KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG TÀI LIỆU HO? TRỢ CHO VIỆC GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP PHẦN Đ?A LÍ TỰ NHIÊN SÁCH GIÁO KHOA THÍ ĐIỂM ĐiA LÍ LỚP 10 THPT BAN KHTN - Pdf 28

TRƯNG ĐI HC SƯ PHM TP.HCM
KHOA ĐA LY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ÑEÀ TAØI

Giảng viên hướng dẫn : Cô Nguyn Th Kim Liên
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thanh Dung
TP. HCM 5 – 2004
 1 
Lời cảm ơn
PHẦN 1 : MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Phương pháp nghiên cứu
4. Giới hạn của đề tài
5. Lòch sử nghiên cứu
PHẦN 2 : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Quá trình nắm tri thức của học sinh
1.2. Xu hướng chung của công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay
1.3. Vai trò của phương tiện trực quan trong dạy học Đòa Lí
1.4. Đôi nét về quá trình sử dụng máy tính trong dạy học
Chương 2 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2.1. Thực trạng dạy và học môn Đòa Lí hiện nay ở trường phổ thông
2.2. Tình hình sử dụng phương tiện trực quan của giáo viên và học sinh trong
giảng dạy và học tập môn Đòa Lí ở trường phổ thông
2.3. Nhận đònh về sách giáo khoa chương trình thí điểm Đòa Lí lớp 10 THPT
ban Khoa học tự nhiên, phần Đòa Lí tự nhiên
2.4. Giới thiệu khái quát các nguồn cung cấp tư liệu :
2.4.1. Microsoft Encarta Reference Library 2004

2.6. Hướng dẫn học sinh tiếp cận thông tin từ hệ thống thiết kế
2.7. Nhận xét - Kiến nghò - Góp ý
PHẦN 3 : KẾT LUẬN
Phụ lục
Tài liệu tham khảo
 3 
ược học tập, nghiên cứu và thực hiện khóa luận tốt nghiệp là một mơ ước
lớn đối với tất cả các sinh viên từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Và
mơ ước đó đã trở thành sự thật với tôi - ngày hôm nay được bày tỏ những suy
nghó, đúc rút những hoài bão, kinh nghiệm và một phần niềm tin, lý tưởng nung
nấu trong mình chuyển tải thành một công trình khoa học nghiêm túc và hy
vọng là có chất lượng. Để đạt được đến điều đó là cả một quá trình phấn đấu,
học tập, rèn luyện và nỗ lực không ngừng trong suốt 4 năm học dưới sự hướng
dẫn, chỉ bảo và dạy dỗ nhiệt tình từ lòng yêu thương và sự quan tâm lớn lao của
các Thầy Cô.
Đ
Chính vì vậy em xin được gửi lại nơi đây lòng biết ơn chân thành và sâu
sắc đối với tất cả Quý Thầy Cô trong khoa Đòa Lí, trường Đại học Sư Phạm
TP.HCM - những người Cha, người Mẹ thứ hai trong suốt thời gian vừa qua đã
luôn ở bên để chở che, dìu dắt và nâng đỡ để em được trưởng thành như hôm
nay!
Và đặc biệt, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô Nguyễn Thò
Kim Liên - Trưởng bộ môn Giáo Pháp Học Khoa Đòa Lí trường Đại Học Sư
Phạm TP.HCM - Người vừa trực tiếp hướng dẫn, vừa luôn động viên và giúp đỡ
mọi mặt để em đủ tự tin và sức mạnh hoàn thành khóa luận này. Sự tận tụy
nhiệt tâm cùng tinh thần khoa học đầy trách nhiệm của Cô là một mẫu mực để
chúng em noi theo và học tập. Em xin được cảm ơn Cô rất nhiều.
Sau cùng, xin chân thành gửi lại nơi đây lòng tri ân sâu nặng về Mẹ Cha
và Anh cùng những người thân và bạn bè xung quanh - bằng tình yêu thương và
quan tâm hết mực đã cho tôi thêm niềm tin và nghò lực để sống, học tập và lao

