Bài giảng và bước đầu xây dựng tài liệu hỗ trợ cho phần quang hình học - Pdf 19

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------------------
NGUYỄN THỊ BÉ THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI GIẢNG VÀ BƯỚC ĐẦU
XÂY DỰNG TÀI LIỆU HỖ TRỢ CHO PHẦN
QUANG HÌNH HỌC Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học môn Vật lý
Mã số: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐỖ XN HỘI
u
kiến thức. Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội khóa 10 đã khẳng định “Xây
dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông
nhằm nâng cao giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn
nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và
truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở cá
c nước phát triển
trong khu vực và thế giới”.
Việt Nam đang bước vào thời kì hội nhập, có rất nhiều vấn đề chúng ta phải
đổi mới để có thể hòa nhập với xu hướng quốc tế. Mục tiêu đến năm 2020 Việt
Nam sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành một nước công nghiệp và hội
nhập với cộng đồng quốc tế. Nhân tố quyết định thắng lợi của cô
ng cuộc hiện đại
hóa và hội nhập quốc tế là con người và vì thế nguồn nhân lực Việt Nam phải được
phát triển về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao, có
những phẩm chất và năng lực được hình thành trên một nền tảng kĩ năng kiến thức
chắc chắn. Việc này phải bắt đầu từ giáo dục p
hổ thông.
Để đáp ứng được mục tiêu giáo dục hiện nay, nhiều giáo viên đã tích cực thay
đổi phương pháp giảng dạy, nâng cao tính trực quan trong dạy học nhằm tạo cho
học sinh hứng thú học tập, chủ động, tích cực tiếp thu kiến thức. Trong đó, phải kể
đến việc ứng dụng các thành tựu công nghệ thông tin vào dạy học với sự trợ giúp
của m
áy vi tính. Trong nhiều chỉ thị của Bộ giáo dục và đào tạo đã xác định rõ:
công nghệ thông tin tác động mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung, phương pháp và cả
phương thức dạy và học. Vì thế phải đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong
công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học và ngành học.
Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, việc ứng dụng các thành tựu khoa học
vào giảng dạy diễn ra thật sự sôi nổi. Trong đó, có thể kể đến lĩnh vực tin học đã
thật sự tạo nên nét mới cho giáo dục hiện nay. Những thành tựu trong lĩnh vực công

lớp. Ngoài ra, tôi sưu tập và giới thiệu một vài website tham khảo có nội dung liên
quan đến phần quang hình học.
Tôi hy vọng việc minh họa các thí nghiệm trên máy vi tính thay cho các thí
nghiệm thật mà chúng ta không có điều kiện tiến hành trên lớp sẽ có thể giúp học
sinh dễ tiếp cận vấn đề, tạo được hứng thú học tập từ đó học sinh tiếp thu bài học
một cách tốt hơn, rèn được nhiều kĩ năng cho học sinh hơn và giờ học sẽ trở nê
n
sinh động và hấp dẫn hơn.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Xây dựng một số thí nghiệm sử dụng phần mềm Flash trong phần “Quang
hình học”
- Thiết kế một số bài giảng điện tử trong phần “Quang hình học” sử dụng
phần mềm Power Point và các thí nghiệm đã được xây dựng
- Tìm hiểu nội dung liên quan đến phần “Quang hình học” trên một số
website
- Tóm tắt một số kiến thức cơ bản và chuyên sâu trong phần “Qua
ng hình
học”
- Bước đầu tìm hiểu về sử dụng phương pháp ma trận trong việc giải một số
bài toán về quang hình học.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
 Đối tượng nghiên cứu
- Sử dụng phần mềm Flash để thiết kế một số thí nghiệm minh họa.
- Thiết kế một số thí nghiệm
và bài giảng điện tử trong phần “Quang hình
học” lớp 12 Trung học phổ thông.
 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung và phương pháp giảng dạy phần “Quang hình học” trong chương
trình vật lý trung học phổ thông bằng hình thức sử dụng giáo án điện tử
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu các tài liệu về lý luận dạy học, các tài liệu bồi dưỡng phương pháp
giảng dạy cho giáo viên trung học phổ thông.
- Nghiên cứu một số tài liệu, giáo trình liên quan đến nội dung phần “Quang hình
học” và quang học ma trận.
- Nghiên cứu các giáo trình, website hướng dẫn sử dụng Flash, Power Point.
- Tìm kiếm một số website có nội dung liên quan đến phần “Quang hình học”
trên mạng internet.
 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
- Lập quy trình thiết kế các bài giảng điện tử phần “Quang hình học” lớp 12.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại lớp hai lớp 12 trường Tr
ung học phổ thông
Nguyễn Thái Bình –Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phân tích kết quả thực nghiệm và rút ra kết luận.
 Phương pháp thu nhận dữ kiện
- Trong khi tiến hành thực nghiệm sư phạm, theo dõi quan sát thái độ, hoạt động
của học sinh nhằm nắm được phản ứng của các em trong việc học tập dưới sự
hỗ trợ của các phương tiện hiện đại.
- Tham khảo ý kiến của đồng nghiệp tr
ong việc xây dựng các bài giảng điện tử và
trong quá trình thực nghiệm sư phạm.
7. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Thiết kế một số bài giảng điện tử phần “Quang hình học”
- Bước đầu xây dựng tài liệu hỗ trợ cho phần “Quang hình học” bao gồm tóm tắt
một số kiến thức cơ bản và nâng cao; sử dụng phương phá
p ma trận trong việc
giải một số bài toán quang hình học, xây dựng một số thí nghiệm minh họa
bằng phần mềm Flash để hỗ trợ cho việc thiết kế bài giảng điện tử.
8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
 Mở đầu
 Chương I: Cơ sở lí luận

