LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, yếu tố cạnh tranh được đặc biệt chú ý. Các
doanh nghiệp với nhiều hình thức sở hữu khác nhau cạnh tranh khốc liệt với
nhau để giành chỗ đứng trên thị trường và cùng nhau đạt đến một mục tiêu là lợi
nhuận. Lợi nhuận là đòn bảy kinh tế, là yếu tố cơ bản quyết định đến sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp. Lợi nhuận luôn là động cơ để các doanh nghiệp
phấn đấu.
Mặt khác, lợi nhuận được tạo ra là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố, đó
là sự kết hợp hài hoà giữa các yếu tố đầu vào, là sản phẩm của sự tìm tòi, sáng
tạo và mạo hiểm. Nó đòi hỏi ở mỗi nhà kinh doanh những kỹ năng toàn diện khả
năng tư duy nhạy bén và sự năng động. Vì thế nghiên cứu về lợi nhuận giúp cho
những người có tham vọng về kinh doanh và quản lý bước đầu tìm hiểu về
thực tiễn để có cái nhìn toàn diện hơn trong công việc kinh doanh sau này.
Làm thế nào để một doanh nghiệp hoạt động có lợi nhuận và có các biện
pháp tăng lợi nhuận?. Đó là một vấn đề bức bách và có tính thời sự cho bất kỳ ai
muốn đi vào lĩnh vực kinh tế.
Công ty hoá chất vật liệu điên và vật tư khoa học kỹ thuật –
(CEMACO) là doanh nghiệp loại I trực thuộc bộ Thương mại được thành lập và
đi vào hoạt động 8 năm, bước đầu gặp rất nhiều khó khăn song tập thể cán bộ
công nhân viên Xí nghiệp đã không ngừng cố gắng lao động sáng tạo, hoạt động
kinh doanh có lãi trong những năm qua. Tuy nhiên, bằng biện pháp nào để tăng
lợi nhuận cho Công ty trong thời gian tới luôn là nỗi trăn trở của Ban lãnh đạo
Công ty.
Xuất phát từ thực tế đó, trong thời gian thực tập tại Công ty, em đã quyết định
chọn đề tài: "Phân tích đánh giá chỉ tiêu lợi nhuận và các biện pháp nâng
cao lợi nhuận của Công ty Hoá chất vật liệu điện và vật tư khoa học kỹ
thuật ( CEMACO )" làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
1
Do trình độ còn nhiều hạn chế, kinh nghiệm chưa nhiều, thời gian thực tập
còn ít nên bài viết này chắc chắn còn nhiều thiếu xót. Em rất mong được sự chỉ
bảo góp ý của thầy giáo hướng dẫn – T.S Trần Hoè để giúp em hoàn thiện bài
Trong khâu tiêu thụ sản phẩm là chi phí quảng cáo, chi phí bán hàng
Ngoài ra doanh nghiệp còcn phải bỏ ra các khoản chi phí thực hiện nghĩa vụ đối
với Nhà nước như khoản thuế: thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế
tài nguyên, thuế gia trị gia tăng.
3
Như vậy lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp để phản ánh kết
quả toàn bộ quá trình hoạt động kinh doanh của DN. Qua chỉ tiêu này DN đánh
giá tổng quát hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình để từ đó khắc phục hạn
chế phát huy ưu điểm nâng cao hiệu quả kinh doanh.
2. Vai trò của lợi nhuận.
*Đối với doanh nghiệp: Lợi nhuận có vai trò quan trọng trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của DN gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp nên mục tiêu
của mọi quá trình kinh doanh đều gắn liền với lợi nhuận và tát cả các DN đều
mong muốn tối đa hoá lợi nhuận. Các DN sẽ không tồn tại nếu như hoạt động
sản xuất kinh doanh không mang lại lợi ích cho họ.
Lợi nhuận được coi là một đòn bẩy kinh tế quan trọng đồng thời còn là
một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. DN
muốn thực hiện chỉ tiêu lợi nhuận thì trước tiên sản phẩm hàng hoá dịch vụ của
DN đó phải được thị trường chấp nhận. Rõ ràng lợi nhuận là động lực thúc đẩy
các DN không ngừng cải tiến đổi mới hợp lý hoá dây truyền công nghệ sử dụng
tốt các nguồn lực của mình để tăng lợi nhuận DN lại phải thực hiện tốt các mặt
hoạt động kinh doanh và cứ như vậy theo những chu trònh mục tiêu lợi nhuận.
