Huy động vốn và các giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Bắc Á chi nhánh Kim Liên - Pdf 25

Trường Cao đẳng công nghệ Bắc Hà
MỤC LỤC
Cáp Thị Ngọc – Tài chính ngân hàng
Trường Cao đẳng công nghệ Bắc Hà
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Cáp Thị Ngọc – Tài chính ngân hàng
Trường Cao đẳng công nghệ Bắc Hà
LỜI MỞ ĐẦU
Vốn là điều kiện tiền đề cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh nói
chung. Ở việt nam hiện nay, vốn đang trở thành một vấn đề cấp thiết cho quá
trình tăng trưởng và phát triển nền kinh tế đất nước. Tuy nhiên để huy động
được khối lượng vốn lớn từ nền kinh tế trong nước là một thách thức lớn đối
với nền kinh tế Việt Nam nói chung và đối với hệ thống Ngân hàng thương
mại nói riêng. Trong điều kiện thị trường chứng khoán phát triển chưa tương
xứng với nhu cầu rất lớn của nền kinh tế thì quá trình nhận và điều chuyển
vốn trên thị trường chủ yếu được thực hiện thông qua hệ thống Ngân hàng
thương mại_Nơi tích tụ, tập trung, khơi dậy và động viên các nguồn lực cho
sự phát triển nền kinh tế đất nước và trên thực tế ở nước ta có hơn 80% lượng
vốn trong nền kinh tế là do hệ thống Ngân hàng cung cấp. Điều này cho thấy,
việc tăng cường công tác huy động vốn, đảm bảo chất lượng và số lượng vốn
luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong quá trình hoạt động của bất kỳ
một NHTM nào.
Là một thành viên của hệ thống Ngân hàng Việt nam, Ngân hàng
TMCP Bắc Á phải chung sức thực hiện nhiệm vụ chung của toàn ngành, làm
thế nào để huy động được vốn đáp ứng cho sự nghiệp Công nghiệp hoá-Hiện
đại hoá đất nước, phát triển kinh tế địa phương là một vấn đề đang được Ngân
hàng rất quan tâm.
Trong thời gian học tập tại trường và thực tập tại Ngân hàng TMCP
Bắc Á, em nhận thấy công tác huy động vốn luôn giữ vị trí rất quan trọng đối
với hệ thống NHTM trong việc đáp ứng vốn cho đầu tư phát triển kinh tế, góp
phần thực hiện chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước. Hơn nữa trong

nghiệp này.
Em chân thành cảm ơn!
Cáp Thị Ngọc – Tài chính ngân hàng
4
Trường Cao đẳng công nghệ Bắc Hà
CHƯƠNG 1
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG
VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm
NHTM là một tổ chức tài chính, hoạt động kinh doanh chủ yếu trên
lĩnh vực tiền tệ và tín dụng, cung cấp một danh mục sản phẩm, dịch vụ vô
cùng đa dạng với tính chất chung là nhận tiền gửi để sử dụng vào mục đích
cho vay, đầu tư và các dịch vụ kinh doanh khác.
1.1.2. Chức năng
NHTM là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh
tế nói chung và đối với cộng đồng địa phương nói riêng. NHTM cung cấp các
dịch vụ tài chính đa dạng nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh
toán- và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức
kinh doanh nào trong nền kinh tế. Sự đa dạng trong các dịch vụ và chức năng
cuả ngân hàng dẫn đến chúng ta được gọi là các “ Bách hoá tài chính”. Ta có
thể thấy những chức năng cơ bản của ngân hàng đa năng hiện nay.
• Chức năng trung gian tài chính
Đây là chức năng quan trọng, phản ánh rõ nét nhất bản chất của NHTM
là tổ chức chuyên nghề kinh doanh tiền tệ. Các NHTM, bộ phận chủ yếu của
trung gian tài chính, là kênh dẫn vốn quan trọng từ những thực thể có vốn
nhàn rỗi đến các thực thể có nhu cầu vốn. Với chức năng trung gian tài chính,
NHTM có khả năng chuyển đổi mức rủi ro, chuyển đổi kỳ hạn, giảm chi phí
giao dịch, cung cấp thông tin dịch vụ.
