Khóa luận tốt nghiệp đề tài kỹ thuật bắt và nuôi ong mật apis-cerena - Pdf 20

MỤC LỤC
Trang phụ bìa ................................................................................................................i
Lời cam đoan................................................................................................................ii
Lời cảm ơn...................................................................................................................iii
MỤC LỤC 1
Phần 1: MỞ ĐẦU 3
1. Giới thiệu 3
2. Mục tiêu nghiên cứu 4
3. Nội dung nghiên cứu 4
Phần 2: PHẦN NỘI DUNG 5
Chương 1 : LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 5
1.1. Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội huyện Châu Thành 5
1.1.1. Điều kiện tự nhiên 5
1.1.2. Kinh tế - xã hội 5
1.1.3. Thu thập số liệu cây nguồn mật của huyện 6
1.2. Giới thiệu chung về ong mật (Apis cerana) 7
1.3. Ong mật trong hệ thống phân loại 8
1.4. Cấu tạo ong mật 9
1.5. Tổ chức xã hội đàn ong 10
1.5.1.Các thành viên của đàn ong 10
1.5.2. Sự điều hoà hoạt động của đàn ong 13
1.6. Cấu trúc tổ ong 15
1.7. Phương pháp bắt ong mật (Apis cerana) về nuôi 15
1.8. Kỹ thuật nuôi ong mật (Apis cerana) 16
1.8.1. Nuôi ong theo kỹ thuật cổ truyền 16
1.8.2. Nuôi ong theo phương pháp hiện đại 18
1.8.3. Chọn chỗ đặt ong trong vườn nhà 20
1.9. Ong bốc bay và biện pháp phòng tránh 21
1.9.1. Tác hại do ong bốc bay 21
1.9.2. Nguyên nhân ong bốc bay 21
1.9.3. Nhận biết ong bốc bay 21

3.4. Mối tương quan giữa thời gian bắt ong và khối lượng tổ ong 36
3.5. Phương pháp nuôi ong 37
3.5.1. Nuôi ong bằng thùng muốt và chậu đất nung 37
3.5.2. Ảnh hưởng của nồng độ khói nhang của 3 nghiệm thức đến năng suất mật
ong 39
3.5.3. Ảnh hưởng của thời gian bắt ong đến năng suất mật ong 39
3.6. Ảnh hưởng của 3 nghiệm thức bắt ong đến khối lượng mật/trọng lượng ong bắt
được 40
3.7. Ảnh hưởng của thời gian bắt ong đến khối lượng mật/trọng lượng ong bắt được
41
3.8. Phương pháp bắt ong và nuôi ong 42
3.8.1. Phương pháp bắt ong 42
3.8.2. Phương pháp nuôi ong 49
3.9. Các vấn đề thường gặp trong bắt ong 54
3.9.1. Hiện tượng ong bốc bay 54
3.9.2. Hiện tượng bắt tổ ong nhiều chúa 55
Phần 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
1. Kết luận 57
2. Kiến nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
2
Phần 1: MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu
Ong mật đã xuất hiện trên trái đất từ 20 - 25 triệu năm trước, tuy nhiên con nguời chỉ
mới biết nuôi ong cách nay khoảng 3.500 năm. Người Châu Âu, Châu Phi, Châu Á
biết nuôi ong từ lâu, sau đó mới tới người Châu Mỹ và Châu Úc [13].
Ở nước ta, nghề nuôi ong mật đã xuất hiện từ rất lâu, tuy nhiên đến giữa thế kỉ 19
nghề nuôi ong mật của nước ta vẫn còn ở trong giai đoạn mới bắt đầu và trong những
năm gần đây nghề nuôi ong mật có sự phát triển nhanh cả về số lượng đàn và sản
lượng mật thu được. Đó là nhờ chính sách của nhà nước về đầu tư cho công tác

