Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phạm Long
MỤC LỤC
SV: Nguyễn Văn Ước Lớp: TCQT 51B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phạm Long
CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM)
1.Sự cần thiết của hoạt động tín dụng đối với các NHTM
1.1.Khái niệm hoạt động tín dụng
Trong nền kinh tế hàng hoá luôn tồn tại rất nhiều chủ thể kinh tế với chu
kỳ kinh doanh khác nhau. Vì vậy, tại mỗi thời điểm luôn có những chủ thể
kinh tế có vốn nhàn rỗi, đồng thời các chủ thể khác lại thiếu vốn do nhu cầu
đầu tư, sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Sự gặp gỡ hai chủ thể nói trên dựa
trên những điều kiện thoả thuận có lợi cho cả hai bên và dựa vào sự tín nhiệm
lẫn nhau của hai bên đã hình thành nên các quan hệ tín dụng.
Tín dụng là hình thức vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả. Theo
đó, người cho vay chỉ nhường quyền sử dụng chứ không nhường quyền sở
hữu cho người vay. Do đó, sau một thời gian nhất định theo thoả thuận, người
vay sẽ hoàn trả vốn vay, có kèm một khoản tăng thêm về giá trị gọi là lợi tức
khoản vay. Như vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và
người đi vay thông qua vận động giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới
hình thức tiền tệ hoặc hàng hoá.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn về vốn giữa ngân hàng với cá
nhân, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và các tổ chức tín dụng khác theo
nguyên tắc có hoàn trả. Tín dụng là loại tài sản chiểm tỷ trọng lớn nhất ở phần
lớn các ngân hàng thương mại, phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng.
Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có,
nguồn vốn huy động để cấp tín dụng. Hoạt động tín dụng ngân hàng có các
hình thức sau: cho vay, bảo lãnh, chiết khấu và cho thuê tài chính.
Ngân hàng cấp tín dụng dưới nhiều hình thức khác nhau, chiếm tỷ trọng
lớn trong đó là cho vay. Cho vay là nghiệp vụ chủ yếu trong hoạt động kinh
SV: Nguyễn Văn Ước Lớp: TCQT 51B
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phạm Long
người vay tiền. Với chức năng là trung tâm tín dụng của nền kinh tế, tín dụng
ngân hàng ngày càng phát triển với sự đa dạng hoá các hình thức cho vay.
Một cách cụ thể vai trò của tín dụng ngân hàng được thể hiện nổi bật
trên các phương diện sau:
- Thứ nhất: vốn vay từ ngân hàng đã bù đắp một phần vốn lưu động của
doanh nghiệp tạm thời thiếu, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được
diễn ra thường xuyên liên tục.
Thực tế trong sản xuất kinh doanh, không có doanh nghiệp nào có thể
tính toán, dự trù trước cho mình được một khối lượng vốn định mức chính
xác. Trong nền kinh tế thị trường, những thông tin, tín hiệu từ thị trường là rất
quan trọng để doanh nghiệp ra những quyết định liên quan đến các hoạt động
của mình. Vì vậy, tuỳ theo diễn biến của thị trường doanh nghiệp có thể tăng
khối lượng dự trữ cho sản xuất hoặc phải áp dụng các biện pháp nhằm đẩy
mạnh tiêu thụ sản phẩm trong điều kiện thị trường đang thuận lợi. Cũng có
khi trong một chu kỳ sản xuất, vì một hay nhiều yếu tố mà vòng quay của vốn
không trùng với chu kỳ sản xuất. Doanh nghiệp rơi vào tình trạng thiếu vốn
tạm thời. Khi đó, để đảm bảo có vốn kịp thời cho chu kỳ sản xuất tiếp theo
doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn vốn bổ sung từ tín dụng ngân hàng. Và tín
dụng ngân hàng đã phát huy tác dụng.
-Thứ hai: ngân hàng tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng hoạt động
sản xuất kinh doanh, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động.
Trong mối trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế, với mục tiêu lợi nhuận cần nắm bắt thời cơ, tận dụng
ưu thế vốn có của mình về mọi mặt: lợi thế so sánh của ngành trong nền kinh
tế, lợi thế so sánh của doanh nghiệp trong ngành… Theo đó, tuỳ thuộc vào
thời cơ, tín hiệu thị trường mà doanh nghiệp quyết định mở rộng quy mô sản
xuất kinh doanh. Muốn vậy, doanh nghiệp buộc phải có phương tiện tài chính
SV: Nguyễn Văn Ước Lớp: TCQT 51B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phạm Long
chiếm dụng vốn lẫn nhau giữa các doanh nghiệp là không thể tránh khỏi. Điều
này gây nên tình trạng thiếu vốn giả tạo ở một số doanh nghiệp. Với chức
năng là trung tâm tín dụng và trung tâm thanh toán của nền kinh tế, ngân hàng
đã có những biện pháp tích cực tác động vào quá trình thanh toán ở các doanh
nghiệp, mở rộng các hình thức cho vay, đáp ứng nhu cầu vốn. Do đó, ngân
hàng đã gián tiếp ngăn chặn và giảm tối đa hiện tượng chiếm dụng vốn lẫn
nhau, làm lành mạnh hoá hoạt động thanh toán, góp phần nâng cao chất lượng
tín dụng.