Chuyển đổi mức rủi ro: NHTM có khả năng giảm thiểu rủi ro thông

trên tài khoản sẽ an toàn,thuận tiện hơn nhiều so với thanh toán bằng tiền mặt.
Để thực hiện tốt chức năng này ngân hàng phải tạo ra một cơ chế thanh toán
hợp lý, thuận tiện, nhanh chóng và đảm bảo an toàn tài sản cho ngân hàng.
• Chức năng tạo tiền.
Chức năng này được thực hiện và thông qua các hoạt động tín dụng và
đầu tư của NHTM trong mối quan hệ với khối dự trữ bắt buộc của Ngân hàng
Cáp Thị Ngọc – Tài chính ngân hàng
6
Trường Cao đẳng công nghệ Bắc Hà
Nhà nước. Khi NHTM cấp vốn tín dụng cho khách hanh A, lập tức số tiền này
có thể trở thành tiền gửi của khách hàng B (mở tại một ngân hàng bất kỳ)
NHTM lại dùng vốn này để cho vay các đối tượng khác. Như vậy từ một
đồng vốn ký thác ban đầu, hệ thống NHTM có thể tạo ra một số vốn tín dụng
lớn hơn rất nhiều lần đẻ ra bội số tín dụng.Đây chính là khả năng tạo tiền của
NHTM.Để kiểm soát khả năng này, luật pháp cho phép Ngân hàng Nhà nước
được quyền buộc NHTM phải ký gửi tại Ngân hàng Nhà nước một phần của
tổng số tiền họ nhận được từ nền kinh tế-gọi là khoản dự trữ bắt buộc
(DTBB).
Như vậy, khi một khối lượng tiền gửi tăng lên, khả năng cho vay của
toàn bộ hệ thống NHTM sẽ tăng lên rất nhiều lần. Ngược lại, khi bớt đi một
lượng tiền gửi, khả năng cho vay của toàn bộ hệ thống NHTMsẽ giảm đi rất
nhiều lần. Cụ thể:
Khả năng mở rộng tiền
gửi của Ngân hàng
=
Số gửi huy
động ban đầu
x
Hệ số nhân mở
rộng tiền tệ

chính trực tiếp, do thị chứng khoán nước ta mới hình thành, hàng hoá còn
khan hiếm, hiệu quả hoạt động chưa cao, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vốn
cho đầu tư cho nền kinh tế. Vì vậy trong thời gian tời việc huy đông vốn phục
vụ vho sự phát triển của nền kinh tế chủ yếu được thực hiện qua các trung
gian tài chính, mà đặc biệt là các NHTM. Vì vậy hoạt động ngân hàng là yếu
tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Ta có thể kể đến một số
vai trò quan trọng của ngân hàng thương mại như sau:
Thứ nhất: NHTM với hoạt động huy đông vốn và cho vay đã giải quyết
sự thiếu vốn tạm thời của nền kinh tế, giúp các doanh ngiệp có điều kiện sản
suất kinh doanh.
NHTM đống một vai trò to lớn trong việc thu hút, huy động, tích tụ và
tập trung các nguồn tài chính nhàn rỗi trong nền kinh tế góp phần quan trọng
tài trợ cho nhu cầu về vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Ngân hàng có
khả năng chuyển hoá các khoản tiền gửi nhỏ lẻ và có các thời hạn ngắn thành
khoản tín dụng lớn có thời hạn dài hơn, tài trợ kịp thời cho nhu cầu đầu tư
phát triển kinh tế xã hội.
Cáp Thị Ngọc – Tài chính ngân hàng
8
Trường Cao đẳng công nghệ Bắc Hà
Thứ hai: Hoạt động của các NHTM góp phần tăng cường hiệu quả
kinh doanh của các doanh nghiệp qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của
nền kinh tế.