mới đã tạo ra một tiền đề vô cùng thuận lợi cho người dạy và người học, tuy
nhiên nguồn tài liệu để tham khảo, mở rộng, nâng cao kiến thức còn tương đối
hạn chế. Các tranh ảnh, mô hình, bản - biểu đồ … chưa đa dạng, màu sắc và
chủng loại chưa phong phú, hấp dẫn, lại thiếu những thông tin tham khảo bên
 5 
ngoài, buộc giáo viên và học sinh phải tìm kiếm thêm tư liệu và các phương tiện
dạy học hỗ trợ khác Nhìn chung, công việc tìm kiếm tương đối vất vả, bò động,
nếu không muốn nói là rất mất công sức, thời gian và cả tiền bạc.
Một bên là nguồn thông tin phong phú và đa dạng, có sẵn, hầu như có thể
khai thác tốt mọi lúc mọi nơi nhưng chưa được sắp xếp theo hệ thống và nói
chung là phải tìm kiếm tương đối mất thời gian ; còn một bên thì lại đang vô
cùng cần những thông tin đó - đây chính là điểm gặp nhau của ý tưởng! Tại sao
ta không thiết kế và lưu trữ sẵn một kho tài liệu dành riêng cho việc dạy và học
để khi nào cần dùng đến là có ngay, không phải vất vả, tốn kém, mất thời gian đi
tìm kiếm ở nhiều nơi mà đôi khi lại không có kết quả ??? Thêm nữa, khi đã có
thông tin trong tay, phải làm sao để có thể khai thác tốt nhất kho tài liệu đó ???
Làm sao để tận dụng chúng một cách hữu ích nhất vào phục vụ giảng dạy và học
tập, để cả thầy lẫn trò đều có thể sử dụng, cả thầy lẫn trò đều có thể phát huy trí
lực, nâng cao trình độ, mở rộng kiến thức và quan trọng hơn - làm sao cho quá
trình dạy học đạt kết quả tốt nhất, mỹ mãn nhất ?
Xuất phát từ ý tưởng đó tôi đã lựa chọn một số tính năng và tiện ích nhất
đònh của các chương trình trên để thử tìm kiếm những thông tin cần thiết phục vụ
cho việc giảng dạy và học tập phần Đòa Lí tự nhiên trong chương trình thí điểm
Đòa Lí lớp 10 THPT, ban Khoa học tự nhiên và cụ thể hóa ý tưởng đó để trở
thành khóa luận của mình. Tôi đã thiết kế thử nghiệm một hệ thống tài liệu được
lưu trữ và có thể bổ sung, cập nhật thường xuyên cho phù hợp với mục đích và
yêu cầu sử dụng. Đồng thời đề xuất một số phương pháp, cách thức hướng dẫn
học sinh tiếp cận với nguồn thông tin đó, để các em không chỉ thụ động chờ đón
kiến thức từ phía thầy cô truyền đạt mà còn có thể chủ động tự tìm kiếm, nắm
bắt và khám phá tri thức cho mình.

chung) và đổi mới dạy học Đòa Lí nói riêng một cách toàn diện cả về nội dung,
phương pháp. Quan niệm dạy học mới hiện nay là giáo viên không cung cấp kiến
thức có sẵn cho học sinh mà cho học sinh tiếp xúc trực tiếp, tự khám phá tri thức
dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của giáo viên.
- Do đặc điểm của quá trình nhận thức Đòa Lí và đặc trưng bộ môn, việc
hướng dẫn học sinh tiếp cận thông tin, tư liệu trong dạy học là rất cần thiết. Qua
tiếp cận tư liệu, học sinh sẽ nắm vững được kiến thức cụ thể, tạo cơ sở cho hoạt
động tư duy, tìm ra các tri thức mới, đồng thời óc quan sát, kó năng sử dụng ngôn
ngữ, năng lực tư duy của các em cũng phát triển. Với cách dạy này, giáo viên trở
lại đúng với phương pháp bộ môn - phương pháp dạy học Đòa Lí - đưa học sinh đi
từ cái cụ thể đến những tri thức trừu tượng, khái quát. Bên cạnh đó, cách dạy mới
này giúp cho học sinh nắm được cách khai thác tư liệu và tìm thấy hứng thú trong
việc học tập bộ môn. Mà, như ta biết, hứng thú chính là yếu tố thúc đẩy sự tích
cực, chủ động nhận thức, phát hiện, giải quyết các vấn đề trong học tập cũng như
trong cuộc sống của học sinh.
Như vậy, việc cho học sinh tiếp cận với phương tiện trực quan sinh động là
điều có ý nghóa rất tích cực đối với việc đảm bảo chất lượng bộ môn.
 7 
3. Phương pháp nghiên cứu :
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau :
 Phương pháp tham khảo, nghiên cứu tài liệu
- Nghiên cứu các văn kiện Đại hội Đảng, tài liệu của Bộ giáo dục, Luật
giáo dục để nắm được về cơ bản thực trạng giáo dục, những yêu cầu và nội dung
đổi mới giáo dục của Đảng và Nhà nước ta, trong đó yêu cầu sử dụng các phương
tiện, phương pháp hiện đại nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo trong nhận
thức của học sinh.
- Nghiên cứu các tài liệu lí luận về nhận thức và các tài liệu khoa học về
tâm lí giáo dục để hiểu được con đường biện chứng của quá trình nhận thức, bản
chất của hoạt động học tập, biết được mục tiêu giáo dục, phương hướng và con
đường đổi mới cách dạy học nói chung, dạy học Đòa Lí nói riêng.

