PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay xu thế công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đang và sẽ đặt
cho chúng ta một loạt vấn đề nổi cộm, đòi hỏi sự nỗ lực cao độ của cả cộng
đồng. Con người phải luôn có tri thức để phù hợp nền kinh tế tri thức. Vì vậy,
để phát triển xã hội thì nhân tố quan trọng nhất của quốc gia là nguồn nhân lực
có trình độ khoa học kỹ thuật cao, tương lai của đất nước phụ thuộc vào nguồn
nhân lực này.
Giáo dục giữ một vai trò rất quan trọng trong việc đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực cho mọi quốc gia. Đại hội Đảng lần thứ XI đã nêu: “Phát
triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực;
phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức. Tập trung giải quyết vấn đề
việc làm và thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân”.
Báo cáo của BCH T.Ư Đảng khóa IX về các văn kiện ĐH X của Đảng
tiếp tục khẳng định: “Về giáo dục và đào tạo, chúng ta phấn đấu để lĩnh vực
này cùng với khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu thông qua
việc đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam. Những biện pháp cụ thể là: đổi
mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp dạy và học theo hướng "chuẩn
hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá". Phát huy trí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực
hành của người học. Đề cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội.
Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình
xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa
các bậc học, ngành học. Phát triển giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và
hệ thống hướng nghiệp, dạy nghề. Đổi mới hệ thống giáo dục đại học và sau
đại học; gắn đào tạo, nghiên cứu khoa học công nghệ với sử dụng, trực tiếp
1
Edited by Foxit Reader
Copyright(C) by Foxit Software Company,2005-2007
đại hoá đất nước, Hội nghị BCH Trung ương II đã đưa ra những định hướng
và mục tiêu cơ bản cho công tác Giáo dục – Đào tạo và Khoa học công nghệ.
Các trường Trung học chuyên nghiệp đóng một vai trò hết sức quan trọng
trong việc đào tạo kỹ thuật viên, công nhân lành nghề có đầy đủ phẩm chất và
năng lực nghề nghiệp cao có, năng động, sáng tạo,… đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế xã hội, tiến bộ khoa học kỹ thuật, góp phần thúc đẩy nhanh chóng
sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Việc nâng cao chất lượng
đào tạo và tạo thế phát triển bền vững, lâu dài của từng trường là một việc hết
sức cấp bách và cần thiết.
Trường Cao đẳng Phát thanh - Truyền hình II (Broadcasting College II -
viết tắt là BC2) thuộc Đài Tiếng nói Việt Nam. Trường đứng chân trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh - nơi có hoạt động báo chí được đánh giá là đa dạng
và sôi động nhất của cả nước. Sau hơn ba thập kỷ xây dựng và trưởng thành
(Trường được thành lập từ năm 1977), Trường đang tiếp tục khẳng định sứ
mạng là một cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí, kỹ thuật phát thanh -
truyền hình hàng đầu của các tỉnh, thành phía Nam. Trường cũng đồng thời là
đầu mối quan trọng trong các hoạt động liên kết, hợp tác đào tạo, nghiên cứu
khoa học, bồi dưỡng nghiệp vụ cho các cơ quan báo chí phát thanh - truyền
hình, đào tạo đội ngũ công nghệ kỹ thuật điện tử, truyền thông và tin học ứng
dụng cho các đơn vị hành chính sự nghiệp, kinh tế v.v… thuộc địa bàn TP. Hồ
Chí Minh và các tỉnh phía Nam.
Điện tử Viễn thông là ngành sử dụng những công nghệ tiên tiến để tạo
nên các thiết bị giúp cho việc truy suất thông tin. Công việc của những người
học ngành này gắn liền với những phòng thí nghiệm, phòng kỹ thuật và máy
móc hiện đại. Trước sự đòi hỏi cấp thiết của xã hội, Linh kiện điện tử là kiến
thức bước đầu và căn bản của ngành điện tử. Môn học này yêu cầu SV phải
3
hiểu thấu đáo ý nghĩa về mặt lý thuyết thì SV mới có thể ứng dụng lý thuyết
này sang thực hành. Hiện nay khi tham gia giảng dạy môn học, các GV đều
đẳng chuyên ngành Công nghệ phát thanh truyền hình dành cho
sinh viên trường Cao đẳng phát thanh truyền hình II.
5. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
Do thời gian có hạn, người nghiên cứu chỉ tập trung Xây dựng tài liệu
tham khảo học phần Linh kiện điện tử, bậc cao đẳng chuyên ngành Công
nghệ phát thanh truyền hình dành cho sinh viên trường Cao đẳng phát
thanh truyền hình II.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài, người nghiên cứu đã lựa chọn và phối hợp nhiều
phương pháp nghiên cứu khác nhau như:
6.1 Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu và tổng hợp:
Sưu tầm, dịch thuật phân tích và tổng hợp các nội dung liên quan đến đề
tài. theo hướng tiếp cận công nghệ hiện đại.
6.2 Phương pháp khảo sát hiện trạng, tổng kết kinh nghiệm:
Dùng phương pháp trực tiếp phỏng vấn, sử dụng phiếu khảo sát nhằm
mục đích thăm dò ý kiến GV, SV và các cơ sở sản xuất về nội dung, thái độ,
niềm say mê khi tiếp cận môn học.
6.3 Phương pháp thực nghiệm:
Tiến hành thực nghiệm về việc giảng dạy theo giáo trình cho môn Linh
kiện điện tử.
5
7. DỰ KIẾN KẾT QUẢ CỦA ĐỀ TÀI VÀ YÊU CẦU KHOA HỌC
ĐỐI VỚI SẢN PHẨM TẠO RA:
Kết quả đề tài bao gồm:
− Bảng báo cáo tổng hợp đề tài.
− Tài liệu tham khảo tham khảo học phần Linh kiện điện tử, bậc cao
đẳng chuyên ngành Công nghệ phát thanh truyền hình dành cho sinh
viên trường Cao đẳng phát thanh truyền hình II.
Yêu cầu khoa học đối với sản phẩm tạo ra:
học – công nghệ”.
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt
Nam thời kỳ 2011 - 2020. Chiến lược xác định những con số cụ thể cho các
ngành nghề được cho là cần phải có nguồn nhân lực chất lượng cao.
Theo tính
toán của Chính phủ, hiện nay nhân lực chất lượng cao lĩnh vực
Công nghệ
thông tin (CNTT)
đang dừng ở con số 180.000 người. Sau 4 năm nữa, con số
này phải tăng lên 350.000 người. Và năm 2020, nhân lực chất lượng cao lĩnh
vực này cần phải có là 550.000 người.
Lĩnh vực
Khoa học - Công nghệ đứng thứ tư với chỉ tiêu đến năm 2015
cần có 60.000 người, và đến năm 2020 tăng lên 80.000 người.
Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 là chiến lược
tổng hợp quốc gia để định hướng làm cơ sở cho việc lập, trình duyệt và triển
khai thực hiện các quy hoạch, chương trình và đề án phát triển nhân lực của
các ngành, chuyên ngành, tổ chức và các địa phương.
Chiến lược cũng nêu những giải pháp đột phá để phát triển và sử dụng
nhân lực.
7
Trong đó nhấn mạnh, mỗi bộ ngành, địa phương phải xây dựng quy
hoạch phát triển nhân lực đồng bộ với chiến lược, kế hoạch phát triển chung
của mình. Việc sử dụng, đánh giá và đãi ngộ nhân lực phải dựa vào năng lực
thực và kết quả, hiệu quả công việc. Khắc phục tâm lí và hiện tượng quá coi
trọng và đề cao "bằng cấp" hình thức trong tuyển dụng và đánh giá nhân lực
Một số chỉ tiêu chủ yếu phát triển nhân lực thời kỳ 2011-2020
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2015 Năm 2020
1. Tỷ lệ lao động qua đào tạo (%) 40,0 55,0 75,0
nghệ, đồng thời các ngành nghề mới xuất hiện…Những yếu tố này đòi hỏi
chuyên môn hoá cao hơn về trình độ khoa học kỹ thuật Thực hiện nghị quyết
đại hội Đảng lần thứ 8 về công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Hội nghị
BCH Trung ương II đã đưa ra những định hướng và mục tiêu cơ bản cho công
tác Giáo dục – Đào tạo và Khoa học công nghệ. Các trường Trung học chuyên
nghiệp đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc đào tạo kỹ thuật viên,
công nhân lành nghề có đầy đủ phẩm chất và năng lực nghề nghiệp cao, năng
động, sáng tạo,… đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, tiến bộ khoa học
kỹ thuật, góp phần thúc đẩy nhanh chóng sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại
hóa đất nước. Việc nâng cao chất lượng đào tạo và tạo thế phát triển bền vững,
lâu dài của từng trường là một việc hết sức cấp bách và cần thiết.