Với chức năng chức năng trung gian thanh toán, HHTM đã rút ngắn tốc
độ lưu thông hàng hoá tiền tệ trong nền kinh tế. Với hệ thống thanh toán
không dùng tiền mặt của ngân hàng đã làm giảm cả thời giân và chi phí thanh
toán nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh góp phần thúc đẩy sự phát triển
của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, hoạt động tín dụng của ngân hàng là sự vận dụng trên cơ
sở hoàn trả và có lợi tức. Qua lãi suất tín dụng ngân hàng thúc đâỷ các doanh
nghiệp phải tăng cường công tác hoạch toán, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn,

Để phù hợp với xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, hoạt động của
NHTM cần được mở rộng, nhằm thúc đẩy cho việc mở rộng hoạt động kinh tế
trong nước, tạo điều kiện hoà nhập nền kinh tế trong nước với nền kinh tế
trong khu vực và nền kinh tế toàn cầu.
Với hoạt động rộng khắp của mình, các NHTM có khả năng huy động vốn từ
các cá nhân và tổ chức nước ngoài góp phần bảo đảm nguồn vốn cho sự
nghiệp công nghiệp hoá - hiện đaị hoá đất nước.Đồng thời giúp các doanh
nghiệp xâm nhập thị trường trường quốc tế một cách thuận lợi hơn, hiệu
quả hơn và có khả năng cao nhờ hoạt động thanh toán quốc tế, bảo lãnh, tài
trợ xuất nhập khẩu.
1.1.4. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
1.1.4.1 Nhận tiền gửi
Đây là hoạt động cơ bản của NHTM, Ngân hàng nhận được các khoản
tiền gửi từ khách hàng dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có
kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Ngân hàng nhận tiền gửi của
các cá nhân, của các tổ chức kinh tế và Ngân hàng phải hoàn trả gốc và lãi
cho khách hàng khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu sử dụng là đến
rút tiền ở Ngân hàng. Qua hoạt động này Ngân hàng đã thu hút một lượng lớn
Cáp Thị Ngọc – Tài chính ngân hàng
10
Trường Cao đẳng công nghệ Bắc Hà
tiền tạm thời nhàn rỗi để phục vụ cho các hoạt động của mình như hoạt động
cho vay và thông qua đó cung cấp phương tiện thanh toán cho nền kinh tế.
1.1.4.2 Hoạt động tài trợ của ngân hàng
Trên cơ sở lượng tiền gửi từ nền kinh tế mà Ngân hàng đã tiếp nhận và
quản lý được sau khi trừ đi phần dự trữ cần thiết theo qui định, phần còn lại sẽ
được Ngân hàng sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của mình. Do tính đa
dạng của khách hàng và nhu cầu phong phú về phương thức sử dụng tiền tài
trợ của khách hàng nên Ngân hàng đã thiết lập và xây dựng các phương thức
tài trợ khác nhau.

hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng
thuê. Trong thời hạn cho thuê các bên không được đơn phương hủy bỏ hợp
đồng. Hình thức này giúp người thuê có ngay tài sản có giá trị lớn để phục vụ
cho sản xuất nhưng người thuê phải trả lãi suất thuê thường cao hơn các hình
thức vay khác.
Góp vốn đầu tư: Là hình thức Ngân hàng cùng với một số đối tác cùng góp
vốn để thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh. Có thể là hình thức đầu tư
trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp, và Ngân hàng được hưởng quyền lợi và nghĩa
vụ như một cổ đông thường.
Mua nợ: Ngân hàng có thể tài trợ cho khách hàng thông qua việc mua lại các
khoản nợ, hay chiết khấu các chứng từ có giá.
