu trờng
phái này là P. Samuelson, nhà kinh tế học ngời Mỹ.
Theo ông, phân phối thu nhập là một phạm trù kinh tế đề cập đến vấn đề
hàng hoá đợc sản xuất cho ai, định giá các yếu tố sản xuất qua cung-cầu nh thế
nào để quyết định mức thu nhập của mọi ngời? [31, tr. 63]. Những quyết định
lớn về phân phối thu nhập "đợc làm ra tại thị trờng". Hoạt động của thị trờng có
thể dẫn nền kinh tế đến sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, đạt đợc sản lợng tối
đa, nhng nó không nhất thiết phân phối sản lợng đó có thể chấp nhận đợc. Bởi
Tiền công bằng sản phẩm tăng thêm trên hạn mức của lao động.
Tiền thuê đất bằng sản phẩm tăng thêm trên hạn mức của đất đai.
Lãi suất bằng sản phẩm tăng thêm trên hạn mức của t bản
Và tiếp nh vậy cho bất kì yếu tố sản xuất nào.
+ Tiền công và tiền lơng:
Theo các nhà kinh tế trờng phái chính hiện đại, thị trờng lao động cũng
giống nh các thị trờng khác. Tiền công cân bằng có tính cạnh tranh đợc xác
định tại giao điểm của mức cung và mức cầu về lao động (điểm E trên đồ thị 1).
Nếu mức tiền công thấp hơn E thì sẽ xảy ra thiếu lao động và chủ doanh nghiệp
sẽ phải tăng tiền công tới mức E để khôi phục lại sự cân bằng.
Trên đồ thị, S
l
là cung về lao động; D
l
là cầu về lao động, E là điểm cân
bằng giữa cung và cầu lao động trên thị trờng, tại đây xác định số lợng lao động
cần sử dụng và mức tiền công cân bằng (tiền công thị trờng).
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đồ thị 1: Mức tiền công tơng đối trên thị trờng lao động
Tiền công (W)
E
Lao động (L)
Các nhà kinh tế học trờng phái chính hiện đại quan tâm đến tiền công
thực tế, tức là đến những thứ mua đợc với số tiền công đó, chứ không phải chỉ
quan tâm đến số tiền (mà chúng ta gọi là tiền công danh nghĩa). Theo họ, tiền
công thực tế (W
r
) thể hiện chỉ số mức lơng thực tế tính bằng tiền (W
yếu tố làm cho mức tiền công khác nhau giữa những lao động. Nếu một ngời
đầu t nhiều thời gian và tiền của vào việc học tập để có một nghề chuyên sâu thì
anh ta sẽ làm việc có năng suất và hiệu quả cao hơn. Do đó, sẽ thu đợc mức tiền
công nhiều hơn so với một ngời không có sự "hi sinh" nh vậy. Trong các nghề
khác nhau, mặc dù không có cạnh tranh, nhng do mức cung và cầu về lao động
không giống nhau, ngời lao động không thể dễ dàng chuyển từ nghề này sang
nghề khác (vì rất khó khăn, rất tốn kém về thời gian và tiền của cho việc đào
tạo), nên mức tiền công cũng rất khác nhau. Ngoài ra, một số ngời có thiên h-
ớng đặc biệt (danh thủ bóng đá, nghệ sĩ tài ba, bác học...) cũng có mức thu nhập
rất cao. Tuy nhiên, theo họ, sự chênh lệch về mức tiền công giữa những ngời và
các nhóm lao động không phải là hoàn toàn cố định. Trong quá trình vận động
của cuộc sống, con ngời có xu hớng chuyển sang các ngành nghề, công việc đ-
ợc trả tiền công cao và bỏ những nghề tiền công thấp hơn, làm cho mức tiền
công có xu hớng tụ hội lại.
+ Tiền thuê đất và các tài nguyên khác:
Tiền thuê đất và các tài nguyên khác là khoản thu nhập mà ngời chủ của
nó phân phối đợc từ sản phẩm xã hội thông qua việc cung ứng đất đai và các tài
nguyên khác vào sản xuất kinh doanh với t cách là yếu tố đầu vào. Khác với các
yếu tố đầu vào khác, mức cung về đất đai và các tài nguyên khác đợc cố định
bởi tự nhiên và không thể tăng lên để đáp ứng với giá đất cao hơn, hay giảm đi
để đáp ứng với giá đất thấp hơn.