máy móc kỹ thuật. Thông tin chứa trong phương tiện này gồm h
ình ảnh và âm
thanh. Chúng tác động đến học sinh qua hình ảnh (hình ảnh tĩnh hoặc động, sơ
đồ, kí hiệu,…) và âm thanh (tiếng nói, nhạc điệu, tiếng động,…).
1.1.2. Các chức năng của phương tiện dạy học
1.1.2.1. Các chức năng của phương tiện dạy học theo quan điểm của lí
luận dạy học
- Sử dụng phương tiện dạy học để tạo động cơ học tập, kích thích hứng thú
nhận thức của học sinh, đặc biệt trong giai đoạn định hướng mục đích
nghiên cứu.
- Sử dụng phương tiện dạy học để hình thà
nh kiến thức và kỹ năng mới.
- Phương tiện dạy học có thể sử dụng một cách đa dạng trong quá trình
cũng cố (ôn tập, đào sâu, mở rộng, hệ thống hóa,…) kiến thức, kỹ năng
của học sinh.
- Phương tiện dạy học được sử dụng để kiểm tra kiến thức, kỹ năng mà học
sinh đã thu đư
ợc.
- Bên cạnh đó, việc sử dụng phương tiện dạy học (thiết bị thí nghiệm, mô
hình, tranh ảnh, video,…) còn mang lại những hiệu quả về mặt xúc cảm
do những đặc điểm bên ngoài (hình ảnh, màu sắc,..) được bố trí đẹp về
mặt thẩm mỹ, cách thức gây tác động đến học sinh.
- Phương tiện dạy học phải được thiết kế và cần được giáo
viên sử dụng
sao cho mang lại tác dụng tốt trong việc điều khiển quá trình nhận thức
của học sinh.
- Nhiều phương tiện dạy học như các mô hình có thể tháo lắp được, máy vi

- Các vật thật, các bức ảnh chụp
- Các thí nghiệm của giáo viên với các thiết bị
thí nghiệm
- Phim học tập
Bình diện trực quan gián
tiếp
- Các thí nghiệm mô hình
- Các phim họat họa
- Các phần mềm MVT mô phỏng các hiện
tượng, quá trình vật lý
- Các mô hình vật chất
- Các hình vẽ, sơ đồ
Bình diện nhận thức khái
niệm – ngôn ngữ
- Sách giáo khoa, sách bài tập, sách tahm khảo
- Các phần mềm máy vi tính dùng cho việc ôn
tập

Như vậy rõ ràng cần phải sử dụng phối hợp các phương tiện dạy học trong
dạy học vật lý để tạo điều kiện cho hoạt động nhận thức của học sinh diễn ra trên
nhiều bình diện khác nhau nhằm nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học
sinh.
1.1.3. Một số định hướng chung về phương pháp sử dụng phương tiện
dạy học
Sử dụng phối hợp các phương tiện dạy học trên các bình diện khác nhau của
hoạt động nhận thức ở các khâu của quá trình dạy học.
Gắn việc sử dụng phương tiện dạy học với các hoạt động trí tuệ - thực tiễn
của học sinh, tạo ra các kích thích đa dạng về mặt cơ học, âm học, quang học…