Lợi nhuận tác động đến tất cả mọi hoạt động của DN nó có ảnh hưởng đến
tình hình tài chính của DN. Khi DN kinh doanh có lợi nhuận có nghĩa là DN
không những bảo toàn được vốn kinh doanh mà còn có một khoản lợi nhuận bổ
sung nguồn vốn kinh doanh. Có vốn DN có cơ hội thực hiện các dự án kinh
doanh lớn nâng cao uy tín chất lượng và sự cạnh tranh trên thường trường của
DN. từ đó DN sẽ nâng cao hơn nữa lợi nhuận của mình.
Lợi nhuận là nguồn tích luỹ quan trọng giúp DN đầu tư chiều sâu mở rộng
quy mô sản xuất kinh doanh, là điều kiện để củng cố thêm sức mạnh và uy tín
chỉnh lại cho đúng đắn phù hợp với sự phát triển của DN.
II. PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP.
1. Yêu cầu chung.
Xác định lợi nhuận phải đúng đắn, chính xác trung thực, hợp lý kịp thời
đúng kỳ dựa trên chứng từ hoá đơn hợp lệ.
* Xác định doanh thu: hạch toán đúng các khoản thu trong kỳ và xác định
chính xác thời điểm ghi nhận doanh thu, không được hạch toán thừa thiếu hoặc
bỏ sót một nghiệp vụ phát sinh doanh thu vì chỉ cần hạch toán thừa hoặc thiếu
một nghiệp vụ phát sinh doanh thu thì sẽ dẫn đến việc xác định lợi nhuận sai có
khi nó sẽ làm thay đổi bản chất kết quả kinh doanh của DN.
2. Phương pháp xác định lợi nhuận.
Trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay các doanh nghiệp luôn có xu
thế mở rộng các lĩnh vực kinh doanh và vận dụng tốt các nguồn lực có sẵn của
mình nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Lợi nhuận do ba bộ phận cấu thành đó
là lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận từ hoạt động tài chính
5
và lợi nhuận từ hoạt động bất thường. Do vậy tổng mức lợi nhuận của DN sẽ
được xác định như sau:
Tổng mức
lợi nhuận
=
Lợi nhuận từ hoạt
động SXKD
+
Lợi nhuận từ
hoạt động TC
+
Lợi nhuận từ hoạt
động bất thường
- Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh: Là khoản chênh lệch giữa tổng
hàng phân
bổ cho hàng
tiêu thụ
-
Chi phí
QLDN phân
bổ cho hàng
tiêu thụ
- Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: Là phần chênh lệch giữa thu và chi về
hoạt động tài chính của DN.
Lợi nhuận từ hoạt
động tài chính
=
Doanh thu từ hoạt
động tài chính
-
Chi phí từ hoạt
động tài chính
- Lợi nhuận từ hoạt động bất thường: Là khoản lợi nhuận mà DN thu được
ngoài dự tính hoặc có dự tính đến, nhưng ít có khả năng thực hiện hay là những
khoản lợi nhuận thu được không mang tính chất thường xuyên nhưng khoản lợi
nhuận này thu được có thể hoặc khách quan đem lại.
Như vậy lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh bất thường chính là khoản
chênh lệch giữa thu và chi từ các hoạt động bất thường. Nó được xác định như
sau:
Lợi nhuận từ hoạt
động bất thường
=
Doanh thu từ hoạt
động bất thường
vấn đề quan trọng đối với mỗi DN trong giai đoạn hiện nay.
3. Các biện pháp nâng cao lợi nhuận của DN.
Khi đề ra các biện pháp nâng cao lợi nhuận trong DN người ta nghĩ đến cơ
bản là tăng doanh thu và hạ thấp chi phí.
3.1. Nhóm các biện pháp làm tăng doanh thu của DN.
Có rất nhiều biện pháp làm tăng doanh thu nhưng tuỳ vào đặc điểm của
từng DN, từng lĩnh vực KD khác nhau mà các DN sẽ lựa chọn cho mình các
biện pháp thích hợp nhất để kích thích tăng doanh thu.
7
- Xây dựng chiến lược kinh doanh và lập phương án kinh doanh phải đúng
đắn và phù hợp với thực tế kinh doanh của DN.