1.1.4.3. Mua bán ngoại tệ
Đây là hình thức Ngân hàng làm trung gian trong việc chuyển đổi các
đồng tiền của các quốc gia với nhau theo nhu cầu của khách hàng dựa trên tỷ
giá mua bán các đồng tiền đó với nhau, qua hoạt động này Ngân hàng thu
được lợi nhuận từ chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán. Số lượng ngoại tệ
mà Ngân hàng mua được có thể dùng để cho vay đối với các khách hàng có
nhu cầu vay bằng ngoại tệ hoặc dùng để thanh toán trong các giao dịch bằng
ngoại tệ.
Cáp Thị Ngọc – Tài chính ngân hàng
12
Trường Cao đẳng công nghệ Bắc Hà
1.1.4.4. Các dịch vụ của Ngân hàng
♦ Cung cấp tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán hộ.
Thông qua việc thu hút khách hàng (Cá nhân hoặc tổ chức) mở tài khoản giao
dịch tại Ngân hàng, Ngân hàng sẽ quản lý tài khoản của khách hàng và tiến
hành chi trả tiền hàng hóa dịch vụ cũng như thu hộ các khoản phải thu của
chủ tài khoản theo lệnh của họ. Thực hiện nghiệp này một mặt Ngân hàng
giúp khách hàng giảm bớt được chi phí trong quá trình thanh toán mặt khác
Ngân hàng tập trung được một lượng tiền lớn trong nền kinh tế để sử dụng

hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi, nhiều Ngân hàng (thường là các Ngân hàng
lớn) cung cấp dịch vụ đại lý cho các Ngân hàng khác như thanh toán hộ, phát
hành chứng chỉ tiền gửi, làm Ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ…
1.2. HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.2.1. Khái niệm huy động vốn trong ngân hàng thương mại
Hoạt động huy động vốn của các NHTM là hoạt động của các ngân
hàng này nhằm tìm kiếm nhiều nguồn vốn khả dụng từ các chủ thể khác trong
xã hội nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường, hiệu quả và đem lại lợi nhuận
cho ngân hàng đó theo đúng các quy định của pháp luật.
Cáp Thị Ngọc – Tài chính ngân hàng
14
Trường Cao đẳng công nghệ Bắc Hà
1.2.2. Mục tiêu huy động vốn
Trong hệ thống các ngân hàng thương mại nói chung, mục tiêu của hoạt
động huy động vốn của ngân hàng được đặt ra bao gồm hai khía cạnh:
Về mặt kết quả đó là tăng số lượng vốn của ngân hàng. Nhằm đáp ứng
được nhu cầu sử dụng vốn cho hoạt động tăng trưởng của ngân hàng thì tăng
cường huy động vốn vẫn là mục tiêu quan trọng hàng đầu trong các NHTM
hiện nay. Mục tiêu này nhằm đảm bảo lượng vốn đầu vào cho ngân hàng, mở
rộng quy mô vốn của ngân hàng. Cũng nhờ việc tăng số lượng vốn của ngân
hàng mà NHTM có thể đảm bảo cho hoạt động tín dụng và các hoạt động
kinh doanh khác trong ngân hàng được lưu thông bình thường và an toàn
trong hệ thống tiền tệ của ngân hàng.
Về mặt hiệu quả, mục tiêu huy động vốn nhằm tối thiểu hoá chi phí.
Song những năm vừa qua để nâng cao khả năng huy động vốn thì các ngân
hàng vẫn dùng cách truyền thống đó là nâng cao lãi suất huy động, Đặc biệt là
trong năm 2012 lãi suất huy động của một số ngân hàng đã vượt trần
(8%/năm) tăng lên 11.5%/năm. Tuy kết quả là vốn huy động tăng lên nhưng
điều này vẫn chưa giải quyết được nhiều khó khăn cho các ngân hàng vì lãi

kinh doanh.