Đề tài giới hạn việc nghiên cứu, thu thập, lưu trữ, xử lý tài liệu từ các nguồn :
- Phần mềm Microsoft Encarta Reference Library 2004.
- Mạng thông tin toàn cầu International Network.
Ứng dụng những tính năng và tiện ích của các chương trình trên vào giảng
dạy phần Đòa Lí tự nhiên của chương trình thí điểm Đòa Lí lớp 10 THPT.

Đối tượng nghiên cứu :
- Học sinh lớp 10
- Chương trình Đòa Lí lớp 10 THPT, phần Đòa Lí tự nhiên.
5. Lòch sử nghiên cứu :
Đổi mới phương pháp dạy học hiện nay đang là vấn đề được quan tâm hàng
đầu trong sự nghiệp phát triển giáo dục. Học sinh cần phải được tiếp cận sâu sát
với nguồn tư liệu có tác dụng phục vụ trực tiếp cho quá trình học tập, khám phá
và lónh hội tri thức của các em.
Nguyên tắc trực quan trong dạy học đã có từ thời Hy Lạp _ La Mã cổ đại
nhưng được phát triển thành quan điểm vào khoảng thế kỷ XVII với quan điểm
giáo dục của Cômenxki. Ông yêu cầu người thầy giáo phải cho học sinh được sử
dụng các giác quan vào việc tri giác tài liệu (nghe, nhìn, ngửi, nếm, sờ mó….).
Đây là quan điểm tiến bộ mang tính duy vật, đối lập với nền giáo dục phong kiến
đương thời.
Qua nhiều thăng trầm của thời đại, đến thế kỷ XXI, phương pháp này vẫn
giữ nguyên giá trò và đã được bổ trợ bằng việc sử dụng máy tính điện tử như một
công cụ để tiến hành dạy học. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây phương
pháp này đã được áp dụng mạnh mẽ có sự kết hợp với các phần mềm máy tính
và phần mềm ứng dụng, mà trước hết phải kể đến là phần mềm Microsoft
Encarta Reference Library và mạng thông tin toàn cầu Internet. Riêng đối với bộ
môn Đòa Lí, đây vẫn là một phương pháp dạy học còn vẹn nguyên giá trò và vẫn
luôn chứng tỏ được ưu thế của nó trong quá trình dạy chữ rèn người.
 9 
Sự phát triển của khoa học - kỹ thuật đã tác động mạnh mẽ tới tất cả các

luận dạy học Đòa Lí. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học nói chung và
trong dạy học bộ môn Đòa Lí nói riêng có thể tiến hành ở nhiều phương diện như
nghiên cứu thiết kế, xây dựng giáo án và sách điện tử, đổi mới phương pháp dạy
học, tăng cường các phương tiện, thiết bò dạy học mới v.v Song trong phạm vi
khóa luận này chúng tôi chỉ đề cập đến vấn đề ứng dụng Internet và phần mềm
 10 
Encarta để thiết kế một hệ thống tư liệu phục vụ cho việc giảng dạy và học tập
Phần Đòa Lí tự nhiên của chương trình thí điểm Đòa Lí lớp 10 THPT, ban Khoa
học tự nhiên.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Quá trình nắm tri thức của học sinh :
Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan và quy luật của nó vào bộ óc
của con người. Ban đầu, nhận thức chỉ đơn giản là những quan niệm về nguồn
gốc, tổ tiên……Với thời gian, cùng với sự phát triển của xã hội, nhận thức của con
người ngày càng phát triển đa dạng, phong phú và sâu sắc hơn, thể hiện tính
khoa học và khách quan hơn.