bắt ong nhanh và hiệu quả.
- Thực hiện nuôi ong với các vật liệu khác nhau (Chậu kiểng bằng đất nung,
thùng muốt) ở quy mô hộ gia đình => tìm được phương phương pháp nuôi cũng như
cách chăm sóc và thu hoạch mật ong đạt hiệu quả kinh tế cao.
4
Phần 2: PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 : LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1. Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội huyện Châu Thành
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Châu Thành là một huyện nằm ở phía Đông Nam tỉnh Đồng Tháp, có diện tích tự
nhiên là 245,94 km
2
và dân số năm 2005 là 164.248 người chiếm 7.3 % diện tích và
10.% dân số toàn tỉnh.
- Có 12 đơn vị hành chính : 01 thị trấn (TT. Cái Tàu) và 11 xã
- Toạ độ địa lý:
Từ 10
o
08’ đến 10
o
18’ vĩ độ Bắc.
Từ 105
o
42’ đến 105
o
59’ kinh độ Đông.
- Tứ cận:
• Phía Đông Bắc giáp tỉnh Tiền Giang
• Phía Tây Bắc giáp huyện Cao Lãnh và thị xã Sa Đéc
• Phía Đông và phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Long

mạnh ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, góp phần giảm chi phí,
hạ giá thành nâng cao năng suất, chất lượng và sản lượng nông sản hàng hoá.
Bảng 1.2: Diện tích trồng lúa giảm.
Năm 2001 2002 2003 2004 2005
Diện tích (ha) 22.084,5 22.052,8 21.854,6 21.783,1 14.017
(Nguồn phòng TN&MT Châu Thành năm 2009)
- Do giá trị kinh tế của cây lúa đang ngày một thấp, nên nông dân đã chuyển sang
trồng các loại cây khác có giá trị kinh tế cao hơn như cây ăn trái hoặc chuyển sang sử
dụng đất vào mục đích khác như nuôi trồng thủy sản, sang đất sản xuất kinh
doanh . ..
1.1.3. Thu thập số liệu cây nguồn mật của huyện
Hiện trạng các vườn cây ăn trái của huyện được phân bố rộng khắp ở huyện. Tuy
nhiên tập trung nhiều ở một số xã chủ yếu với nhiều loài cây khác nhau. Theo thống
kê của phòng nông nghiệp huyện Châu Thành năm 2009 thì diện tích và phân bố các
vườn cây ở các xã trong huyện như bảng sau:
Bảng 1.3: Diện tích các loại cây và vườn cây phân bố trong huyện.
Đơn vị tính: ha
6
TT Các xã, thị trấn Tổng Diện tích
Tổng 6239,90
1 TT.Cái Tàu 294,04
2 An Hiệp 666
3 An Khánh 755,39
4 An Nhơn 1.196,65
5 An Phú Thuận 552,50
6 Hòa Tân 405,86
7 Phú Hựu 496,25
8 Phú Long 215,22
9 Tân Bình 357,37
10 Tân Nhuận Đông 772,01

đình cho ra sản phẩm mật ong được mở rộng thành công tại nhiều quốc gia trên thế
giới như China, India, Bangladesh, Japan, Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Nhật
Bản, Pakistan, Nepal, Thái Lan, Việt Nam, Malaysia và Srilanka [15].
Ong mật là loài côn trùng có xã hội, sống thành bầy đàn, mỗi đàn có khoảng 60-
120.000 cá thể, một vài ong đực và một ong chúa. Giống như hầu hết các loài ong và
côn trùng khác, chúng sẽ bảo vệ tổ của mình khi bị quấy rầy. Ong mật có thể chỉ chít
một lần vì kim chít của chúng sẽ kẹt lại trong da người hoặc động vật khi chít và điều
này dẫn đến cái chết chúng. Khi bị quấy rầy, vài trăm ong mật sẽ bay lên từ tổ và tấn
công những kẻ xâm nhập.
Ong mật giúp thụ phấn chính cho 2/3 thực phẩm chúng ta ăn, việc thụ phấn này có
thể là trực tiếp hay gián tiếp. Việc đàn ong đi lấy phấn hoa, chúng đã vô tình thụ phấn
cho các vườn cây. Ong mật sẽ tìm đến bất kỳ nơi nào có nguồn đường hoặc phấn hoa
[10].
Bên cạnh các loài ong trong nước thì các giống ong ngoại ở Việt Nam phân loài ong
(Apis mellifera ligustica) được nhập vào từ đầu những năm 1960 với số lượng 200
đàn, trải qua 15 năm tồn tại và thích nghi chúng duy trì được với số lượng khoảng
2000 đàn [2]. Tuy nhiên, chất lượng của chúng chưa cao [5].
1.3. Ong mật trong hệ thống phân loại
Trong lớp côn trùng có 20.000 họ ong : ong vò vẻ, ong bầu, ong lỗ… Có những loài
sống đơn độc, có những loài sống thành xã hội. Chúng có những đặc tính sinh học
khác nhau, và có ít cho con người. Nhưng có lợi nhất là ong mật. Các cá thể ong mật
sống suốt đời trong một cộng đồng xã hội gọi là đàn, và những con ong thợ tiết ra
enzim để làm thành thức ăn cho ong.
Trong hệ thống phân loại ong mật thuộc:
- Giới: Động vật
- Ngành: Chân đốt Arthropoda
- Lớp: Côn trùng Inseecta
8
- Bộ: Cánh màng Hymenoptera
- Họ: Ong Apidal