Mức tiền thuê đất và các tài nguyên khác đợc xác định trên thị trờng cạnh
tranh, do quan hệ cung - cầu về đất đai và các tài nguyên khác quy định. Nếu
tiền thuê đất tăng lên cao hơn giá cân bằng thì lợng đất đai mà các doanh
nghiệp có nhu cầu sẽ ít hơn lợng đất đai cần có để cung cấp. Điều này sẽ làm
cho một số chủ đất không thể nào cho thuê đợc khu đất của mình. Họ buộc phải
giảm giá thuê đất xuống. Ngợc lại, tiền thuê đất cũng không ở lâu dới điểm cân
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
bằng. Do cạnh tranh về thuê đất giữa các chủ doanh nghiệp mà tiền thuê đất
suất, thuế hàng hoá và các thứ khác).
Có nhiều nhân tố quyết định lợi nhuận: 1)Thu nhập của chủ doanh nghiệp
về lao động của chính họ hoặc vốn đầu t của chính họ, tức là cácyếu tố sản xuất
mà họ tự cung cấp; 2) Lợi nhuận là khoản tiền thởng cho chủ doanh nghiệp do việc
chịu mạo hiểm, rủi ro trớc nhiều nguy cơ kinh doanh hoặc do sáng tạo, đổi mới sản
phẩm; 3) Độc quyền: thông qua hạn chế mức cung và quy định giá cả, ngời độc
quyền có đợc một khoản tiền lời gọi là thu nhập độc quyền. Đó là thu nhập dôi ra
của một ngời có sức mạnh trên thị trờng.
Nh vậy, tiền công, tiền lơng, tiền thuê đất, tiền lãi và lợi nhuận là các
khoản thu nhập của các giai cấp, tầng lớp trong nền sản xuất t bản chủ nghĩa.
Các thu nhập này đều có nguồn gốc từ thu nhập quốc dân. Cơ chế (nguyên tắc)
phân phối thu nhập đợc thực hiện thông qua thị trờng dới tác động của các quy
luật cạnh tranh, cung- cầu...
Tuy nhiên, trong khi đề cao vai trò của thị trờng đối với phân phối thu
nhập quốc dân, các nhà kinh tế trờng phái chính hiện đại còn chỉ ra những thất
bại của thị trờng. Theo họ, cơ chế thị trờng có khả năng giải quyết các vấn đề
cái gì và nh thế nào - những vấn đề phân bổ tài nguyên giữa các ngành và việc
lựa chọn kĩ thuật tốt nhất để sản xuất ra những hàng hoá cụ thể. Nhng thị trờng
không có khả năng đặc biệt để tìm ra giải pháp tốt nhất đối với vấn đề cho ai.
Một nền kinh tế hiệu quả nhất trên thế giới, vẫn có thể tạo ra sự bất bình đẳng
lớn về phân phối thu nhập [31, Tr 259]. Đó là biểu hiện sự thất bại và sự phân
phối tuỳ tiện của thị trờng [31, Tr 396].
- Sự can thiệp của nhà nớc vào phân phối thu nhập:
Các nhà kinh tế trờng phái chính hiện đại quan tâm đến sự bất bình đẳng
về phân phối thu nhập. Theo họ, nguồn gốc của sự bất bình đẳng này là do sự
khác nhau về năng lực lao động, nghề nghiệp, trình độ chuyên môn kĩ thuật,
tính chuyên cần chịu khó, và nhất là nguồn tài sản do thừa kế, sáng chế, kinh
doanh mà mỗi ngời có đợc. Do thị trờng là một cơ chế điều tiết không biết đến
16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
đợc ngời ta trả một giá nào đó làm tổn hại một mục tiêu kinh tế khác là hiệu
quả.
Sự phân phối lại " tối u theo Pareto" và nguyên lý " Hàm phúc lợi xã
hội" của Bergson và Samuelson
Theo nguyên lý phân phối tối u Pareto, nếu sự thay đổi của một chính
sách phân phối nào đó dẫn đến hoàn cảnh sống của một số ngời trở nên tốt hơn,
đồng thời không làm cho hoàn cảnh sống của một số ngời khác trở nên xấu đi,
thì sự thay đổi này gọi là phân phối "tối u Pareto". Kết luận cuối cùng mà
Pareto muốn rút ra là muốn làm tăng thu nhập của tầng lớp nghèo khổ, thì biện
pháp duy nhất là nâng cao thu nhập quốc dân, việc phân phối lại là vô ích. Theo
nhiều nhà kinh tế quan điểm đó quá chặt chẽ đối với vấn đề công bằng về phân
phối, vả lại, miễn là có thể làm tăng thu nhập quốc dân mà không làm giảm bớt
phần của ngời nghèo trong thu nhập quốc dân cũng đợc coi là "tối u Pareto".