1.1.3 Đào tạo theo yêu cầu sản xuất:
Các tiến bộ của công nghệ thông tin, viễn thông, công nghệ sinh học, tự
động hóa…, đã thúc đẩy một số nước trước đây chậm phát triển đã rút ngắn
9
khoảng cách với các nước đã phát triển. Nền kinh tế chuyển tiếp từ nông
nghiệp sang chủ yếu là công nghiệp, nền kinh tế tri thức này đòi hỏi người lao
động một loạt những kỹ năng mới, họ cần có trình độ học vấn cao hơn, có khả
năng suy nghĩ độc lập và linh hoạt, và nhất là có khả năng học tập suốt đời.
Trước những yêu cầu này, giáo dục đào tạo phải đảm bảo tỉ lệ cơ cấu
nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu chất lượng theo từng giai đoạn phát triển
kinh tế xã hội.
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giáo dục – đào tạo với kinh tế – xã hội.
Hệ thống đào tạo nghề đang từng bước đoi mới, nhưng cũng chưa bắt kịp
với cơ chế thị trường theo quan hệ cung cầu. Số lượng và chất lượng đào tạo
lao động kỹ thuật chưa đáp ứng được cho doanh nghiệp và xã hội. Cơ sở vật
1.1.4 Sản xuất tác động đào tạo:
Đào tạo cung cấp nguồn nhân lực phục vụ sản xuất, ngược lại sản xuất
cũng phải có nghĩa vụ đối với đào tạo như đóng góp ngân sách nhà nước, trực
tiếp tham gia vào việc xây dựng cơ sở vật chất trang bị cho đào tạo, tạo điều
kiện thuận lợi cho nhà trường trong việc tiếp nhận SV thực tập. “Trường dạy
nghề gắn với xí nghiệp đã trở thành một nguyên tắc để thực hiện nguyên lý
học đi đôi với hành “[3-6 ].
Mối quan hệ giữa đào tạo và sản xuất là mối quan hệ mật thiết, chịu tác
động lẫn nhau, không thể tách rời.
11 Sơ đồ 1.2. Quan hệ giữa đào tạo với sản xuất.
1.2 NHỮNG YẾU TỐ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY:
Chất lượng giáo dục được quyết định bởi các yếu tố:
− Đội ngũ giáo viên
− Sinh viên
− Mục tiêu
− Nội dung chương trình
− Phương pháp dạy học
− Cơ sở vật chất
− Qui trình quản lý và đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục
Các yếu tố này tương tác lẫn nhau, nó là các yếu tố thành phần trong
chỉnh thể có tính hệ thống của giáo dục.
tâm đến đội ngũ làm công tác đào tạo, quan tâm đến SV sinh viên. 13
1.2.2 Sinh viên:
Số lượng HS phổ thông hàng năm tập trung vào các trường cao đẳng,
đại học cao hơn các trường dạy nghề cho thấy sự thiếu định hướng phân luồng
đào tạo.
Hiện nay tâm lý của các gia đình và SV thường quan niệm rằng vào đại
học là con đường vinh quang nhất, nh
ưng vẫn không ít bậc phụ huynh thừa
nhận rằng: không biết con mình có tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp đại
học hay không.Trong khi đó, theo nhận định chung của các nhà tuyển dụng
lao động là còn thiếu những người lao động kỹ thuật lành nghề, thừa lao động
có bằng đại học. Nói chung, hiện nay vẫn còn tâm lý chuộng tấm bằng đại
học, chưa coi trọng việc học lấy một nghề.