với mối tương quan phù hợp trong quá trình thu nhận và chế biến thông tin của

trình lĩnh hội kiến thức đạt hiệu quả cao.
Khi sử dụng m
áy vi tính trong đánh giá kết quả học tập của học sinh luôn
bảo đảm sự công bằng, khách quan nên có thể hình thành ở học sinh những thói
quen tốt: trung thành với bản thân và đánh giá khách quan đối với người khác.
1.2.1.2. Cơ sở lí luận dạy học
Mục tiêu dạy học của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là đào tạo nên
những con người lao động năng động, sáng tạo, luôn đáp ứng kịp thời sự phát triển
của khoa học và công nghệ. Để đáp ứng được yêu cầu đó, đòi hỏi phải có sự cải
tiến, hiện đại hóa về nội dung chương trình,
phương pháp giảng dạy và cả phương
tiện dạy học. Khi máy vi tính được sử dụng trong dạy học như một phương tiện
dạy học hiện đại, người dạy học có cơ hội thuận lợi để sử dụng phương phá
p mô
hình hóa vì máy vi tính có khả năng cho ta xây dựng nên các mô hình tĩnh hoặc
động với chất lượng cao, có thể vận động theo những quy luật khách quan của
hiện tượng mà người lập trình đã đưa vào chương trình.
Với vai trò là một phương tiện dạy học, máy vi tính có thể được sử dụng
trong tất cả các giai đoạn của quá trình dạy học: củng cố trình độ tri thức xuất phá
t
của học sinh, xây dựng tri thức mới, ôn luyện và vận dụng tri thức, tổng kết hệ
thống hóa kiến thức và kiểm tra đánh giá trình độ tri thức, kĩ năng của học sinh.
Điều này chứng tỏ máy vi tính có thể góp phần thực hiện một cách có hiệu quả các
nhiệm vụ của quá trình dạy học.
Theo chủ nghĩa Mac – Lênin, giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho học sinh là một
trong những nhiệm vụ hàng đầu m
à giáo dục phải đạt được. Vật lý học là một môn
khoa học có tính thực nghiệm nên có nhiều thế mạnh trong việc giáo dục kỹ thuật
tổng hợp cho học sinh. Một trong những vấn đề cần thực hiện để giải quyết nhiệm
vụ này là lựa chọn tài liệu học tập có giá trị khoa học lớn và có xu hướng thực

của xã hội: nghiên cứu khoa học, kinh tế, quốc phòng,…Đặc biệt trong lĩnh vực
giáo dục, ngày càng có nhiều người nghiên cứu việc sử dụng m
áy vi tính trong dạy
học.
Nhờ có chức năng lưu trữ và hiển thị một lượng thông tin vô cùng lớn dưới
dạng văn bản, hình ảnh và âm thanh nên máy vi tính được sử dụng để hỗ trợ giáo
viên trong việc minh họa các hiện tượng, các quá trình tự nhiên cần nghiên cứu.
Người dạy hoàn toàn có thể chủ động lựa chọn, sắp xếp các thông tin cần truyền
đạt cho học sinh theo một trình tự tùy ý. Một trong những ưu điểm của máy vi tính
so với các phương tiện khác
là các quá trình, hình ảnh, văn bản có thể được phóng
to, thu nhỏ, làm chậm, làm nhanh, dừng lại quá trình đang xảy ra hay chuyển sang
nghiên cứu quá trình khác [1].
Bên cạnh đó, máy vi tính còn được sử dụng trong việc mô phỏng, mô hình
hóa các hiện tượng, các quá trình cần nghiên cứu dưới sự hỗ trợ của nhiều phần
mềm (đồ họa, thiết kế,…) để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình nhận thức của
học sinh. Tương tự vậy, nhờ máy vi tính, ta có thể xâ
y dựng các mô hình về các
đối tượng nghiên cứu giúp cho việc nhận thức đối tượng đó được thuận lợi hơn.
Một thuận lợi khác là ta có thể xây dựng và quan sát mô hình tĩnh hay động dưới
nhiều góc độ khác nhau, trong một không gian hai hay ba chiều, với đủ các màu
sắc trong tự nhiên.
Mặt khác, ngày càng có nhiều chương trình được xây dựng nhằm hỗ trợ cho
việc tự học, tự ôn tập của học sinh, trong đó các yếu tố kích thích hứng thú, phát

huy tính tích cực tự lực cũng như phát triển năng lực trí tuệ của học sinh hết sức
được chú trọng. Việc kiểm tra, đánh giá với sự hỗ trợ của máy vi tính đang được
sử dụng trong lĩnh vực dạy học nhằm bảo đảm được tính khách quan, chính xác
cao. Nhiều phần mềm tự kiểm tra đánh giá có sự tương t
ác nên bảo đảm thực hiện