- Lựa chọn cơ cấu mặt hàng kinh doanh hợp lý. Việc lựa chọn đúng đắn
mặt hàng kinh doanh là một yếu tố mang lại sự thành công cho DN. Bởi lẽ mặt
hàng kinh doanh trực tiếp đem lại doanh thu cho DN.
- Tổ chức tốt mạng lưới kinh doanh, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Thị trường tiêu thụ sản phẩm ảnh hưởng trực tiếp tới việc đẩy mạnh khối lượng
sản phẩm tiêu thụ tăng doanh thu, thị trường tiêu thụ sản phẩm không những
mang lại nguồn lợi nhuận to lớn mà nó thực sự tạo dựng sự thành công cho DN.
- Lựa chọn và tổ chức các phương án bán hàng hợp lý. Tuỳ thuộc vào đặc
điểm của từng DN và từng mặt hàng KD của DN mà lựa chọn các phường thức
bán hàng thích hợp trong các phương thức bán buôn, bán lẻ, bán trả góp
Phương thức bán hàng tốt nhất là phương thức biết kích thích khai thác nhu cầu
đang tiềm ẩn trong mỗi khách hàng, kích thích tối đa sự ham muốn mua của
khách hàng đối với hàng hoá của DN.
- Cần có một chính sách định giá bán hợp lý, mềm dẻo, linh hoạt dựa theo
các mục tiêu mà DN đang theo đuổi.
- Tổ chức công tác thanh toán và thu hồi công nợ: một phương thức thanh
toán nhanh, gọn, đơn giản sẽ góp phần tạo sự thoải mái cho khách hàng. Tuy
nhiên khi áp dụng các DN cần phải tính đến mức độ rủi ro mà phương thức
thanh toán đó có thể gây ra. Do vậy DN luôn phải chú ý đến sự biến động của
hình dự trữ vật tư tồn kho sản phẩm từ đó phát hiện và ngăn chặn kịp thơì tình
trạng ứ đọng mất mát nguyên vật liệu và sẽ giảm bớt được chi phí phải trả lãi
tiền vay.
Trên đây là một số các biện pháp tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản
phẩm mà các DN thường áp dụng. Tuy nhiên các khoản chi phí phát sinh rất đa
dạng và các DN thuộc các lĩnh vực khác nhau lại có những chi phí đặc thù riêng
và tất yếu sẽ có biện pháp tiết kiệm chi phí khác nhau.
9
Chương II:
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHỈ TIÊU LỢI NHUẬN VÀ CÁC BIỆN
PHÁP NÂNG CAO LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CEMACO
I. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI
CÔNG TY CEMACO.
1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty.
Công ty CEMACO được thành lập theo quyết định số 679B-BTM-TCCB
của Bộ Thương mại và quyết định số 7131/QQMDN ngày 14/8/1995 của Chính
phủ trên cơ sở hợp nhất văn phòng Tổng Công ty Hoá chất vật liệu điện và dụng
cụ cơ khí và Công ty vật tư khoa học kỹ thuật. Công ty là một doanh nghiệp Nhà
nước loại I trực thuộc Bộ Thương mại thực hiện việc kinh doanh sản xuất chế
biến dịch vụ và xuất nhập khẩu hàng hoá vật tư:
Tên công ty: Công ty hoá chất vật liệu điện và vật tư khoa học kỹ thuật
Tên tiếng Anh: CHEMICALS - ELICTRICAL and SCIENTIFIC
TECHNOLOGYCAL MATERIAL COMPANY
Tên viết tắt: CEMACO
Trụ sở Công ty đặt tại: 70 Hàng Mã - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội
2. Chức năng và nhiệm vụ của Công ty.
Công ty CEMACO có chức năng kinh doanh về hoá chất, vật liệu điện và
vật tư khoa học kỹ thuật về các loại hoá chất công nghiệp, các loại thiết bị
phương tiện và dụng cụ đo lường hoá chất thí nghiệm phục vụ cho nhu cầu
nghiên cứu, thí nghiệm của các trường, viện nghiên cứu, trung tâm khoa học kỹ
- Công ty là một doanh nghiệp Nhà nước loại một thuộc Bộ Thương mại
nên được sự giúp đỡ của Bộ và Nhà nước.
- Có lợi thế về mặt hàng kinh doanh vì nó là nguyên liệu chính cho các
nhà máy.