Có một câu nói rất nổi tiếng về quá trình nhận thức của con người : “từ trực
quan sinh động đến tư duy trừu tượng” và “từ tư duy trừu tượng đến chân lý”.
Câu nói đó là của nhà cách mạng vó đại Lênin. Là một người theo quan điểm chủ
nghóa duy vật, Lênin đã khái quát một cách súc tích và sâu sắc quá trình nhận
thức theo con đường đầy biện chứng trên.
Như vậy, theo Lênin, nhận thức của con người trải qua hai giai đoạn. Giai
đoạn thứ nhất là nhận thức cảm tính thông qua hệ thống các giác quan, vì vậy
luôn mang tính chủ quan. Giai đoạn thứ hai là nhận thức lý tính. Trong giai đoạn
này bằng sức mạnh của tư duy trừu tượng con người sẽ rút ra được những khái
niệm, quy luật.
 11 
Quan điểm trên đã khẳng đònh rằng thực tiễn là điểm xuất phát và là cơ sở

Hệ thống các giác quan của con người bao gồm : xúc giác, thò giác, khứu
giác, vò giác, thính giác … có vai trò quan trọng trong nhận thức thế giới khách
quan. Tuy nhiên trong quá trình nhận thức, nếu kết hợp nhiều giác quan cùng
một lúc thì sẽ giảm được sai sót, nhầm lẫn và tăng cường tính chính xác, bền
vững của tri thức. Người ta đã tổng kết mức độ ảnh hưởng của các giác quan
trong quá trình truyền thông như sau :
 12 
+ Sự tiếp thu tri thức khi học đạt được :
• 1% qua nếm
• 1,5% qua sờ
• 3,5% qua ngửi
• 11% qua nghe
• 83% qua nhìn
( Theo Tô Xuân Giáp, Phương tiện dạy học, NXBGD, 1997, tr.21 )
+ Hiệu quả ghi nhớ

Cách ghi nhớ Hiệu quả ghi nhớ
Ghi nhớ bằng thò giác
70%
Ghi nhớ bằng thính giác
60%
Ghi nhớ bằng thính giác - thò giác
86%
( Đào Thò Kim Dung, Luận văn tốt nghiệp NK1998-2002, ĐHSP TP.HCM , tr.14)
Từ những kết quả trên cho ta thấy khả năng thu nhận thông tin bằng thò giác
cao hơn bằng thính giác. Tuy nhiên nếu kết hợp được cả thò giác và thính giác thì
quá trình thu nhận thông tin càng được tăng cường, kết quả nhận thức đạt gần
đến mức tối đa .
Như ta biết, quá trình dạy học là quá trình tác động qua lại giữa thầy và trò,
nói đúng hơn là quá trình thông báo giữa thầy và trò. Việc thông báo diễn ra nhờ

lại càng cao hơn.
1.2. Xu hướng chung của công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay :
Giáo dục là một hoạt động xã hội. Đó là quá trình thế hệ đi trước truyền lại
cho thế hệ đi sau những kinh nghiệm mà loài người đã tích luỹ được trong quá
trình phát triển, các thế hệ sau lónh hội, kế thừa có chọn lọc những kinh nghiệm
đó để tham gia vào những lónh vực hoạt động khác nhau, tham gia lao động sản
xuất nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và cả chính bản thân mình. Mục tiêu của giáo
dục là giúp cho thế hệ trẻ thích nghi, hoà nhập với cuộc sống, vừa trang bò cho họ
khả năng giải quyết những vấn đề do cuộc sống đặït ra. Nói khác đi, giáo dục đào
tạo con người theo yêu cầu xã hội.
Là một hiện tượng xã hội, giáo dục chòu ảnh hưởng sâu sắc và bò chi phối,
qui đònh bởi môi trường kinh tế xã hội, kinh tế xã hội biến đổi thì giáo dục cũng
biến đổi theo.
Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học kó thuật đang phát triển như vũ bão.
Các nhà khoa học đã dự tính, cứ khoảng 7-10 năm, thậm chí 5-7 năm, lượng tri
thức sẽ tăng gấp đôi, sự bùng nổ thông tin trên khắp toàn cầu đã làm xuất hiện
nhanh nhiều tri thức, kó năng và các lónh vực nghiên cứu mới. Theo nhà tương lai
học Alvin Tofflor, nhân loại đã trải qua hai làn sóng và đang bước vào nền văn
 14 
minh của làn sóng thứ ba - nền văn minh siêu công nghiệp với những thành tựu
vô cùng lớn lao và những biến đổi kì diệu trong mọi lónh vực của đời sống. Nền
văn minh đó đòi hỏi con người cần phải có tri thức, sự nhạy bén và năng lực sáng
tạo để có thể nắm bắt, giải quyết các vấn đề mới nảy sinh.
Trước yêu cầu của xã hội, các quan niệm về giáo dục đã có sự thay đổi căn
bản, nó được xem là chiếc đòn bẩy, là “công cụ chủ yếu tạo ra sự phát triển”,
thúc đẩy khoa học kó thuật và sản xuất tiến lên, góp phần cải thiện đời sống.
Giáo dục chính là “chiếc chìa khoá cuối cùng mở vào xã hội tương lai” - một xã
hội được xây dựng trên nền tảng tri thức.
Quan niệm về giáo dục thay đổi dẫn đến nội dung, phương pháp dạy học
cũng thay đổi theo, UNESCO đã nêu ra 4 trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI, đó là