Trớc Sanuelson, Pigou - ngời sáng lập ra hệ thống kinh tế học phúc lợi -
trong tác phẩm "Kinh tế học phúc lợi" đã trình bầy vấn đề làm thế nào để tăng
phúc lợi xã hội. Theo Pigou, tổng thu nhập quốc dân càng lớn thì phúc lợi càng
lớn, bất cứ một sự vật nào, nếu có thể làm tăng thu nhập quốc dân mà không
làm tổn hại đến số lợng thu nhập tuyệt đối của ngời nghèo, hoặc tăng thêm số l-
ợng thu nhập tuyệt đối của ngời nghèo mà không ảnh hởng đến thu nhập quốc
dân đều sẽ làm tăng phúc lợi kinh tế". Lý luận của Pigou không vạch rõ đợc
quan hệ nội tại giữa hiệu quả và công bằng trong phân phối.
Bergson và Samuelson đã nêu lên " Hàm số phúc lợi xã hội ". Họ cho
rằng hiệu quả kinh tế là điều " cần", còn phân phối hợp lý là điều kiện " đủ" của
lợi ích tối đa. Chỉ có đồng thời đa các nhân tố về phân phối và các nhân tố chi
phối khác vào trong một hàm phúc lợi xã hội và chỉ khi giá trị của hàm này lớn
nhất thì mới đạt đợc tối u thế hoá phúc lợi xã hội. Công thức hàm phúc lợi xã
hội của họ là W = F (Z1, Z2,.......Zn) trong đó W biểu thị phúc lợi xã hội, F biểu
thị hàm số, Z1, Z2,.......Zn. Là các nhân tố ảnh hởng đến phúc lợi xã hội nh lợng
hàng mà cá nhân tiêu dùng, số lợng các loại lao động, số lợng vốn đợc đa
18
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
a) Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh:
Sau khi đợc giải phóng (năm 1954), miền Bắc nớc ta bớc vào khôi phục
và phát triển kinh tế. Công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế không chỉ nhằm
tạo cơ sở vật chất-kỹ thuật của CNXH ở miền Bắc, mà còn nhằm tạo cơ sở để
đấu tranh thống nhất nớc nhà. Để lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi công
cuộc cách mạng này, chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều bài nói và viết rất quan
trọng, trong đó Ngời rất quan tâm đến vấn đề phân phối thu nhập.
Trong bài nói chuyện tại Hội nghị sản xuất cứu đói (tháng 6/1955), chủ
tịch Hồ Chí Minh căn dặn: "Dân đủ ăn, đủ mặc thì những chính sách của Đảng
và Chính phủ đa ra sẽ dễ dàng thực hiện. Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính
sách của ta dù có hay đến mấy cũng không thực hiện đợc.
Tham ô, lãng phí là có tội, mà tham ô lãng phí gạo cứu đói tội lại càng
lớn hơn; không khác gì gián điệp hại đồng bào đó. Thế là có tội với Đảng và
Chính phủ, đối với nhân dân và đối với nớc bạn. Đó là tội thật to. Các cấp uỷ
Đảng cùng với cán bộ tìm cho ra gốc rễ tham ô, lãng phí và xử trí đúng mức"
[16, tr. 572].
Xây dựng CNXH từ một nớc nghèo, nông nghiệp lạc hậu, đó là một đặc
điểm "to nhất" của ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh ý thức rằng đảm bảo ăn no cho
nhân dân là một nhiệm vụ quan trọng nhất. Nó bắt nguồn từ đòi hỏi bức thiết
của ngời dân. Bởi thế, Ngời nhắc nhở phải đẩy mạnh sản xuất. Ngời nói: "Đời
sống ví nh con thuyền. Sản xuất ví nh nớc. Mực nớc lên cao, thì con thuyền
càng nổi lên cao" [17, tr.141]. Cho nên, "các cấp bộ Đảng cần phải thấy hết khả
năng của địa phơng, nhận rõ trách nhiệm đối với đời sống nhân dân... để cố
gắng hơn nữa trong phát triển kinh tế" [19, tr.451].
Phát triển sản xuất là điều kiện để nâng cao đời sống nhân dân. Phải ra
sức sản xuất và thực hành tiết kiệm. Nhng, phải phân phối cho công bằng hợp
lý. Trong bài phát biểu tại Hội nghị rút kinh nghiệm công tác quản lý hợp tác xã
nông nghiệp toàn miền Bắc (tháng 11/1959), Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở:
21
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
nghiệp tiên tiến vùng đồng bằng miền Bắc (tháng 1/1964), Ngời đề nghị phải
"làm đúng nguyên tắc phân phối theo lao động" [20, tr.197].