Công ty có rất nhiều bạn hàng trên thế giới đặc biệt là Trung Quốc. Hàng
nhập từ Trung Quốc chiếm tới 60% hàng nhập, còn lại là các nước Đức, Đài
Loan, Hàn Quốc trong quan hệ buôn bán đã hình thành sự tin cậy lẫn nhau.
Công ty có một đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ chuyên môn
cao, năng động sáng tạo, có khả năng tiếp thu và ứng dụng khoa học kỹ thuật
tiên tiến vào sản xuất kinh doanh đồng thời Công ty còn đáp ứng kịp thời nhu
cầu của thị trường.
* Khó khăn:
11
Là Công ty hoạt động trong lĩnh vực ngoại thương nên các khách hàng của
Công ty ở các nước trên thế giới cách xa về địa lý nên Công ty gặp khó khăn
trong việc vận chuyển hàng hoá tròng quá trình thanh toán diễn ra phức tạp, chu
kỳ kinh doanh kéo dài.
Đối thủ cạnh tranh: Hiện nay trên thị trường xuất hiện thêm nhiều đối thủ
cạnh tranh cùng kinh doanh một mặt hàng, như Công ty Xăng dầu, Công ty hoá
chất Bộ Công nghiệp, Công ty Bao bì xuất khẩu. Các Công ty tư nhân cũng
bung ra nhiều, họ dùng nhiều biện pháp để cạnh tranh dành thị trường từ việc
thu thập thông tin nguồn hàng, giá cả, trốn thuế đến việc gian lận trong kinh
doanh tạo nên một môi trường kinh doanh không bình thường gây khó khăn rất
nhiều trong việc kinh doanh của Công ty.
4. Cơ cấu tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
Tổ chức bộ máy của Công ty bao gồm ban giám đốc, các phòng ban tham
mưu và các đơn vị trực tiếp sản xuất kinh doanh:
- Phòng tổ chức hành chính
- Phòng kế toán tài chính
- Phòng kế hoạch tổng hợp
XN
Hà
Nội
Trun
g tâm
dịch
vụ kỹ
thuật
Chi
nhán
h Đà
Nẵng
Chi
nhán
h Hải
Phòn
g
CHI
NH
ÁN
H
TH
ÀN
H
PH
Ố
HC
M
PHÒNG KẾ
HOẠCH
+ Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu điều hành các hoạt động kinh doanh,
hoạt động xuất nhập khẩu trong Công ty, tổ chức tiêu thụ sản phẩm quản lý cung
ứng hàng hoá cho các đơn vị trực thuộc cơ quan.
+ Phòng tổng hợp kế hoạch nghiên cứu xây dựng tổ chức lập kế hoạch sản
xuất kinh doanh cho từng cửa hàng xí nghiệp có liên quan tổng hợp để xác định
tình hình các chi nhánh xí nghiệp thực hiện nhiệm vụ dự trữ hàng hoá vật tư
kinh doanh mua bán các dịch vụ môi giới, lắp giáp bảo hành vật tư thiết bị điện
và các mặt hàng thuộc phạm vi kinh doanh của Công ty.
III. PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHỈ TIÊU
LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CEMACO.
1. Một số kết quả mà Công ty đã đạt được trong năm qua.
Bảng1: kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty
Đơn vị tính 1.000đ
14
Năm
Chỉ tiêu
2001 2002 2003 Mức biến động 01/02 Mức biến động
02/03
Số tiền Tỉ lệ % Số tiền Tỉ lệ %
1. Tổng doanh
thu
25383264
6
1672027
17
2320815
79
-
86629929
-
0
16761000 27910 0,16
- Vốn cố định 4242000 4243344 4242000 1344 0,03
- Vốn lưu động
1251900
0
1251922
3
12519000 223 0.00
Nhìn vào số liệu ở bảng trên ta thấy một số kết quả mà Công ty đã đạt
được trong các năm 2001, 2002, 2003. Có thể nói năm 2003 là năm Công ty sản
xuất kinh doanh đạt hiệu quả coa nhất. Điều này thể hiện qua chỉ tiêu doanh thu
ở năm 2003 so với năm 2002 tăng 64.878.862.000đ tương ứng với tỷ lệ tăng
38,8%. Đây là một tỷ lệ tăng khá cao. Tổng mức lợi nhuận trước thuế của Công
ty năm 2003 so với năm 2002 là 81.466.000đ tương ứng với doanh thu thì ta
thấy doanh thu tăng rất nhanh nhưng lợi nhuận tăng rất nhỏ so với doanh thu, tại
sao như vậy. Nguyên nhân sẽ được làm rõ ở phần sau.