+ Cơ quan hô hấp: Cơ quan hô hấp của ong gồm các lỗ thở, hệ thống khí quản phân
nhiều nhánh, các túi khí và hệ thống mao quản trao đổi khí với các tế bào, các mô
trong cơ thể. Các lỗ thở nằm hai bên cơ thể, có ba đôi lỗ thở nằm ở phần ngực và sáu
đôi lỗ thở nằm ở phần bụng.
+ Cơ quan tuần hoàn: Hệ thống tuần hoàn của ong là một hệ thống hở. Tim của ong
gồm năm ngăn, hai bên sườn của mỗi ngăn tim có các cửa để cho máu từ ngoài vào.
+ Cơ quan thần kinh: Cơ quan thần kinh của ong mật phát triển rất cao, bảo đảm mối
liên hệ thường xuyên của đàn ong với môi trường xung quanh, đồng thời điều khiển
mọi hoạt động thống nhất trong cơ thể ong. Cơ quan thần kinh được chia làm ba
phần: thần kinh trung ương, thần kinh ngoại biên, thần kinh thực vật.
+ Cơ quan sinh dục: Ong mật cũng như các loài côn trùng khác đều thuộc nhóm
động vật phân tính nghĩa là cơ quan sinh dục đực và cơ quan sinh dục cái ở trong các
cá thể khác nhau. Cơ quan sinh dục của ong chúa gồm có hai buồng trứng hình quả
lê, mỗi buồng trứng có rất nhiều ống trứng nằm song song với nhau.
Cơ quan sinh dục của ong thợ về cấu tạo giống như cơ quan sinh dục của ong chúa,
nhưng không được phát triển hoàn chỉnh. Hai buồng trứng của ong thợ có dạng dải.
Cơ quan sinh dục của ong đực gồm có đôi dịch hoàn, ống dẫn tinh, tuyến phụ và bộ
phận giao phối [9].
1.5. Tổ chức xã hội đàn ong
1.5.1.Các thành viên của đàn ong
+ Ong chúa: Trong mỗi một đàn ong thường chỉ có một ong chúa, kích thước và khối
lượng của nó lớn nhất đàn. Cơ thể ong chúa cân đối, có bụng thon dài lộ sau đỉnh
cánh. Phần lưng, ngực của ong chúa có màu đen và to hơn hẳn lưng ngực của ong
thợ. Ong chúa là cá thể cái duy nhất có khả năng sản sinh ra thế hệ con cháu và chức
năng này của nó được hoàn thịên tới mức tối đa
Ong chúa Apis cerana có thể đẻ 400 – 500 trứng/ ngày đêm. Ngoài chức năng đẻ
trứng ong chúa còn tiết ra các pheromon để điều hoà hoạt động của đàn ong. Tuổi thọ
trung bình là 3 năm 4 tháng 14 ngày, nhưng sức đẻ trứng của ong chúa chỉ cao nhất
trong năm đầu tiên. Khi già thì nó đẻ ít đi và đẻ nhiều trứng không thụ tinh. Vì vậy
sau 6 tháng tới 9 tháng người nuôi ong Apis cerana thường thay chúa 1 lần