Do
những đặc điểm của khoa học vật lý đòi hỏi việc giảng dạy bộ môn này
trong nhà trường phải dựa vào thí nghiệm giáo khoa. Quan sát là điểm xuất phát
của việc nghiên cứu hiện tượng vật lý, nguồn biểu tượng đầu tiên về hiện tượng
đó. Giáo viên cần tổ chức quan sát trong tiến trình thực hiện thí nghiệm.
Tuy nhiên, trong chương trình vật lý phổ thông có một số quá trình cần nghiên
cứu m
à ta không thể quan sát chúng trong tự nhiên một các dễ dàng như: chuyển
động rơi, chuyển động ném ngang của một vật, dao động điều hòa, dao động điện,
hiện tượng phân rã hạt nhân, phóng xạ,… vì diễn biến của các quá trình này nhanh
quá hoặc chậm quá không thể bằng mắt thường ta xác định được những đại lượng
cần thiết và nhiều thí nghiệm mà ta không thể thực hiện được vì dụng cụ sử sụng
cồng kềnh, phức tạp, đắt tiền, không an toàn. Trong những trường hợp đó, ta hoàn
toàn có thể sử dụng máy vi tính để mô phỏng các quá trình đó, nghĩa là hiển thị
hiện tượng, quá trình nghiên cứu trên màn hình, làm cho quá trình đó diễn ra
nhanh hơn hay chậm đi, có thể dừng lại từng giai đoạn để ta nghiên cứu dễ dàng.
Tuy nhiên, mức độ chính xác của việc mô phỏng còn phụ thuộc vào hai yếu tố:
- Thứ nhất, nó phụ th
uộc vào nhận thức của người nghiên cứu về quy luật
phản ánh hiện tượng, quá trình vật lý. Các quy luật này thường được mô tả
bằng các phương trình, hệ phương trình toán lý.
- Thứ hai, nó phụ thuộc vào khả năng của người lập trình, sử dụng ngôn ngữ
máy tính để phản ánh lại các quy luật đó c
hính xác đến chừng nào trong
phần mềm của máy vi tính.
Mô phỏng các hiện tượng, quá trình để qua đó tìm ra các kiến thức mới
Ngoài khả năng mô phỏng một cách trực quan và chính xác các hiện tượng,
quá trình vật lý, máy vi tính còn có thể tạo điều kiện để đi sâu vào và tìm ra các
mối quan hệ có tính quy luật của các hiện tượng, quá trình vật lý nhờ các chức
năng ưu việt trong việc tính toán và xử lý số liệu của máy vi tính. Vai trò của máy

- Đưa ra giả thuyết về các mối liên hệ có tính quy luật của một số đại lượng
vật lý trong hiện tượng, quá trình đang nghiên cứu.
- Kiểm tra giả thuyết (mô hình toán học). Việc kiểm tra giả thuyết đưa ra là
đúng hay sai là một việc khó khăn.
Sử dụng máy vi tính hỗ trợ các thí nghiệm vật lý
Một trong các ứng dụng đặc trưng của
máy vi tính là hỗ trợ các thí nghiệm
vật lý
Máy vi tính có thể tham gia vào thí nghiệm thực với tư cách là một thiết bị
đo, lưu trữ, xử lí và hiển thị kết quả
- Là thiết bị cập nhật số liệu: số liệu có thể được con người đưa vào từ bàn
phím hoặc qua các thiết bị chuyển đổi nối kết với hệ thống m
áy vi tính,
hoặc qua các file dữ liệu.
- Là một máy đo vạn năng có độ chính xác cao: nhờ có các thiết bị ngoại vi
và các phần mềm hỗ trợ mà máy vi tính có thể thực hiện chức năng của
nhiều thiết bị đo từ cường độ dòng điện, hiệu điện thế, điện trở, nhiệt độ,
thời gian,…
- Là thiết bị lưu trữ và xử lý số liệu với tốc độ nhanh
- Là thiết bị hiển thị kết quả dưới nhiều dạng dữ liệu khác nhau (văn bản,
hình ảnh, âm thanh) với khả năng đồ họa cao.
Sử dụng máy vi tín
h hỗ trợ việc phân tích các băng video ghi các quá
trình vật lý
Việc ghi các quá trình vật lý thực vào băng hình và quay chậm lại tạo điều
kiện hết sức thuận lợi cho việc quan sát đối tượng nghiên cứu. Tuy nhiên việc sử
dụng băng hình này còn khó khăn, thường mất nhiều thời gian trong việc thu thập
số liệu, thực hiện các phép toán trong phân tích và xử lý số liệu cũng như trong
việc trình bày các kết quả đó. Để giải quyết những khó khăn nà
y, người ta đã sử