làm cho xã hội yên tâm. Việc đổi mới một cách toàn diện cả về nội dung,
phương pháp dạy học Đòa Lí là một điều hết sức cần thiết.
Trong xu hướng đổi mới giáo dục chung, việc đổi mới dạy và học Đòa Lí đã
và đang được bàn tới. Các nhà giáo dục đưa ra nhiều xu hướng tích cực như dạy
học nêu vấn đề, dạy học lấy học sinh làm trung tâm, dạy học theo hướng cho học
sinh tiếp cận với tư liệu v.v… Theo tôi, việc cho học sinh tiếp cận trực tiếp với tư
liệu là một trong những cách dạy tốt, có thể góp phần nâng cao chất lượng bộ
môn.
Đặc trưng của bộ môn Đòa Lí là gần gũi với đời sống thực tế nhưng nhiều
khi học sinh lại không thể tiếp xúc, quan sát trực tiếp mà phải tư duy, tưởng
tượng một cách gián tiếp. Để nắm được các sự vật, hiện tượng cụ thể làm nền
tảng cho hoạt động tư duy, học sinh cần phải được tiếp cận với các loại tư liệu
khác nhau. Có thể nói, trong dạy học Đòa Lí, việc đưa tư liệu trực quan vào bài
giảng là điều cần thiết và tất yếu. Vấn đề này dù đã được chú ý đến trong sách
giáo khoa chương trình thí điểm lớp 10 (năm học 2003 - 2004) nhưng vẫn còn
nhiều hạn chế chưa được quan tâm đúng mức.
Chương trình mới chú trọng tới việc “đảm bảo tính cụ thể, tính hình ảnh,
khả năng gây xúc cảm của các thông tin” bằng cách cho học sinh tiếp cận với
nhiều nguồn tư liệu khác nhau, sử dụng nhiều phương tiện trực quan khác nhau
phù hợp với điều kiện dạy học cụ thể. Đồng thời yêu cầu phương pháp dạy học
của giáo viên phải “phát huy tính tích cực của học sinh, chú trọng rèn luyện kó
năng, bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo của người học, khả năng vận dụng
những điều đã biết vào các tình huống mới”. Như vậy, chương trình mới đã cố
gắng khắc phục lối truyền thụ một chiều, áp dụng cách dạy “lấy học sinh làm
trung tâm”. Chương trình cũng tính đến đặc trưng bộ môn khi chủ trương cho học
sinh tiếp cận với tư liệu.
Là giáo viên dạy Đòa Lí trong tương lai, tôi rất quan tâm đến việc áp dụng
các tư liệu và phương pháp mới vào giảng dạy để góp phần đảm bảo chất lượng
bộ môn. Trên cơ sở nắm được đặc điểm riêng của môn học, thực hiện theo tinh
thần giáo dục mới mà Bộ đề ra, tôi cho rằng : dạy học Đòa Lí theo hướng cho học