thoái hoá khi ong được 6 tuần. Khoảng 18 - 20 ngày tuổi, ong chuyển sang giai đoạn
làm việc ngoài tổ, đi tìm kiếm thức ăn.
- Giai đoạn làm việc ngoài tổ : chủ yếu là các hoạt động thu hoạch thức ăn. Thông
thường số lượng lớn ong non cùng tập bay, nên tạo ra tiếng ồn của bay định hướng.
Những ngày sau các chuyến bay định hướng có thời gian lâu hơn, ở khoảng cách
11
rộng hơn. Như vậy khi ong thợ đến tuổi thu hoạch (18 - 20 ngày) nó đã biết được vị
trí tổ của nó và các vật chuẩn xung quanh (cây cối, nhà cửa). Việc thu hoạch mật và
phấn của ong được tiến hành nhờ sự chỉ dẫn của ong trinh sát.
Ong trinh sát và các tín hiệu thông báo về nguồn thức ăn : ong trinh sát bay đi tìm
kiếm nguồn thức ăn căn cứ vào mùi thơm, màu sắc rực rỡ của các bông hoa, tiếng
động của các con ong khác. Sau khi đã phát hiện được nguồn hoa và nguồn thức ăn
chúng nhanh chóng bay về tổ truyền tín hiệu báo cho các cá thể trong đàn biết sự có
mặt của thức ăn, phương hướng, khoảng cách, mùi thơm, hương vị, độ phong phú và
thời gian có nguồn thức ăn.
Số lượng ong trinh sát thay đổi tuỳ theo hoàn cảnh môi trường, nếu nguồn mật phong
phú chỉ có vài phần trăm. Nếu nguồn mật khan hiếm thì có nhiều ong thu hoạch
chuyển sang làm nhiệm vụ trinh sát 5 – 35 %. Nhờ đó đàn ong có thể sử dụng tốt
được nguồn thức ăn ở xung quanh .
+ Ong đực: Được nở ra từ trứng không thụ tinh, chiều dài cơ thể 12 – 14 mm, trọng
lượng 115 – 130 mg, cơ thể có màu đen sẫm, mắt kép to đen nên còn gọi là ong đen.
Ong đực chỉ thường xuất hiện và có mặt trong đàn vào mùa vụ ấm áp, đàn ong nhiều
mật phấn (mùa chia đàn) hoặc ở đàn mất chúa do ong thợ đẻ trứng. Ong đực không
có cấu tạo thích nghi với việc thu hoạch mật, phấn nên không đi thu hoạch. Chúng
chỉ sử dụng thức ăn có sẵn trong đàn. Đến mùa khan hiếm thức ăn chúng bị ong thợ
đuổi ra khỏi tổ và bị chết đói. Tuy nhiên ong đực là một bộ phận không thể thiếu
được của đàn ong. Nó có chức năng là giao phối với ong chúa tơ và chỉ sau khi giao
phối với ong đực, ong chúa mới có khả năng đẻ ra các trứng đã thụ tinh. Từ những
trứng này sẽ nở ra ong thợ và ong chúa thế hệ sau. Tuổi thọ trung bình của ong đực là
57 ngày. Số lượng ong đực trong một đàn từ vài trăm đến hai ngàn con. Đàn ong tạo