Số lượng SV vào học nghề gần đây tuy có tăng, nhưng hiệu quả chưa
cao do nhiều nguyên nhân như: điều kiện kinh tế gia đình khó khăn mới vào
học vì không thể vào học các ngành nghề “thời thượng“ khác, né tránh nghĩa
vụ quân sự, chưa có động cơ học tập. Theo ý kiến của các nhà tuyển dụng,
một số ngành nghề trong đó có điện, điện tử đang trong tình trạng thừa lao
động. Hiện nay các đơn vị sản xuất liên doanh tại thành phố Hồ Chí Minh đã
trang bị công nghệ, kỹ thuật hiện đại, những công việc chuyển giao công nghệ
trong lĩnh vực hệ thống máy với các thiết bị điều khiển theo chương trình số
NC, CNC, tự động điều khiển PLC, khí nén, thủy lực ngày càng phát triển,
cho nên nội dung kiến thức và kỹ năng hiện đại cần được nhanh chóng cập
nhật để phù hợp với trình độ sản xuất khu vực, hội nhập thế giới. Các nhà
tuyển dụng đánh giá rằng, số lượng đào tạo ra không đủ cho nhu cầu, nhưng
các tiêu chí quan trọng nhất để tuyển dụng: trình độ chuyên môn, sức khoẻ,
trình độ văn hóa và kiến thức cơ bản, có kỷ luật, đạo đức, trình độ ngoại ngữ
15
− Làm cho mục tiêu môn học, nội dung môn học, qui trình đánh giá vừa
nhất quán vừa chặt chẽ với nhau.
− Mục tiêu giúp giáo viên xác định hoạt động giảng dạy và tài liệu học
tâp nào có hiệu quả.
− Dễ dàng đối chiếu kết quả đào tạo giữa nội dung giáo viên truyền đạt
và kiến thức học sinh tiếp thu được.
− Cải tiến mối quan hệ trong ban giảng huấn, giữa GV với nhân viên
phục vụ.
− Khuyến khích SV tự đánh giá.
− Hỗ trợ hiệu quả việc học của SV và giảm bớt lo lắng vì có hướng dẫn
và xác định rõ các ưu tiên trong giảng dạy. [3 ]
1.2.4 Phương pháp dạy học:
1.2.4.1 Mối liên hệ trong PPDH:
Dạy và học là hai mặt thống nhất biện chứng trong quá trình dạy học,
trong đó hoạt động dạy chỉ đạo hoạt động học. Phương pháp khoa học quyết
định phương pháp sư phạm. Phương pháp dạy có ý nghĩa quyết định, ảnh
hưởng rất lớn đến dạy và học. Nếu thầy dạy theo phương pháp thuyết giảng thì
chắc chắn sẽ là thầy đọc trò ghi. Thầy coi trọng phương pháp làm việc nhóm
Phương pháp dạy học = Phương pháp dạy + Phương pháp học
Trong đó: Phương pháp dạy mang tính chủ đạo.
Phương pháp dạy = Phương pháp khoa học + Phương pháp sư phạm
Phương pháp khoa học quyết định phương pháp sư phạm.
Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là người thầy phải tìm ra
cái gì đó hoàn toàn mới, mà là phải biết vận dụng một cách sáng tạo cách tổ
chức họat động nhận thức cho SV nhằm đạt mục tiêu đào tạo. Lúc này người
đóng vai trò chủ đạo, sáng tạo, đưa những tri thức mình lĩnh hội vào thực tiễn.
Như vậy việc đổi mới là kết hợp các phương pháp, các phương tiện, các công
nghệ cho phù hợp đối tượng, phù hợp với nội dung giảng dạy, điều này người
thầy sẽ giúp SV nhanh chóng hiểu bài và nhớ lâu hơn vì người thầy đã phát
huy tất cả các giác quan và sự tập trung của SV. Như vậy trong quá trình học,
SV dễ dàng nhận biết mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng từ những khái
niệm, định luật.
1.2.4.2 Cơ sở lựa chọn phương pháp dạy học
Theo PTS Bùi Ngọc Oánh, việc lựa chọn các phương pháp là do GV gắn
bó hình thức, tổ chức trang bị… Để lựa chọn phương pháp dạy học sao cho
phù hợp, ta phải dựa vào các căn cứ các yêu cầu sau: nội dung bài giảng, thời
gian lên lớp, đặc điểm đối tượng, hoàn cảnh đặc điểm GV.