2. Lợi nhuận của Công ty năm 2002, 2003.
Đơn vị tính 1.000đ
Chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003 Mức biến động
Số tiền Tỉ trọng
(%)
Số tiền Tỉ trọng
(%)
Số tiền Tỉ lệ
(%)
15
Lợi nhuận từ hoạt
động sản xuất kinh
doanh
2002 là 58.506.100đ tương ứng với tỷ lệ tăng 54,5% làm cho tổng lợi nhuận của
Công ty tăng lên tương ứng.
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính của Công ty năm 2003 so với năm 2002
giảm đáng kể với mức giảm là 522.817.000đ tương ứng với tỷ lệ giảm là 46,2%.
Tuy nhiên, do mức lợi nhuận từ hoạt động tài chính chiếm tỉ trọng rất lớn
trong tổng mức lợi nhuận (2002 bộ phận lợi nhuận này chiếm 203,3% và năm
2003 là 104,1%). Hơn nữa mức giảm của lợi nhuận từ hoạt động tài chính nhỏ
hơn mức giảm của lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh và chênh lệch rất
lớn với mức tăng của hoạt động bất thường. Do vậy mà tổng mức lợi nhuận của
Công ty năm 2003 tăng so với năm 2002.
Tổng hợp các nhân tố làm tăng và giảm lợi nhuận của Công ty.
- Các nhân tố làm tăng tổng lợi nhuận
16
+ Từ hoạt động bất thường tăng 585.061.000đ
- Các nhân tố làm giảm tổng lợi nhuận
+ Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh giảm 36.771.000đ
+ Lợi nhuận từ hoạt động tài chính 522.817.000đ
Vậy tổng lợi nhuận của Công ty năm 2000 tăng 25.473.000đ so với năm
2002 nhìn chung tình hình thực hiện chỉ tiêu lợi nhuận của Công ty năm 2003 so
với năm 2002 là bình thường bởi vì mức lợi nhuận tăng không đáng kể.
3.1 Tình hình thực hiện chỉ tiêu lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty.
3.1.1 Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính của Công ty.
Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính của Công ty là hoạt
động xuất nhập khẩu các loại mặt hàng hoá chất vật tư mà trong nước chưa sản
xuất được như xút, sô đa, hạt nhựa PE và một số mặt hàng phụ bổ xung cho
những thị trường có nhu cầu do đó ta xét tình hình thực hiện chỉ tiêu lợi nhuận
từ hoạt động các mặt hàng trên.
BẢNG 3 TÌNH HÌNH LỢI NHUẬN TỪ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT
KINH DOANH
Doanh nghiệp nước ta áp dụng luật thuế GTGT thay thế cho thuế doanh thu,
thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ.
Các khoản giảm trừ doanh thu năm 2003 so với năm 2002 tăng 237.791.000đ
với tỷ lệ 209% các khoản giảm trừ doanh thu trong Công ty tăng lên là do khoản
giảm giá hàng bán tăng lên. Giảm giá hàng bán cũng có thể là biện pháp khuyến
khích người mua mua hàng của Công ty thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm
thu hồi vốn nhanh.
Giá vốn hàng bán: Là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến lợi
nhuận của Công ty. Giá vốn hàng bán là khoản chi phí chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong tổng chi phí hoạt động kinh doanh của Công ty do đó Tổng công ty càng
tiết kiệm giảm được giá vốn đơn vị sản phẩm hàng hoá bao nhiêu thì càng tiết
kiệm được chi phí kinh doanh và lợi nhuận tăng lên. Giá vốn hàng bán năm
2003 so với năm 2002 tăng 64.722.457.000đ tương ứng với tỷ lệ tăng 41,7% tỷ
lệ tăng giá vốn tương ứng với tỷ lệ tăng doanh thu.
Chi phí bán hàng: Là khoản chi phí liên quan trực tiếp đến quá trình tiêu
thụ sản phẩm hàng hoá, chi phí của Công ty bao gồm: chi phí lưu kho, chi phí
bốc xếp, chi phí bán hàng càng tiết kiệm thì lợi nhuận của Công ty càng tăng.
18
Năm 2003 so với năm 2002 chi phí bán hàng của Công ty tăng 3.270.548.000đ
tương ứng vởi tỷ lệ 43,5% điều này tác động rất lớn đến doanh thu.