3

2,73
3
2,84
7

5,3
5
7

4,75
5
5,82
14

11,1
7- 8
14
10,0
5
8
14,22
24

19,5
15-16
24

18,54

thợ nhận biết được tình trạng của ong chúa trong đàn. Khi không được thoả mãn
pheromon vì đàn ong quá đông hoặc chúa già, bị dị tật tiết pheromon kém ong thợ có
thể xây mũ chúa chia đàn hoặc mũ chúa thay thế. Khi chúa chết ảnh hưởng tới tất cả
các hoạt động của đàn. Ong thợ ngừng xây tổ, giảm thu hoạch mật và phấn. Nếu
trong đàn không còn ấu trùng non để tạo chúa thì ong thợ đẻ trứng và đàn ong sẽ bị
chết dần.
+ Pheromon của ong thợ
Ong thợ có hai loại pheromon là pheromon báo động và pheromon đánh dấu.
Pheromon báo động gồm hai thành phần là isopentyl axetat do cơ quan đốt tiết ra và
heptanol 2 được tiết từ tuyến hàm trên. Các chất trên có tác dụng đánh dấu mục tiêu,
và báo cho ong thợ khác biết tình hình nguy hiểm của đàn và kích thích chúng xông
ra đốt kẻ thù để bảo vệ tổ. Số lượng isopentyl - axetat được sản xuất ra trong một lần
đốt đo được ở ong Apis dorsata là 40 μg, ong Apis mellifera là 2 μg, ong Apis cerana
là 1 μg và Apis florea 0,2 μg.
Pheromon đánh dấu: ở các đốt bàn chân của ong thợ có tiết ra một loại pheromon (ít
nhất 11 thành phần) để lại trên hoa khi có lấy phấn hoặc mật, chất này có tác dụng
hấp dẫn các ong thợ khác đến đó thu hoạch.
+ Pheromon của ong đực
Từ tuyến hàm trên, ong đực tiết ra ngoài không khí (ở vùng hội tụ ong đực) một loại
pheromon có tác dụng hấp dẫn ong đực của đàn khác đến tập trung và hấp dẫn ong
chúa bay đến giao phối.
+ Pheromon của ấu trùng và nhộng
Ấu trùng và nhộng cùng tiết ra pheromon để hấp dẫn ong thợ đến cho ăn và ủ ấm.
Nhộng ong chúa tiết ra 30 μg, nhộng ong đực 10 μg và ở nhộng ong thợ là 2 - 5 μg
pheromon. ấu trùng ong chúa tiết ra loại pheromon ngăn cản sự phát triển trứng trong
ống trứng của ong thợ. Vì vậy ở những đàn mất chúa còn ấu trùng non, ong thợ sẽ
14
chọn một số ấu trùng xây thành mũ chúa. Ong thợ ở đàn đó sẽ không đẻ hoặc rất
chậm đẻ trứng [6].
1.6. Cấu trúc tổ ong

15
- Bắt ong bay: Khi phát hiện thấy đàn ong bay thấp ngang qua, ta tung đất cát, ném
quần áo hoặc té nước vào đám ong làm chúng hạ thấp độ cao, chờ ong đậu vào cành
cây, bắt ong vào nón (chuyên dùng bắt ong) để vào chỗ tối, mát mẻ. Chiều tối chuẩn
bị một thùng sạch, một ván ngăn, một cầu bánh tổ mới có đủ mật, phấn, ổn định ong
vào thùng đặt nơi thích hợp, cho ong ăn thêm (pha thêm ít mật ong). Nếu không có
bánh tổ viện thì nhốt chúa vài ngày, theo dõi thấy ong thợ lấy phấn về thì thả chúa ra.
- Bắt ong trong hốc cây, hốc đá: Khi phát hiện thấy tổ ong trong hốc cây, hốc đá dùng
rìu búa mở rộng cửa tổ. Dùng khói phun nhẹ vào tổ để ong dạt vào một góc, cắt lấy
bánh tổ, bốc ong vào mũ lưới hoặc áo, khăn. Nếu tổ nằm ở vị trí sâu trong hốc cây to
hoặc vách đá không bắt được, dùng đất ướt trát bịt kín cửa tổ và các khe hở lại. Sau
2-3 ngày đến mở lỗ tổ, ong sẽ tuôn ra, dùng nón bắt ong bay hứng lấy. Cũng có thể
thổi băng phiến vào rồi nút chặt cửa tổ 10 – 15 phút, khi mở cửa tổ ong sẽ tuôn ra và
bắt vào nón. Hoặc bịt kín các khe hở nơi ong ra vào, lấy một ống nứa nhỏ cắm vào lỗ
tổ ong, trát đất xung quanh. Ong ra được nhưng không vào được và đậu ở ngoài khu
vực cửa tổ, ta sẽ bắt quân.
Khi mang về nhà, rũ ong vào thùng. Bánh tổ được cắt bớt phần mật, phần con được
buộc vào thanh xà hoặc khung cầu dây thép, tối cho ong ăn thêm. Khoảng 3 ngày sau
kiểm tra, nếu thấy ong đã gắn bánh tổ vào khung cầu hoặc xà cầu, cởi dây buộc ra
Lưu ý, nên bắt từng đàn một đến khi ong đi làm ổn định mới bắt đàn khác [3].
1.8. Kỹ thuật nuôi ong mật (Apis cerana)
Kỹ thuật nuôi ong mật nội bao gồm kỹ thụât nuôi ong mật theo cổ truyền và kỹ thuật
nuôi ong mật hiện đại.
1.8.1. Nuôi ong theo kỹ thuật cổ truyền
Nuôi ong theo kỹ thuật cổ truyền là phương pháp nuôi vô cùng đơn giản, bằng việc
sử dụng các hốc cây, hốc đá, bộng cây để làm tổ nuôi ong mật, hoặc nuôi trong đõ,
thùng có thanh xà.
a) Sử dụng hốc cây, hốc đá để làm tổ nuôi ong: phương pháp này xuất hiện ở mốt
số địa phương như Tuyên Quang, Lào Cai, Quảng Nam,…
Trước mùa ong về một vài tháng (tháng 10 – 12), người dân vào rừng chọn các hốc