Việc lựa chọn phương pháp tùy thuộc vào tài năng GV, quan điểm đó là
nghệ thuật dạy học.
Ngày nay việc lựa chọn PPGD người ta thường kết hợp nhiều phương
pháp dạy học, và sử dụng phương tiện hiện đại cùng với phương pháp truyền
thống.
Theo Davies, hiệu quả làm việc của GV là GV phải biết quản lý thời
gian, lựa chọn phương pháp và thiết bị phù hợp, biết áp dụng thế mạnh của
mình vào đâu và cách nào để có hiệu quả tốt nhất, ấn định đúng những điều ưu
tiên giảng dạy. Sau đó kết hợp tất cả lại với nhau bằng cách lấy những quyết
định có hiệu quả. Khi GV quyết định về một phương pháp nào đó thì tất cả
những điểm kể trên đã xét tới rồi, đôi khi GV có thể dạy nhanh hơn bằng
phương pháp thuyết trình hơn là bằng phương pháp cho người học làm việc
18
một mình. Vấn đề là khi nào phải quyết định, khi nào GV phải cung cấp thông
học, do đó cần nhanh chóng ứng dụng các PPGD tích cực nhằm nâng cao tính
chủ động và sáng tạo của SV, phục vụ ngày càng tốt hơn cao hơn việc hình
thành và phát triển nhân cách con người.
1.2.5 Tổ chức kiểm tra và quản lý chuyên môn :
1.2.5.1 Tăng cường công tác quản lý chuyên môn:
Sự quản lý chặt chẽ đòi hỏi phải có trong trường học, nhằm nâng cao
chất lượng đào tạo mà nhiệm vụ trực tiếp là ban nghề, tổ bộ môn. Việc kiểm
tra đánh giá phải được tiến hành thường xuyên và định kỳ về công tác chuyên
môn, để đánh giá một cách khoa học, khách quan, chính xác, khả năng, chất
lượng giảng dạy.
Thanh tra công tác chuyên môn của GV bao gồm: việc chấp hành các
quy chế, quy định ở tất cả các khâu trong quá trình giảng dạy trên lớp và
hướng dẫn thực hành như: biên soạn tài liệu, chuẩn bị giáo án, thực hiện
chương trình, nội dung và thời gian của các môn học, kết quả giảng dạy; việc
tổ chức kiểm tra, thi, chấm bài và tác phong sư phạm của GV. [7]
Việc kiểm tra đánh giá là cơ sở để uốn nắn những hạn chế, thiếu sót, cổ
vũ động viên phong trào dạy tốt trong tập thể sư phạm của trường, từ đó dần
dần nâng cao chất lượng đào tạo.
1.2.5.2 Kiểm tra công tác thi học kỳ, thi tốt nghiệp :
Vấn đề thi, kiểm tra đánh giá chất lượng một khóa học, môn học là quy
định bắt buộc trong quá trình đào tạo. Người thầy giảng dạy phải tham gia vào
20
việc kiểm tra, thi của SV, chỉ khi người thầy biết đến kết quả học tập của SV,
tiến bộ hay thụt lùi thì người thầy mới có ý thức cải tiến PPGD, tự đánh giá
lại công tác quản lý. Đổi mới hình thức lẫn nội dung kiểm tra thi để đánh giá
đúng năng lực của SV để lực lượng công nhân lành nghề có kiến thức chuyên
môn và kỹ năng đáp ứng yêu cầu xã hội.
1.3 QUÁ TRÌNH DẠY HỌC TRONG ĐÀO TẠO MÔN KỸ THUẬT
1.3.1 Khái niệm về quá trình dạy học:
Kỹ năng là khả năng cuả con người thực hiện công việc một cách có
hiệu quả về chất lượng trong một thời gian thích hợp, trong những đđiều kiện
nhất đđịnh. Người công nhân có kỹ năng tốt là người có thao tác nghề thành
thạo, thực hiện một nhiệm vụ xác định trong thời gian ấn định trước với chất
lượng đảm bảo.