 M.A.Danilop - M.N.Xcatkin trong tác phẩm “Lý luận dạy học của trường
phổ thông” đã nêu lên những vấn đề cơ bản của lí luận dạy học như : các khâu
của quá trình dạy học, những nguyên tắc, phương pháp, hình thức tổ chức dạy
học và vấn đề sử dụng phương tiện kó thuật. Các tác giả nhấn mạnh đến con
đường biện chứng của nhận thức, chủ trương hướng dẫn học sinh, tiếp cận với các
tư liệu mới, giúp các em rút ra kiến thức cần thiết.
Các công trình nghiên cứu trên đã trình bày nhiều vấn đề có tính lý luận và
thực tiễn liên quan đến cách dạy học theo hướng cho học sinh tiếp cận với tư
liệu, đặc biệt là tư liệu trực quan.
 17 
Trong nước, một số nhà nghiên cứu và nhiều tác giả qua các chuyên đề
phương pháp dạy học Đòa Lí cũng đã bàn đến cách dạy học này. Nhìn chung, các
tác giả đều đề cao vai trò của nhận thức cảm tính đối với hoạt động tư duy của
học sinh. Trong việc tổ chức giai đoạn nhận thức cảm tính cho trẻ, các tác giả
nhấn mạnh ý nghóa của các loại tư liệu trong đó có tư liệu trực quan. Một số tác
giả đã bàn đến và vạch ra cách thức hướng dẫn học sinh tiếp cận các loại tư liệu
khác nhau. Ta thấy, phần nhiều tác giả dừng lại ở việc hướng dẫn giáo viên sử
dụng tài liệu trực quan. Có thể nói, chúng ta chưa có một công trình nào nghiên
cứu hoàn chỉnh (cả lý thuyết lẫn thực hành) về kiểu dạy học theo hướng cho học
sinh tiếp cận trực tiếp với tư liệu để từ đó đề ra một phương pháp mới, có hiệu
quả, góp phần đảm bảo chất lượng bộ môn. Đó chính là điểm đáng tiếc!
1.4. Đôi nét về quá trình sử dụng máy tính trong dạy học :
Lòch sử phát triển của nhân loại đã trải qua 3 cuộc cách mạng công nghệ
nhằm mục đích phát huy sức mạnh cơ bắp và trí tuệ của con người, phục vụ cho
việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân (cách mạng công nghệ
cơ khí, cách mạng công nghệ điện tử - điều khiển và cách mạng công nghệ tin
học). Trong đó, cuộc cách mạng công nghệ tin học khởi đầu bằng việc phát minh
ra máy tính năm 1946 đã mở ra một kỉ nguyên rực rỡ cho nền văn minh số của xã
hội loài người, khai nguồn cho những trào lưu đặc trưng của thời đại. Hiện nay
chúng ta đang ở trong trào lưu thứ 3 của nền văn minh đó. Máy tính đã trở nên

Những thành tựu mới của khoa học công nghệ nửa cuối thế kỉ XX, đầu thế
kỉ XXI đang làm thay đổi hình thức và nội dung các hoạt động kinh tế, văn hoá
và xã hội. Một số quốc gia phát triển đã bắt đầu chuyển dần từ văn minh công
nghiệp sang văn minh thông tin. Song song đó, các quốc gia đang phát triển
(trong đó có Việt Nam chúng ta) cũng đã và đang tích cực áp dụng những tiến bộ
mới của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, để phát triển và
hội nhập.

Nhìn từ phía bản thân và bạn bè xung quanh, ta thấy hiện nay ở nhiều nước
Đông Nam Á việc đưa máy vi tính và ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng
dạy đã trở thành điều bắt buộc. Không những thế tin học còn được đưa vào ứng
dụng trong các công đoạn khác của quá trình giáo dục. Thực vậy, để nâng cao
chất lượng dạy và học, chính phủ Philippin đã đưa chương trình vi tính hóa vào
trong trường phổ thông. Tại Malaysia, thủ tướng Mahathir cũng đề ra chủ trương
tương tự nhằm tạo điều kiện cho học sinh tiếp cận với công nghệ thông tin, nâng
cao chất lượng giáo dục.
 19 
CHƯƠNG 2
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2 .1. Thực trạng dạy và học Đòa Lí hiện nay ở trường THPT:
Qua tìm hiểu những tài liệu nghiên cứu của các nhà giáo dục về việc dạy
học Đòa Lí ở trường phổ thông, qua các đợt thực tập sư phạm, tôi đã rút ra được
một số điều liên quan đến việc giảng dạy bộ môn của giáo viên.
Thực tế cho thấy rằng, có nhiều thầy cô bộ môn rất yêu nghề, có tâm huyết,
trình độ chuyên môn vững, luôn tìm cách cải thiện phương pháp, biên soạn thêm
các tài liệu trợ giảng nhằm giúp cho việc dạy và học đạt hiệu quả cao hơn.
Những thầy cô này đã, đang và sẽ tiếp tục góp phần tích cực vào sự nghiệp giáo
dục nói chung, công tác dạy và học Đòa Lí nói riêng ở trường phổ thông.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, đa số các thầy cô dạy Đòa Lí hiện nay thường
chỉ dừng lại ở kiểu truyền đạt kiến thức có sẵn, học sinh nghe, ghi chép lại bảng