+Thùng vuông, thùng chữ nhật: Thùng vuông có kích thước: chiều dài 50 – 60 cm,
chiều cao 25 – 30cm. Hai đầu bịt gỗ có chừa lỗ nhỏ để ong ra vào ở mặt trước hoặc
mặt bên [3].
c) Nuôi ong trong đõ, thùng có thanh xà: Thùng có thanh xà là hình thức nuôi ong
cổ truyền tiến bộ nhất. Đây là hình thức trung gian giữa nuôi cổ truyền và nuôi hiện
đại, phù hợp với việc nuôi ong cố định và người có vốn đầu tư ít.
17
Nếu làm thanh xà đúng kích thước và đặt đúng khoảng cách thì các bánh tổ được ong
xây vào các thanh xà nên có thể dễ dàng nhấc từng bánh tổ lên để kiểm tra hoặc thu
hoạch mật.
Về cấu tạo của thùng, đõ có thanh xà: chiều dài của thanh xà tuỳ thuộc vào kích
thước của thùng đõ mà dài ngắn khác nhau nhưng chiều rộng của thanh xà bắt buộc
là từ 25 – 28mm, từ tâm xà này đến tâm của xà kế bên là 32 mm giống như khoảng
cách bánh tổ ong tự nhiên. Nếu thanh xà quá to ong sẽ xây theo lưởi mèo ở giữa, nếu
thanh xà quá nhỏ ong xây dính các tầng vào nhau.
Đối với đõ tròn, các thanh xà có độ dài khác nhau, vị trí gác thanh xà phải để cố định.
Còn đối với các thùng vuông hoặc hình chữ nhật thì thanh xà có độ dài bằng nhau dễ
dàng thay đổi vị trí được.
Có các loại thùng, đõ có gờ gác thanh xà thấp xuống nên chừa được khoảng trống ở
trên thanh xà cho ong dự trữ mật [3].
1.8.2. Nuôi ong theo phương pháp hiện đại
Việc nuôi ong theo phương pháp hiện đại cần phải thiết kế thùng nuôi ong.
Thùng nuôi ong là dụng cụ quan trọng nhất, là nơi ở của đàn ong, bảo vệ ong khỏi
nắng mưa và các kẻ thù.
- Yêu cầu thùng nuôi ong
+ Thùng phải kín để dịch hại không xâm nhập được.
+ Thùng nuôi ong phải thuận tiện cho việc quản lý, chăm sóc đàn ong: dễ dàng mở,
đóng thùng kiểm tra cần có cùng kích cỡ, dùng chung cho nhiều thùng, thuận tiện cho
ong ăn, uống nước, làm vệ sinh, thu mật.
+ Tận dụng các vật liệu sẵn có ở địa phương như: khúc gỗ rỗng, ván thùng, thân cọ,