Thực tế giảng dạy cho thấy, kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một
hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, tức là nắm đuợc những
hiểu biết lý thuyết cơ bản liên quan đến nghề. Kỹ năng biểu hiện trình độ tư
duy, năng lực và kỹ thuật hành động. Kỹ năng là phải biết phân tích những
hoạt động phức tạp thành hoạt đong cơ bản mục đích là thu được kết quả. Để
22
có kỹ năng trong lao động cần phải phân tích mục đích, cách thức thực hiện và
phải kiên trì luyện tập theo một qui trình nhất định.
− Một cách chung nhất, kỹ năng thường đđược phân ra:
− Kỹ năng đđơn giản và kỹ năng phức tạp.
− Kỹ năng chung (đặt kế hoạch hoạt đđộng, tổ chức về kiểm tra các hoạt
đđộng đđiều chỉnh về điều khiển hoạt đđộng…) về kỹ năng chuyên
biệt (gắn với những lĩnh vực chuyên môn nghề nghiệp nhất định …).
b. Kỹ xảo:
Trong quá trình tập luyện hình thành các thao tác thành thạo, mỗi hành
động được thực hiện một cách hoàn hảo, các thao tác hoàn toàn tự động hóa,
không cần sự hiện diện của ý thức, đó là kỹ xảo.
Hình thành kỹ xảo là một quá trình gồm bốn giai đoạn: giai đoạn làm
quen, giai đoạn làm thử, giai đoạn cơ bản, giai đoạn rèn luyện. Giai đọan đầu
người hoạt động hiểu được mục đích của hành động, nhưng chưa nắm rỏ cách
thức thực hiện, nên hành động còn nhiều sai lầm. Giai đoạn thử tiếp theo, đã
biết cách hành động nhưng chưa chính xác, còn nhiều thao tác thừa. Đến giai
đoạn rèn luyện, các thao tác thừa đã giảm, hành động được thực hiện một cách
nhuần nhuyễn, đều đặn tự động hoá hoàn toàn. Lúc này tay nghề của người
tác luyện tập. Công việc của GV ở giai đoạn này là quan sát theo dõi công
việc luyện tập của SV nhằm ngăn ngừa những sai lầm xảy ra, uốn nắn lại các
thao tác. Tuy nhiên GV không được làm thay cho SV, làm mất tính tự lực của
SV, đồng thời khơi gợi cho SV tìm ra những thiếu sót, nguyên nhân và biện
pháp khắc phục.
24
Î Hướng dẫn kết thúc:
Giai đoạn này là kiểm tra đánh giá, nghiệm thu sản phẩm. GV nhận xét,
tổng kết công tác thực hiện vừa qua, nhấn mạnh các mặt tích cực, mặt hạn chế
về tác phong, thái độ, các thao tác, tổ chức nơi làm việc khoa học…và giao
nhiệm vụ cho bài thực hành lần sau, thu dọn, vệ sinh nơi thực hành.
1.4 NHỮNG QUAN ĐIỂM MỚI TRONG DẠY HỌC
1.4.1 Dạy học theo hướng tích cực hóa người học:
Tính tích cực là được xem như bản chất chất vốn có trong mỗi con người,
nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục là tạo ra những con người năng động, hiểu biết
về công nghệ đồng thời có trình độ nghề nghiệp thích ứng với sản xuất, góp
phần phát triển cộng đồng.
Thuộc tính chung của tích cực hoá dạy học là làm tích cực hơn hoạt
động của thầy và trò trong quá trình dạy học, nhằm nâng cao hiệu quả trí dục
ở SV. Thực tế, tích cực hoá quá trình dạy học chủ yếu là tích cực hoá quá trình
nhận thức của SV; phát huy tính tích cực nhận thức của SV; nâng cao tính tích
cực, tự giác, chủ động của SV; tích cực hoạt động học tập của SV; phát huy trí
lực của SV; phát huy tính tích cực, sáng tạo, năng động của người học. [8]
Tích cực hoá học tập được biểu hiện như:
− Chăm chú tập trung vào việc học.
− Hăng hái tham gia hoạt động học.
− Chuẩn bị bài trước, hay nêu thắc mắc và đòi hỏi sự giải thích.
− Luôn hoàn thành bài tập
− Tìm tòi, tham khảo tài liệu, để giải quyết vấn đề học hữu hiệu