• Lựa chọn phương pháp nghiên cứu và cách thức để đạt được phương
pháp đó.
• Dùng toán học và suy luận logic để xử lý kết quả thí nghiệm đi đến
những kết luận cần t
hiết.
- Đặc điểm quan trọng nhất của thí nghiệm là phải đảm bảo sự quan sát
được biến đổi của một đại lượng nào đó do sự biến đổi của đại lượng
khác.
- Có thể làm lại các thí nghiệm nhiều lần và bảo đảm kết quả thu được
tương đối giống nhau.
- Một thí nghiệm
bao giờ cũng mang tính chủ quan vì nó phụ thuộc vào
khả năng cảm nhận, năng lực và kiến thức của người thí nghiệm; việc xác
lập mục đích và phương pháp nghiên cứu cũng như các thao tác của
người thí nghiệm.
- Mọi thí nghiệm đều được gắn liền với một hệ thống lý thuyết bởi vì thí
nghiệm bao giờ cũng diễn ra theo một mục đích xác định được xây dựng
trên cơ sở của một hệ thống kiến t
hức nhất định và khi xứ lý kết quả phải
sử dụng lý thuyết bao giờ thí nghiệm cũng được đi trước bằng một hệ
thống lý thuyết, và trong nhiều trường hợp, từ hệ thống lý thuyết người ta
tiên đoán trước một cách chính xác kết quả thực nghiệm. Tuy nhiên cũng
có những trường hợp mà kết quả của nó lại làm tiền đề cho một lý thuyết
mới.
1.3.2. Các chức năng của thí nghiệm trong dạy học vật lý
1.3.2.1 Vai trò trong nhận thức của thí nghiệm vật lý
Thí nghiệm là phương tiện cung cấp các dữ kiện phát hiện vấn đề: Nhiều vấn
đề của việc dạy học vật lý cũng như nhận thức thực tiễn có thể được đặt ra thông
qua những hiện tượng thực thực tiễn hoặc thông qua những kiến thức đã có. Tuy
nhiê

những tri thức mới về đối tượng. Dùng thí nghiệm kiểm tra các kết quả để
khẳng định,
phủ định hoặc hoàn chỉnh.
Các thí nghiệm cung cấp dữ kiện cho việc xác định nhu cầu, nhiệm vụ,
phương hướng phát triển của vật lý. Nhiều kết quả của một thí nghiệm vật lý này
lại dẫn đến nhiều nghiên cứu khác, thậm chí dẫn đến sự ra đời của một ngành học
mới.
1.3.2.2. Vai trò trong lý luận dạy học của thí nghiệm vật lý
Thí nghiệm có
thể được sử dụng ở tất cả các giai đọan khác nhau của quá trình
dạy học:
- Ở giai đoạn định hướng mục đích nghiên cứu: thí nghiệm có thể được sử
dụng để đề xuất vấn đề cần nghiên cứu, đặt biệt có hiệu quả khi sử dụng thí
nghiệm để tạo tình huống có vấn đề. Do kết quả thí nghiệm mâu thuẩn với
với kiến thức, kinh nghiệm có
sẵn hoặc trái ngược với sự chờ đợi của học
sinh nên nó tạo ra nhu cầu, hứng thứ tìm tòi kiến thức mới của học sinh.
- Thí nghiệm có vai trò quan trọng trong giai đoạn hình thành kiến thức mới.
Nó cung cấp một cách hệ thống các dữ liệu thực nghiệm, từ đó khái quát
hóa quy nạp, kiểm tra được tính đúng đắn của giả thuyết hoặc hệ quả logic
rút ra từ giả thuyết đã đề xuất, hình thành kiến t
hức mới. Tuy nhiên, các
thiết bị thí nghiệm ở trường phổ thông không cho phép tiến hành những thí
nghiệm phức tạp với các phép đo đòi hỏi sự chính xác cao cũng như trình
độ toán học của học sinh còn hạn chế, do đó không phải tất cả các kiến thức
đều được xây dựng bằng con đường thực nghiệm. Do đó giá
o viên có thể
đưa ra những kết luận khái quát do các nhà khoa học tìm ra và học sinh phải
thừa nhận. Lúc này, để giảm tính áp đặt, giáo viên có thể tiến hành thí
nghiệm minh họa kiến thức đã đưa ra trong trường hợp cụ thể, đơn giản.