2.2. Nhận đònh chung về tình hình sử dụng tư liệu trực quan trong dạy
học Đòa Lí ở trường phổ thông :
Đối với giáo dục và đào tạo, công nghệ thông tin có tác động mạnh mẽ làm
thay đổi nội dung, phương pháp, hình thức dạy và học. Công nghệ thông tin là
phương tiện để tiến tới một “xã hội học tập”.
Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo đã,
đang và sẽ đem lại một làn gió mới, góp phần đổi mới phương pháp tổ chức và
truyền đạt tri thức. Khả năng xử lý hypertext, phép tích hợp các văn bản, hình
ảnh động, phương tiện multimedia … góp phần đáng kể vào quá trình chuẩn bò
thực hiện và phân phối thông tin thay thế cho sách giáo khoa. Khả năng trình
 21 
diễn bằng giao tiếp tương tác đa chiều là một thế mạnh quan trọng hỗ trợ cho
quá trình truyền thụ tri thức. Triển vọng mở rộng của mạng máy tính cùng với
các ứng dụng phong phú của nó cho phép xây dựng một hệ thống truy cập thông
tin nhanh chóng - thông qua các phần mềm máy tính để đưa các tri thức, thành
tựu mới của khoa học kó thuật, công nghệ đến người dùng một cách nhanh chóng,
giúp học sinh có thể tiếp xúc đựơc với một khối lượng thông tin, tri thức khổng lồ
trải rộng trên phạm vi toàn cầu.
Ngày nay máy tính có thể thực hiện rất nhiều công đoạn thay thế cho nhà
giáo dục bao gồm từ việc lập kế hoạch, lên giáo án, tổ chức kiểm tra, đánh giá
quá trình dạy v.v… Việc dùng máy tính để lưu trữ, phân tích và giải thích các dữ
liệu là một chức năng quen thuộc và là một trong những ứng dụng đầu tiên của
máy tính trong quá trình dạy học. Máy tính quản lí giáo dục cũng có một công
dụng nổi bật là hỗ trợ hay quản lí hệ thống lớp học, thông qua các bài giảng dựa
trên giáo án điện tử hay bất cứ một hoạt động giáo dục nào dựa trên nền tảng là
áp dụng máy vi tính vào hoạt động trên lớp.
Máy tính được dùng để trợ giúp giáo viên trình bày tài liệu, tổ chức hoạt
động nhận thức và luyện tập của học sinh theo mục tiêu đã đònh, kiểm tra, mô tả,
giải thích tri thức, minh hoạ trực quan, hoặc cũng có thể được xem như là một
nguồn chính cung cấp kiến thức cho học sinh. Trong trường hợp sau giáo viên

Vận dụng công nghệ thông tin vào trường học đi đôi với việc đầu tư thiết bò
dạy học hiện đại để cải cách phương pháp dạy học đối với tất cả các môn học ở
trường phổ thông. Điều này đã được thực tế trả lời ở một số trường tại TP.HCM
như trường PTDL Quốc Tế, trường Dân lập Ngôi Sao, trường THPT Nguyễn Thò
Minh Khai, Lê Quý Đôn, Mạc Đónh Chi, Bùi Thò Xuân … Kết quả đã chứng minh
chất lượng đào tạo được nâng cao rõ rệt. Thông qua đó, bài giảng trở nên sinh
động hơn, tạo cho học sinh sự hứng thú và yêu thích môn học, kiểm tra nhanh
chóng kiến thức của học sinh, hỗ trợ đắc lực cho các giờ thực hành.
Tuy nhiên, sau 10 năm đưa tin học vào dạy ở trường phổ thông, tin học đã
được dạy chính thức tại các trường THPT chuyên ban, còn tại các trường khác,
tin học vẫn còn bò coi là một môn nghề tự chọn. Đối với các trường THCS và tiểu
học thì tin học được coi như một môn ngoại khoá. Dù đã có cố gắng rất nhiều
nhưng việc đưa tin học vào nhà trường vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn. Việc dạy
hiện nay vẫn chủ yếu nặng về lý thuyết, coi nhẹ thực hành vì trang thiết bò, cơ sở
vật chất vẫn còn thiếu thốn.
Do mới chỉ là bước đầu thực hiện phương pháp giảng dạy bằng “giáo án
điện tử”, bằng các tài liệu trực quan - thành quả của cách mạng công nghệ thông
tin nên đôi khi còn có những hạn chế, khó khăn và phức tạp. Tuy nhiên đây cũng
có thể coi như là một cách thể hiện “bản lónh” của người giáo viên trước khuynh
hướng đổi mới công nghệ dạy học cho phù hợp với xu thế ngày nay là tin học
hoá toàn cầu.