Ngời giải thích: "Phân phối phải theo mức lao động. Lao động nhiều thì
đợc phân phối nhiều, lao động ít thì đợc phân phối ít. Lao động khó thì đợc
phân phối nhiều, lao động dễ thì đợc phân phối ít. Không nên có tình trạng ngời
giỏi, ngời kém, việc khó, việc dễ, cũng công điểm nh nhau. Đó là chủ nghĩa
bình quân. Phải tránh chủ nghĩa bình quân" [19, tr.410].
Bằng những bài nói và viết xuất phát từ nhu cầu thực tiễn (chứ không
phải là những tác phẩm có tính thuần tuý lý luận), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để
lại cho chúng ta những quan điểm, t tởng cơ bản về phân phối thu nhập trong
thời kỳ quá độ lên CNXH. Những quan điểm và t tởng đó mang đậm tính nhân
văn. Nó đựợc phát ra từ một con ngời mà suốt cuộc đời tận tuỵ với hào bão cao
cả làm sao cho mọi ngời ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng đợc học hành, tiến
bộ.
b) Quan điểm của Đảng ta về phân phối thu nhập:
Từ khi đất nớc bớc vào thời kỳ quá độ lên CNXH đến nay, Đảng ta luôn
nhận thức rằng phân phối thu nhập là một nội dung quan trọng trong chính sách
kinh tế-xã hội của đất nớc, liên quan trực tiếp đến cuộc sống của hàng chục
triệu con ngời, đến động lực phát triển kinh tế, đến ổn định chính trị-xã hội và
nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nớc.
Trên cơ sở đổi mới t duy kinh tế nhằm trở lại với những t tởng đích thực
của chủ nghĩa Mác-Lênin và t tởng Hồ Chí Minh, Đảng ta xác định phân phối
thu nhập trong nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN phải trên cơ sở sự đóng
góp thực tế của mỗi ngời về lao động, tài năng, vốn, tài sản...vào sản xuất kinh
doanh. Để thực hiên phân phối công bằng, cần phải:
+ Có sự bình đẳng giữa ngời góp vốn với ngời góp sức lao động trong
phân chia kết quả sản xuất;
+ Sự bình đẳng giữa những ngời góp vốn đợc phân phối kết quả sản xuất
mới về phân phối thu nhập trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Việc thực hiện quan
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
điểm đó sẽ tạo động lực cho việc huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn
lực của xã hội vào sự nghiệp phát triển đất nớc.
1.2. Những nhân tố quy định phân phối và các
nguyên tắc phân phối trong kinh tế thị trờng định h-
ớng XHCN
1.2.1. Những nhân tố quy định phân phối thu nhập
Phân phối là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội và là một mặt của
quan hệ sản xuất, nêu sự vận động của nó chịu sự ràng buộc của nhiều nhân tố.
Dới đây là một số nhân tố chủ yếu quy định phân phối thu nhập.
a. Sự phát triển của lực l ợng sản xuất
Lực lợng sản xuất là toàn bộ năng lực sản xuất của xã hội ở một thời kỳ
nhất định. Trình độ phát triển của lực lợng sản xuất nói lên trình độ con ngời
chinh phục, cải tạo tự nhiên và từ đó làm ra sản phẩm vật chất cần thiết cho sự
tồn tại và phát triển của mình. Lực lợng sản xuất ảnh hởng đến tính chất của
phân phối, phạm vi phân phối, hình thức biểu hiện của đối tợng đợc đem ra
phân phối.
Trong xã hội cộng xã nguyên thuỷ, lực lợng sản xuất hết sức thấp kém,
chỉ có dựa vào lao động tập thể mới tiến hành sản xuất đợc, lao động mang lại
hiệu quả rất thấp, không có sản phẩm d thừa để tích luỹ, vì thế, trong xã hội
công xã nguyên thuỷ, sản phẩm lao động đợc phân phối bình quân và dới
hình thức hiện vật. Nguyên tắc phân phối này là rất cần thiết vì sản phẩm làm
ra quá ít ỏi. Chỉ có thể thoả mãn nhu cầu sinh tồn bức thiết nhất. Bất cứ một sự
phân phối nào khác đều không thích hợp với trình độ của lực lợng sản xuất lúc
bấy giờ.
Khi lực lợng sản xuất đợc phát triển hơn, thì sản phẩm thặng d suất hiện,
nhng cha nhiều, đồng thời chế độ t hữu suất hiện, nên phơng thức phân phối chỉ
có thể mang tính chất áp đặt, bóc lột, bất bình đẳng. Cùng với sự phát triển của
liệu sản xuất của nhà t bản chẳng có ý nghĩa gì.
25