nhận, xử lý, trình bà
y kết quả thí nghiệm, tính toán sai số, xác định
nguyên nhân và tìm cách làm giảm sai số. Quá trình làm việc tự lực
với thí nghiệm của học sinh sẽ gợi lên hứng thú nhận thức, lòng ham
muốn nghiên cứu, tạo đựơc niềm vui của sự thành công khi giải quỵết
được nhiệm vụ.
- Thí nghiệm còn là phương tiện tổ chức các hình thức làm việc tập thể
khác nhau, bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức của học sinh. Trong khi
tiến hành thí nghiệm đòi hỏi sự phâ
n công hợp lý, phối hợp làm việc
nhuần nhuyễn giữa các thành viên trong nhóm nên đây là nơi bồi
dưỡng phẩm chất đạo đức, xây dựng các chuẩn mực hành động tập
thể.
Thí nghiệm là phương tiện đơn giản hóa và trực quan hóa trong dạy học vật lý
- Nhờ có thí nghiệm, ta có thể nghiên cứu các hiện tượng, các quá trình
vật lý trong những điều kiện thuần khiết, có thể tác động các điều
kiện, quan sát, đo đạc một cách dễ dàng hơn để đi tới nhận thức được
nguyên nhâ
n của mỗi hiện tượng và mối quan hệ có tính quy luật của
chúng.
- Thí nghiệm là phương tiện trực quan giúp học sinh nhanh chóng thu
thập được những thông tin chân thật về các hiện tượng, các quá trình
vật lý.
1.3.2.3. Các loại thí nghiệm trong dạy học vật lý:
Thí nghiệm biểu diễn của giáo viên:
Là các thí nghiệm giáo viên giới th
iệu một cách tương đối nhanh với học
sinh chủ yếu về mặt định tính hiện tượng, quá trình và các qui luật nghiên cứu, cấu
tạo và hoạt động của một vài dụng cụ và thiết bị kĩ thuật, những cái mà học sinh
có thể cảm thụ được bằng mắt và tai.

nghiệm và cách thức tiến hành thí nghiệm, cách thức thu thập và xử lý kết quả thí
nghiệm.
Giao nhiệm vụ cụ thể cho học sinh sao cho học sinh phải tham gia một cách
tích cực tất cả các giai đoạn của thí nghiệm.
Giáo viên phải làm trước thí nghiệm trước giờ học, bảo đảm
thí nghiệm
thành công.
Việc sử dụng dụng cụ và tiến hành thí nghiệm phải bảo đảm tuân theo các
quy tắc an toàn.
1.3.4. Thí nghiệm ảo trong dạy học vật lý
Thí nghiệm ảo là tập hợp những tài nguyên số đa phương tiện dưới hình thức
đối tượng học tập nhằm mục đích mô phỏng các hiện tượng vật lý, hóa học, sinh
học,… xảy ra trong tự nhiên hay trong phòng thí nghiệm, có đặc điểm là có tính
tương tác cao, giao diện thân thiện với người sử dụng và có thể mô phỏng những
quá trình mà điều kiện tới hạn của nó khó xảy ra trong tự nhiên ha
y khó thu được
trong phòng thí nghiệm. Thí nghiệm ảo giúp giảm thiểu việc học chay, dạy chay
thường gặp do thiếu phương tiện, điều kiện thí nghiệm. Việc sử dụng thí nghiệm
ảo cũng không ngoài mục đích giúp người học chủ động học tập phù hợp với tinh
thần người học là trung tâm của giáo dục hiện đại.
Mỗi thí nghiệm ảo phải có khả năng hoạt động độc lập như một đối tượng
học tập, đư
ợc thiết kế để giải quyết một số mục tiêu hay nhiệm vụ học tập cụ thể.
1.4. Quy trình thiết kế bài giảng điện tử
1.4.1. Bài giảng điện tử - Giáo án điện tử [4]
Với sự hỗ trợ của máy vi tính trong dạy học, người giá
o viên có thể thiết một
giáo án điện tử, đó là toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của mình một cách chi
tiết, có cấu trúc chặt chẽ, logic, sử dụng các công cụ đa phương tiện (hình ảnh, âm
thanh, phim minh họa,…) để truyền tải kiến thức đến cho người học. Đây là bản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status