Trong cơ cấu vốn của Ngân hàng thì ngoài phần vốn tự có thì còn có
vốn huy động, vốn vay và các nguồn vốn khác. Một Ngân hàng không thể chỉ
hoạt động với nguồn vốn tự có và vốn đi vay vì vốn tự có của Ngân hàng chỉ
chiếm một tỷ trộng nhỏ trong tổng cơ cấu vốn của Ngân hàng còn vốn vốn đi
vay thì Ngân hàng phải phụ thuộc vào dối tượng cho vay về thời hạn, số
lượng và các chi phí khác. Do đó có thể Ngân hàng sẽ bỏ lỡ những cơ hội
kinh doanh. Ngược lại nếu Ngân hàng có lượng vốn lớn sẽ hoàn toàn chủ
động trong hoạt động của mình. Nguồn vốn lớn làm tăng khả năng hoạt động
của Ngân hàng như chủ động đa dạng hoá các hình thức và phương thức hoạt
động nhằm phân tán rủi ro và tăng lợi nhuận, phục vụ cho mục tiêu cuối cùng
của Ngân hàng là an toàn và sinh lời.
Thứ ba: Vốn huy động giúp Ngân hàng nâng cao vị thế của mình trong
lòng thị trường.
Cáp Thị Ngọc – Tài chính ngân hàng
16
Trường Cao đẳng công nghệ Bắc Hà
Để đảm bảo cho việc thu hút khách hàng đến quan hệ giao dịch với
mình thì Ngân hàng phải tạo được niềm tin với khách hàng. Điều này được
thể hiện ở khả năng sẵn sàng thanh toán cho khách hàng. Khả năng thanh toán
của Ngân hàng cao chỉ khi Ngân hàng có nguồn vốn khả dụng lớn. Mặt khác
uy tín của Ngân hàng còn thể hiện ở khả năng cho vay và đầu tư của Ngân
hàng. Ngân hàng chỉ có thể cho vay những dự án lớn, thời hạn dài nếu như
Ngân hàng có nguồn vốn lớn và ổn định- Điều này phụ thuộc vào khả năng
huy động vốn của Ngân hàng.
Thứ tư: Vốn huy động quyết định năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
Để có thể chiến thắng trong cạnh tranh thì ngoài việc phải có chiến
lược cạnh tranh hợp lý thì yếu tố vế khả năng tài chính luôn giữ vai trò quyết
định cuối cùng. Nếu Ngân hàng có nguồn vốn khả dụng lớn thì có thể chủ
động mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế cả về qui mô, khối

…, không được sử dụng các công cụ thanh toán như: séc, uỷ nhiệm chi, lệnh
chi tiền… Ưu điểm lãi suất cao, lãi suất theo thị trường. Nhược điểm: mang
tính chất bất thường, đột suất.
TKTG có thông báo: mục đích của chủ tài khoản là hưởng lãi, điều kiện
để rút tiền là phải có số dư có, không xác định thời hạn, có thề rút tiền nhưng
phải thông báo theo thỏa thuận, chủ tài khoản không đc sử dụng các công cụ
tính toán. Ưu điểm: lãi suất cao, NH chủ động vì được thông báo rút tiền của
khách hàng.
Tài khoản tiết kiệm: mục đích của chủ tài khoản là hưởng lãi, số dư có,
thường là dài hạn và có mục đích cụ thể, tuy nhiên không được sử dụng công
cụ tính toán.
Tài khoản ký quỹ: với mục đích đảm bảo cho nghĩa vụ của khách hàng,
có số dư có, thời hạn phụ thuộc vào thời hạn phải hoàn thành nghĩa vụ đã cam
kết, và chỉ đc rút tiền khi đã thực hiện hoàn tất nghĩa vụ, nếu chủ tài khoản
không thực hiện thì ngân hàng thực hiện nghĩa vụ.