5. Các chi tiết khác
Sân ong 30 ; 40 5 >2
Chắn cửa 30 ; 40 5 1
Cửa tổ 5 1 1
Giá đỡ cầu 30 ; 40 2 1
Đai thùng Phủ bì 3 >2
Nắp thùng Phủ bì
1.8.3. Chọn chỗ đặt ong trong vườn nhà
- Đặt đàn ong gần cây nguồn mật (300 – 700m) không xa quá 1200m.
- Thuận tiện giao thông, cách xa các trại ong khác trên 3km.
- Chỗ đặt thùng ong cần bằng phẳng. Gần nguồn nước sạch để ong có thể lấy nước.
- Mùa hè có bóng râm che mát, mùa đông không bị gió lạnh thổi.
- Không bị ngập lụt vào mùa mưa. Không có nguy cơ hoả hoạn vào mùa khô.
- Đặt nơi xa có kho thuốc trừ sâu, nơi nấu đường, chế biến bánh kẹo.
- Không gần bếp khói, lò gạch hoặc nơi thường xuyên tôi vôi.
- Tránh nơi tàu hoả, trâu, bò, xe ô tô đi lại.
- An toàn, không bị trộm cắp [4].
20
1.9. Ong bốc bay và biện pháp phòng tránh
1.9.1. Tác hại do ong bốc bay
Bốc bay là việc ong chúa và toàn bộ đàn ong bỏ tổ bay đi đến nơi ở mới, là bản năng
bảo toàn nòi giống của các loài ong mật nhiệt đới khi có nguy cơ đe dọa sự sống còn
của chúng. Đối với người nuôi ong, ong bốc bay thì có hại vì:
- Làm giảm số đàn ong trong vườn dẫn đến giảm sản lượng mật, giảm thu nhập của
người nuôi ong.
- Kích thích đàn khác bay theo làm trại ong mất ỗn định [3].
1.9.2. Nguyên nhân ong bốc bay
- Ong đói do thiếu ăn, trong tổ không mật, không phấn, không con.
- Ong bị các bệnh thối ấu trùng, đặc biệt là bệnh thối ấu trùng nhỏ.
- Bị các kẻ thù phá hoại: ong rừng, kiến, sâu ăn sáp…

1.10.1. Bệnh thối ấu trùng
Bệnh này có tên là bệnh thối ấu trùng châu Mỹ, do vi khuẩn Bacillus Larvae gây ra
cho ấu trùng khoảng 5 – 6 ngày tuổi. Ấu trùng ong bị nhiễm vi khuẩn này bình
thường có màu trắng xám, nặng có thể đổi sang màu nâu lợt, không mùi nhưng khi
chết có màu nâu sẫm. Đàn ong bị bệnh thối ấu trùng thì ấu trùng sẽ chết hàng loạt,
đàn ong không còn ong non ra đời và sau cùng cả đàn bị diệt hết.
Chữa bệnh này dùng công thức sau đây: Penicillin 30000 đơn vị, 0.02g Streptomicin
cho một cầu ong. Hỗn hợp này trộn vào một ít nước ấm cho tan ra rồi pha vào xirô
cho ong ăn mỗi đêm [3].
1.10.2. Bệnh thối ấu trùng châu Âu
Bệnh này do vi khuẩn Streptococus Pluton gây ra cho ấu trùng từ 2-5 ngày tuổi.
Khi bị bệnh này ấu trùng có màu trắng trở nên có màu trắng đục, và khi chết trở
thành màu nâu, mình thối nhũn có mùi chua khó ngửi.
Đàn ong bị bệnh này điều xao lãng công việc bò ra rìa cầu, bỏ cầu con không nuôi ấu
trùng vì vậy đàn ong không có ong non ra đời, khi phát hiện đàn ong bị bệnh này thì
mỗi tối ta cho đàn ong ăn thuốc với công thức: một lọ Penicillin một triệu đơn vị
giành cho 10 cầu ong, hòa thuốc vào nước ấm rồi trộn với xirô cho ong ăn mỗi tối.
Trong trường hợp đàn đã bị bệnh nặng thì chỉ còn cách bỏ hết cầu bị bệnh và thay
vào đó cầu có ấu trùng từ đàn khỏe khác, đồng thời cho ăn thuốc ngừa [3].
22
1.10.3. Bệnh ong ỉa chảy
Đây là loại bệnh do Nosema Apis gây ra cho ong đã trưởng thành. Bệnh này thường
bộc phát sau mùa mưa khiến thùng ong bị ẩm ước và dơ bẩn.
Ong bị bệnh chướng bụng đến nổi bay không nổi, chỉ biết trên nắp thùng hoặc bò
dưới đất quanh khu vực đặt thùng. Phân ong bệnh có màu vàng sẫm hay đen.
Trị bệnh này dân gian thường có kinh nghiệm cho ong ăn xi rô với nước vừng trong
nhiều ngày cho ong ấm bụng hy vọng vài ba ngày sẽ hết. Nhưng điều cần phải làm
ngay là vệ sinh ngay thùng nuôi ong để không còn dơ bẩn và ẩm ước nữa [3].
1.10.4. Bệnh sâu phá tổ
Sâu phá tổ là một loại sâu non của một loài bướm, bướm này xâm nhập vào thùng