Chi phí quản lý Doanh nghiệp: Là loại chi phí ít biến động theo quy mô
sản xuất kinh doanh xong nếu chi phí này cao làm cho tổng mức lợi nhuận của
Công ty giảm. Năm 2003 so với năm 2002 chi phí quản lý doanh nghiệp giảm
225.372.000đ tương ứng với tỷ lệ giảm 22,5%. Như vậy Công ty năm 2003 đã
làm tốt công tác kiểm soát chi phí của bộ máy quản lý doanh nghiệp tổng hợp
các nhân tố đã ảnh hưởng tới chỉ tiêu lợi nhuận từ hoạt động xuất nhập khẩu hoá
chất năm 2003 so với năm 2002.
3.1.2 Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh phụ của Công ty.
Trong điều kiện kinh tế thị trường để tận dụng trang thiết bị máy móc, lao
động, các tài nguyên sẵn có và nhờ đó mà tăng tổng lợi nhuận của Công ty do đó
bất thường
302.656 431.348 128.692 42%
2. Chi phí hoạt động bất
thường
1.375.026 918.657 -456.369 -33%
3. Lợi nhuận từ hoạt động
bất thường
-1.072.370 -487.309 585.061 54%
Theo số liệu ở bảng trên ta thấy lợi nhuận từ hoạt động bất thường năm
2003 so với năm 2002 tăng 585.061.000đ tương ứng với tỷ lệ 54% doanh thu từ
hoạt động bất thường năm 2003 so với năm 2002 tăng từ 128.692.000đ tăng
tương ứng với tỷ lệ là 42%.
III. CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO LỢI NHUẬN ĐÃ THỰC HIỆN
TẠI CÔNG TY CEMECO.
I. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG DOANH THU.
Hoá chất và các thiết bị vật tư không phải là mặt hàng tiêu thụ hàng ngay
như: quần áo, thực phẩm vì thế thị trường tiêu thụ của các ngành hàng này hẹp
hơn các hàng hoá khác rất nhiều. Người mua là các xí nghiệp, nhà máy sử dụng
hoá chất. Để tìm được thị trường tiêu thụ hoá chất và các thiết bị vật tư khoa học
là cả một vấn đề khó khăn đối với công ty, Công ty phải tìm ra các giải pháp
nhằm tăng doanh thu.
* Tiền hành hoạt động nghiên cứu thị trường, hoạt động nghiên cứu thị
trường là bước đầu tiên tạo điều kiện thuận lợi cho công việc lựa chọn và xâm
nhập được vào thị trường mới. Vì vậy công ty cần thực hiện hoạt động nghiên
cứu thị trường một cách kỹ lưỡng và thường xuyên bằng những công việc sau:
Tìm kiếm những thị trường mới có nhu cầu về mặt hàng hoá chất, đánh
giá các thị trường cũ về tất cả các mặt như kinh tế, chính trị, đối thủ cạnh tranh
20
đã và sẽ có trên thị trường đó, cập nhật và phân tích các thông tin về dung lượng
thị trường và sự biến động của thị trường.
bất hợp lý trong giá cả như chi phí đi đường, chi phí ngoại giao các khoản chi
phí này tương đối lớn nên doanh nghiệp cần tăng cường quản lý chặt chẽ loại chi
phí này.
21
Đối với chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp:
Công ty cần tiến hành các thủ tục hải quan trước khi đưa hàng vào kho bãi
thực hiện việc chuyên chở nhập khẩu hợp lý tránh thời gian và chi phí lưu kho
bãi, các khoản chi phí này thường hay phát sinh những khoản bất hợp lý từ việc
tiếp khách hội hopj, giao dịch do đó công ty cần chú ý đến các khoản chi tiêu
này, công ty phải xây dựng một định mức chi tiêu phù hợp với điều kiện sản
xuất kinh doanh của công ty và các quy định của Nhà nước ban hành.
2. Bố trí lao động khoa học, hợp lý tạo môi trường hoạt động tốt nhất
cho cán bộ công nhân viên trong toàn công ty.