Cáp Thị Ngọc – Tài chính ngân hàng
18
Trường Cao đẳng công nghệ Bắc Hà
Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá: Đối với hoạt động huy động vốn
của các ngân hàng, khái niệm giấy tờ có giá được hiểu theo nghĩa hẹp, giấy
tờ có giá chỉ bao gồm các phiếu nợ do ngân hàng phát hành dưới dạng
chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, trong đó xác nhận quyền chủ nợ của người
sở hữu phiếu nợ và nghĩa vụ trả một số tiền nhất định của ngân hàng phát
hành vào một thời điểm xác định ghi trên phiếu nợ. Ví dụ như phát hành
chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động tiền gửi
của cá nhân, tổ chức ở trong nước và ngoài nước nếu được sự đồng ý của
thống đốc ngân hàng nhà nước.
1.2.4.2. Huy động vốn theo phân loại tiền
Huy động vốn theo phân loại tiền là một hình thức huy động làm đa
dạng hoá hình thức huy động. Bao gồm tiền gửi bằng VND và tiền gửi bằng

1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HUY ĐỘNG VỐN CỦA
NHTM
Huy động vốn là một hoạt động quan trọng trong các ngân hàng, tuy
nhiên nó lại bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau trong đó chia làm 2 nhóm
tác động chủ yếu là các yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan.
1.3.1. Các yếu tố khách quan
1.3.1.1. Chính sách về mặt lý thuyết ảnh hưởng như thế nào đến huy
động vốn
Có thể đề cập đến là quan điểm của đảng và nhà nước về xây dựng và
phát triển thị trường ngân hàng nói chung và huy động vốn nói riêng. Theo
báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về phương hướng,
nhiệm vụ kinh tế xã hội 5 năm (2011-2015) đưa ra định hướng cho chính sách
tiền tệ và tín dụng là: “…phát triển hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
đa dạng về sở hữu và loại hình tổ chức, áp dụng đầy đủ các thiết chế và chuẩn
mực quốc tế về quản trị ngân hàng. Đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá các ngân
hàng thương mại nhà nước. Nâng cao chất lượng tín dụng, khả năng sinh lời,
xử lý nhanh nợ đọng, giảm tỷ lệ nợ xấu xuống mức an toàn; tăng vốn tự có
của các ngân hàng thương mại đạt chuẩn mực quốc tế. Tạo điều kiện thuận lợi
cho dân cư và doanh nghiệp tiếp cận với các sản phẩm và tiện ích ngân hàng”.
1.3.1.2. Môi trường kinh tế - xã hội
Môi trường kinh tế - xã hội ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của
các ngành, các lĩnh vực. Đặc biệt là những tác động của tiến trình hội nhập
Cáp Thị Ngọc – Tài chính ngân hàng
20
Trường Cao đẳng công nghệ Bắc Hà
kinh tế quốc tế và thực thi các cam kết khi gia nhập tổ chức thương mại thế
giới đối với lĩnh vực ngân hàng. Từ khi gia nhập WTO, nền kinh tế nước ta
nói chung có nhiều biến chuyển.Trong đó, các cam kết ở lĩnh vực tài chính và
ngân hàng là khó khăn và nhiều nhạy cảm nhất bởi nó có liên quan tới tình
hình an ninh kinh tế của quốc gia. Việc ra đời nhiều ngân hàng có 100% vốn

1.3.2. Các yếu tố chủ quan
1.3.2.1. Chiến lược phát triển của ngân hàng
Hiện nay, đa số các NHTM đang trong quá trình cơ cấu lại toàn diện
nhất là cơ cấu lại tổ chức, cơ cấu lại vốn và đổi mới căn bản cơ chế quản lý,
đổi mới các hoạt động đối với các NHTM khối nhà nước và các TCTD khác.
Ngoài sự thay đổi này thì các NHTM trong những năm qua luôn có
những chiến lược riêng nhằm thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư. Để có
một chiến lược tốt thì ngân hàng cần xác định đúng điểm mạnh, điểm yếu, cơ
hội và thách thức đặt ra khi tình hình kinh tế có nhiều biến đổi. Bên cạnh đó
cần lưu ý tới các định hướng của ngân hàng về cơ cấu vốn.