2.3. Nhận đònh ban đầu về chương trình thí điểm Đòa Lí lớp 10 ban
KHTN :
 23 
Như chúng ta đều biết, ở trường phổ thông, sách giáo khoa là một công cụ
thiết yếu, cơ sở để tiến hành hoạt động dạy học của giáo viên, học sinh. Có thể
nói, hình thức trình bày, nội dung kiến thức của sách giáo khoa ảnh hưởng không
nhỏ đến chất lượng dạy và học. Vì thế, khi tiếp cận với thực tế dạy học thí điểm
Đòa Lí ở trường phổ thông, chúng ta rất cần tìm hiểu về nội dung sách giáo khoa

đồ … để lôi cuốn sự chú ý của học sinh, tăng thêm hứng thú cho các em khi khai
thác các kênh hình này như một nguồn tri thức riêng. Dù vậy, bên cạnh những ưu
điểm còn có nhiều hạn chế nhất đònh, làm cho nguồn tư liệu trực quan này vẫn
chưa thể đáp ứng nhu cầu của các em.
Nghiên cứu cụ thể ta thấy, sách giáo khoa thí điểm Đòa Lí lớp 10 ban
KHTN gồm tất cả 42 bàøi, chia làm 2 phần. Trong đó Đòa Lí tự nhiên đại cương
chiếm 21 bài và phần còn lại - Đòa Lí kinh tế xã hội đại cương, cũng 21 bài.
Chương trình này được giảng dạy trong vòng 33 tuần với thời lượng tổng cộng
khoảng 50 tiết cho cả 2 học kì (cả kiểm tra, ôn tập). Phần Đòa Lí tự nhiên gồm
có 4 chương, được phân phối như sau:
Chương 1 : Bản đồ (4 tiết)
Phần này thực ra là học về phương pháp sử dụng bản đồ, có thể coi là những
tiết rất quan trọng để củng cố phần kó năng của học sinh. Nội dung chủ yếu là
giới thiệu về các phương pháp chiếu đồ, phương pháp biểu hiện đối tượng Đòa Lí
trên bản đồ, mục đích sử dụng bản đồ nói chung… Cuối chương có 1 bài thực
hành đọc một số phương pháp biểu hiện các đối tượng Đòa Lí trên bản đồ.
Chương này nhằm mục đích cung cấp, bổ sung, củng cố một số kiến thức cần
thiết về bản đồ, từ đó tạo cơ sở cho học sinh sử dụng các bản đồ, các bài tập về
bản đồ cụ thể trong các bài sau.
Nội dung bài học được minh hoạ cụ thể bằng một số bản đồ nhưng chưa
phong phú và đa dạng về chủng loại, lại không có màu sắc nên chưa thật hấp
dẫn và thu hút đối với học sinh.
Chương 2 nêu khái quát về vũ trụ, hệ quả của vận động tự quay và vận
động quanh Mặt Trời của Trái Đất.
Bài soạn trong sách giáo khoa được minh họa bằng các sơ đồ thể hiện hiện
tượng ngày đêm dài ngắn khác nhau, bốn mùa, múi giờ, các hành tinh trong hệ
Mặt Trời, vũ trụ … Hình ảnh còn đơn điệu và vẫn chưa thật bắt mắt. Nếu bổ sung
thêm một số hình ảnh đa dạng về màu sắc hoặc các đoạn phim ngắn nói về vũ
trụ, vò trí của Trái Đất trong hệ Mặt Trời, vận động của Trái Đất v.v… thì chắc
chắn các bài học sẽ sinh động, thú vò và lôi cuốn hơn rất nhiều.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status