Để làm được điều này công ty cần phải hiểu rõ năng lực của từng lao động
trong công ty để sắp xếp công việc phù hợp nhất với khả năng của mỗi người, từ
đó tạo điều kiện thuận lợi để họ phát huy thế mạnh của mình hoàn thành tốt
công việc của công ty. Hiện nay nhân tố con người có vai trò quyết định đến
tăng năng suất, hiệu quả công việc nâng cao lợi nhuận cho công ty Sử dụng tốt
yếu tố này là một chìa khoá để công ty thành công trong kinh doanh, vấn đề này
ngoài việc công ty có hệ thống khen thưởng bằng vật chất và tinh thần thì đòi
hỏi giám đốc phải biết bồi dưỡng trình độ cho cán bộ công nhân viên, quan tâm
đến đời sống điều kiện làm việc của mỗi công nhân trong công ty, biết động viên
một cách kịp thời và thoả đáng.
3. Đầu tư chiều sâu, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Việc đầu tư chiều sâu mua sắm các thiết bị đổi mới quy trình công nghệ
tạo tiền đề cho việc tăng năng xuất lao động, tăng chất lượng sản phẩm, từ đó
tăng lợi nhuận cho công ty. Đầu tư chiều sâu là biện pháp lâu dài cần phải thực
hiện. Nếu công ty muốn phát triển Công ty có thể sử dụng biện pháp tăng đầu tư
chiều sâu bằng cách liên kết với viện hoá học, viện công nghệ thông tin. Đưa
máy móc trang thiết bị mà các viện này đã chế tạo được vào sản xuất các mặt
vốn lưu động sẽ có tác dụng đảm bảo đủ vốn lưu động cần thiết cho quá trình
sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục tránh ứ đọng vốn, thúc đẩy tốc độ luân
chuyển vốn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Khi khai thác nguồn vốn bên ngoài công ty cần phải lưu ý đến yếu tố lãi
suất tiền vay.
Đẩy mạnh khâu tiêu thụ hàng hoá, sử lý kịp thời các vật tư hàng hoá chậm
luân chuyển, Công ty cần thường xuyên xác định phần chênh lệch giá giữa vốn
bỏ ra ban đầu với giá thực tế thị trường của những tài sản lưu động tồn kho để
có biện pháp sử lý kịp thời tránh mất vốn. Ngoài ra để nâng cao hiệuquả sử dụng
vốn lưu động công ty cần hết sức tránh và sử lý kịp thời những khoản nợ khó
đòi, áp dụng các hình thức hoạt động của thư tín dụng thương mại để ngăn chặn
các hiện tượng chiếm dụng vốn.
Trên đây là một số biện pháp nhằm nâng cao lợi nhuận tại Công ty hoá chất
vật liệu điện và vật tư khoa học kỹ thuật được đề xuất dựa trên tình hình hoạt
động sản xuất kinh doanh của công ty. Tuy nhiên để các biện pháp trên có thể
thực hiện được cần có những chính sách vĩ mô của Nhà nước tạo điều kiện cho
23
hoạt động xuất nhập khẩu hoá chất vật tư. Nhà nước cần phải có một quy định rõ
ràng và khuyến khích để ngành hàng này phát triển hơn.
Chương III:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO LỢI NHUẬN TẠI CÔNG
TY HOÁ CHẤT VẬT LIỆU ĐIỆN VÀ VẬT TƯ KHOA HỌC
KỸ THUẬT.
I. ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ MỤC TIÊU
LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY TRONG THỜI GIAN TỚI.
1. Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Nhận thức rõ vị trí và vai trò của thị trường tiêu thụ sản phẩm đối với hoạt
động sản xuất kinh doanh và là nhân tố tạo doanh thu và lợi nhuận cho Công ty
để đảm bảo giữ vững thị trường truyền thống và không ngừng mở rộng xâm
nhập vào thị trường mới để đẩy mạnh khối lượng tiêu thụ tăng doanh thu trong
hải quan khá lâu ngày gây ra khoản thu chi phí thuê bao kho bãi lớn.
+ Sắp xếp tổ chức lao động hợp lý có biện pháp nâng cao năng xuất lao
động đồng thời nhận thức yếu tố con người có vai trò lớn trong sự thành công
lớn của Công ty nên trong những năm qua Công ty còn sử dụng nhiều biện pháp
nâng cao hiệu suất lao động bằng hệ thống các quy định khen thưởng, động viên
khuyến khích cán bộ công nhân viên trong Công ty đã thực sự đem lại hiệu quả
để tăng năng xuất lao động và phát huy năng lực của cán bộ công nhân viên
trong toàn Công ty.
25