Để làm tốt công tác huy động vốn thì ngân hàng cần có các chính sách
về giá cả, chính sách về lãi suất tiền gửi, chi phí huy động vốn… Khi lãi suất
tiền gửi tăng thì lượng vốn huy động nhiều hơn, song nó lại làm cho chi phí
tăng lên. Vì vậy, các ngân hàng cần có những tính toán cụ thể và có chiến
lược phát triển lâu dài đối với hoạt động huy động vốn.
Cáp Thị Ngọc – Tài chính ngân hàng
22
Trường Cao đẳng công nghệ Bắc Hà
1.3.2.2. Chất lượng nguồn nhân lực của ngân hàng
Có thể nói, ngân hàng là một trong những ngành có thay đổi nhanh
chóng và nhiều yếu tố nhất. Hệ thống chi nhánh, phòng giao dịch được mở
rộng, các hình thức marketing cũng diễn ra nổi bật… Bên cạnh những thay
đổi đó còn cần nhắc tới một yếu tố quan trọng tạo ra hình ảnh của ngân hàng
đó là yếu tố con người. Thứ nhất có thể kể đến trình độ của các cán bộ ngân
hàng. Sự đồng đều trong chuyên môn có thể làm cho các hoạt động được diễn
ra chuyên nghiệp và nhanh chóng hơn. Thứ hai, là thái độ của nhân viên đối
với khách hàng, điều này rất quan trọng bởi ngày nay yêu cầu của khác hàng
ngày càng đa dạng hoá và phức tạp đặc biệt những yêu cầu về thái độ tiếp xúc
với khách hàng. Nó có thể lôi kéo khách hàng đến gửi tiền làm tăng vốn huy
động và cũng có thể gây ra những tác động ngược lại gây hậu quả nghiêm

là yếu tố quan trọng nhất, có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của ngân
hàng. Chi phí này chính là số tiền mà ngân hàng phải trả cho các lượng vốn
huy động được, chi phí hoạt động cao hay thấp phụ thuộc vào mức lãi xuất
mà ngân hàng đưa ra, tất nhiên là lãi xuất huy động càng cao thì càng hấp dẫn
khách hàng. Nhưng cả lãi xuất huy động và lãi xuất cho vay đều là công cụ
cạnh tranh của ngân hàng và hai loại này lại có quan hệ phụ thuộc chặt chẽ
với nhau và có khi đối ngược nhau, nếu ngân hàng nâng lãi xuât huy động để
tăng cường huy động vốn thì cũng buộc phải nâng lãi xuất cho vay để đảm
bảo bù đắp chi phí huy động và kinh doanh có lãi. Như vậy, nâng lãi xuất huy
động quá cao thì lại đãn tới giảm khả năng cạnh tranh trong cho vay và đầu
tư. Yêu cầu đặt ra cho ngân hàng là phải làm sao đưa ra mức lãi xuất hợp lý,
vừa đảm bảo cạnh tranh trong huy động và cạnh tranh trong cho vay đồng
thời đảm bảo có lãi. Có thể thấy rằng, việc tối thiểu hoá chi phí huy động theo
tưng loại hình huy động là rất khó do những đặc điểm riêng của từng loại hình
vừa nêu trên. Cơ sở để ngân hàng hàng tối thiều hoá chi phí huy động ở đây là
sự hợp lý về cơ cấu vốn và sự cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn.
CHƯƠNG 2
Cáp Thị Ngọc – Tài chính ngân hàng
24
Trường Cao đẳng công nghệ Bắc Hà
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ HIỆU
QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN BẮC Á CHI NHÁNH KIM LIÊN
2.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẮC Á
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi sự phát triền của
ngân hàng, đến lượt mình sự phát triển của hệ thống ngân hàng nói chung trở
thành động lực thúc đẩy phát triển hoạt động kinh tế.
Ngày 01/09/1994 theo quyết định 183/QD-NH5 của thống đốc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam NHTMCP Bắc Á ra đời. Trụ sở chính của Ngân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status