Achroia grisella cũng là một dịch hại nghiêm trọng của cả hai Apis cerana và Apis
melliferApis Chúng thường đẻ trứng trong những mảnh vụn lắng đọng ở dưới cùng
của tổ ong ở các đàn yếu. Ấu trùng của chúng cũng chỉ tấn công ở các đàn yếu.
Martes flavigula là một động vật ăn thịt đáng sợ của Apis cerana, nhưng đối với Apis
mellifera thì không. Chúng thường tấn công những đàn ong Apis cerana làm tổ trong
các khúc gỗ lớn. Sau khi ăn tất cả các cầu ong và tổ ong, chúng để lại nước tiểu ở nơi
đó có lẽ là để đánh dấu lãnh thổ của chúng. Mỗi khi đàn Apis cerana bị tấn công bởi
Martes flavigula, nó sẽ không bao giờ chiếm lại nơi đó để làm tổ trong những năm
tiếp theo [15].
1.11. Thu mật ong
2.11.1. Chuẩn bị dụng cụ
Dụng cụ thu mật và phiểu lọc mật.
Thùng quay mật, chổi quét ong.
Dao cắt mật: nuôi ong gia đình có thể dùng dao mỏng hoặc lưỡi cưa hỏng mài sắc
uống hơi cong dùng làm dao cắt mật.
Bình phun khói và găng tay.
Panh, kim xử lý sâu bệnh.
Khay cắt nắp, thùng chuyển cầu ong.
Tất cả các dụng cụ đều làm bằng vật liệu không gỉ hoặc tráng sáp khi dùng. Trước
khi quay mật phải rửa sạch và lau khô. Cần có xô nước rửa tay khi làm việc [3].
2.11.2. Lúc nào thì quay được mật
Thường vào thời điểm hoa nở 20-30%, trong đàn ong mật vít nắp 60-70% thì bắt đầu
quay mật; kết thúc quay mật lúc ong tìm vào thùng quay khi quay mật và hoa đã nở
80%; số mật còn lại để ong đủ ăn. Các vòng quay không cố định, ở những đàn ong
nhiều mật muốn chia đàn tự nhiên thì quay mật sớm, cần xây tầng thì lùi quay mật lại
24
vài ngày cuối vụ không còn nguồn hoa thì để mật đủ vít dự trữ, còn vụ hoa sau gối
tiếp tại chỗ thì quay mật bình thường, khi nguồn hoa sau ở nơi khác đã nở nếu nguồn
hoa lớn thì nên “bỏ cuối đuổi đầu” ví dụ cuối vụ mật vải thiều thì bỏ quay mật vòng
cuối chuyển đến nhã sớm để lấy vòng mật đầu [3].

Trích đoạn Ảnh hưởng của thời gian bắt ong đến khối lượng mật/trọng lượng ong bắt được Các vấn đề thường gặp trong bắt ong 1 Hiện tượng ong bốc bay Hiện tượng bắt tổ ong nhiều chúa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status