-Thứ tư: Đối với Nhà nước, thông qua hoạt động ngân hàng, Nhà nước
đã giám sát mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, giúp
Nhà nước hoạch định những chính sách kinh tế vĩ mô, chính sách tiền tệ hợp
lý, đáp ứng kịp thời những đòi hỏi của nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, ổn định tiền tệ, kìm chế và đẩy lùi lạm phát. Nói cách khác, tín
dụng ngân hàng như là một trong các công cụ của bàn tay vô hình của Nhà
nước- tham gia điều tiết nền kinh tế thị trường (thông qua các doanh nghiệp),
theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tóm lại, tuy tín dụng ngân hàng đã giữ một vị trí rất quan trọng đối với
hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng cũng như nền
kinh tế thị trường nói chung nhưng để cho hoạt động tín dụng thực sự đóng
vai trò như vậy trong giai đoạn tới thì vấn đề đặt ra là cần nâng cao, mở rộng
chất lượng tín dụng không những từ góc độ ngân hàng mà còn cả góc độ
doanh nghiệp, của nền kinh tế, để đảm bảo hiệu quả của đồng vốn, đảm bảo
khả năng tái tạo vốn của ngân hàng, doanh nghiệp và nền kinh tế.
2.Các hoạt động tín dụng của NHTM
2.1.Cho vay
2.1.1 Khái niệm
Cho vay là một quan hệ kinh tế phát sinh giữa các chủ thể trong nền kinh
SV: Nguyễn Văn Ước Lớp: TCQT 51B
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phạm Long
hàng và khách hàng có thể thoả thuận với nhau về hạn mức cho vay.
- Cho vay trả góp: là hình thức cho vay mà theo đó ngân hàng cho phép
khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn cho vay đã thoả thuận. Cho
vay trả góp thường áp dụng với các khoản vay trung và dài hạn, các khoản
vay tài trợ cho tài sản cố định hoặc hàng hoá lâu bền.
- Cho vay gián tiếp: là hình thức cho vay của ngân hàng thông qua các tổ
chức trung gian như tổ, đội, hội nhóm sản xuất, hội nông dân,…
* Phân loại theo kỳ hạn:
- Cho vay ngắn hạn: các khoản cho vay ngắn hạn có kỳ hạn dưới 1 năm.
Những khoản cho vay này thường được sử dụng rộng rãi trong việc tài trợ
mang tình thời vụ về vốn luân chuyển và tài trợ tạm thời cho các hoạt động
sản xuất kinh doanh.
- Cho vay trung, dài hạn: là các khoản vay có kỳ hạn từ 1- 5 năm là cho
vay trung hạn và trên 5 năm là cho vay dài hạn. Những khoản vay này thường
được sử dụng với mục đích tài trợ cho dự án, mở rộng sản xuất, nâng cấp tài
sản cố định.
2.2.Bảo lãnh
2.2.1.Khái niệm
Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên
bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài
chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả
thay.
2.2.2.Phân loại
* Phân loại theo phương thức bảo lãnh:
- Bảo lãnh trực tiếp: là loại bảo lãnh trong đó, ngân hàng cam kết sẽ trực
SV: Nguyễn Văn Ước Lớp: TCQT 51B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phạm Long
ứng trước tiền hàng cho người bán, người cung cấp. Bằng việc cam kết sẽ trả
lại số tiền ứng truớc cho người mua (khi người bán không thực hiện hợp
đồng), ngân hàng phát hành bảo lãnh đã tạo ra sự tin tưởng cho người mua và
đồng thời cũng giúp người cung ứng thoát khỏi tình trạng khó khăn tạm thời
về ngân quỹ.
- Bảo lãnh thanh toán: được sử dụng trong các hợp đồng mua bán thiết
bị hàng hoá trả chậm và còn gọi là bảo lãnh trả chậm. Quan hệ giữa người
mua và bán ở đây thực chất là quan hệ tín dụng thương mại, theo đó người
chấp nhận trả tiền hàng hoá theo kỳ hạn nợ cụ thể. Để bảo vệ mình trước rủi
ro không thanh toán đầy đủ và đúng hạn của người mua, người bán có thể yêu
cầu một bảo lãnh trả chậm của ngân hàng.
- Bảo lãnh dự thầu: mục đích của việc bảo lãnh này là bù đắp những
thiệt hại về thời gian, chi phí cho người tổ chức đấu thầu do những vi phạm
của bên đối tác liên quan (người tham gia dự thầu).
- Bảo lãnh vay vốn: là bảo lãnh ngân hàng do ngân hàng phát hành cho
bên nhận bảo lãnh về việc cam kết trả nợ thay cho khách hàng trong trường
hợp khách hàng không trả hoặc trả không đúng hạn, đầy đủ.
- Bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm: là loại bảo lãnh do ngân hàng
phát hành cho bên thụ hưởng bảo lãnh, đảm bảo khách hàng sẽ thực hiện
đúng các thoả thuận về chất lượng sản phẩm theo hợp đồng đã ký với bên thụ
hưởng.
* Phân loại theo điều kiện thanh toán của bảo lãnh:
- Bảo lãnh vô điều kiện: còn gọi là bảo lãnh theo yêu cầu, là loại bảo
lãnh mà điều kiện thanh toán của nó là người thụ hưởng bảo lãnh chỉ cần xuất
trình yêu cầu thanh toán của ngân hàng phát hành. Các văn bản đều do người
thụ hưởng đơn phương lập không cần sự chấp nhận của bên được bảo lãnh
hoặc bên thứ ba nào đó.
SV: Nguyễn Văn Ước Lớp: TCQT 51B
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phạm Long
hoá và dịhc vụ giữa khách hàng với nhau. Người bán (hoặc người thụ hưởng)
có thể giữ thương phiếu đến hạn đòi tiền người mua (người phải trả) hoặc
mang thương phiếu đến ngân hàng để xin chíêt khấu. Để thuận tiện cho khách
hàng, ngân hàng thường ký với khách hàng hợp đồng chiết khấu (cấp cho
khách hàng hạn mức chiết khấu trong kỳ). Khi cần chiết khấu khách hàng chỉ
cần gửi thuương phiếu lên ngân hàng xin chiết khấu. Ngân hàng sẽ kiểm tra
chất lượng thương phiếu rồi thực hiệc chiết khấu. Ngân hàng cũng có thể thực
hiện tái chiết khấu thương phiếu tại Ngân hàng Nhà nước để đáp ứng nhu cầu
thanh khoản.
Chiết khấu là một hợp đồng được phép truy đòi, vì vậy, khi ngân hàng
không thu được nợ của người mua thì có thể đòi tiền của người bán hoặc ở
những người liên quan trách nhiệm theo quy định của Pháp luật. Như vậy,
trách nhiệm thanh toán nợ cho ngân hàng không phải một chủ thể mà có thể là
nhiều chủ thể khác nhau.
Chiết khấu là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn vời thời hạn tối đa là 90 ngày,
điều này tạo điều kiện nhanh chóng cho việc giải phóng vốn cho ngân hàng,
nâng cao tính thanh khoản trong tài sản Có của ngân hàng. Mặt khác, khi thực
hiện chiết khấu, số tiền cấp cho khách hàng được chuyển sang tài khoản tiền
gửi. Số tiền này có thẻ chưa sử dụng toàn bộ, do đó tạo nguồn vốn cho ngân
hàng.
2.4.Cho thuê tài chính
Tín dụng thuê mua là một kiểu cho thuê tài sản chuyên dụng kèm theo
lời hứa sẽ bán lại về sau, chậm nhất là khi kết thúc hợp đồng, cho ngời thuê
theo giá thoả thuận từ đầu.
Về nguyên tắc, tín dụng thuê mua gồm 3 bên liên quan:
- Doanh nghiệp (người thuê): chọn lựa tài sản cần thuê ở một nhà cung
cấp
SV: Nguyễn Văn Ước Lớp: TCQT 51B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phạm Long
NHTM hiện nay.
3.Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng hoạt động tín dụng của
NHTM
Hoạt động tín dụng là một hoạt động vô cùng nhạy cảm, thay đổi rất
nhanh theo sự thay đỏi của nền kinh tế. Nó có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt
động thương mại, tiêu dùng. Vì vây, việc xét các yếu tổ ảnh hưởng đến hoạt
động tín dụng là điều vô cùng quan trọng.
3.1.Nhân tố khách quan
3.1.1.Nhóm chính sách vĩ mô của Nhà nước, môi trường kinh tế:
Hoạt động của mỗi NHTM chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường kinh
tế xã hội. Một ngân hàng dù có cố gắng đến mấy trong hoạt động kinh doanh
của mình nhưng nếu môi trường hoạt động kinh doanh không ổn định thì
cũng khó mà thành công. Chính vì vậy, việc nghiên cứu môi trường kinh
doanh là hoạt động thường xuyên của mỗi NHTM. Có thể xem xét ảnh hưởng
của môi trường kinh tế xã hội đến hoạt động tín dụng NHTM trên những khía
cạnh sau:
+ Môi trường kinh tế và những chính sách vĩ mô của Nhà nước
Môi trường kinh tế phù hợp và phát triển có thể tạo thuận lợi cho hoạt
động tín dụng. Một môi trường kinh tế lành mạnh, các chủ thể tham gia nền
kinh tế đang hoạt động có hiệu quả sẽ thúc đẩy mở rộng quy mô tín dụng,
chất lượng tín dụng.
Nhưng môi trường kinh tế cũng có thể có những thay đổi bất ngờ.
Chẳng hạn, có thể có những biến động về tỷ giá hoặc thị trường làm cho chủ
đầu tư bị bất ngờ, dẫn đến dòng tiền vào không như kế hoạch làm giảm khả
năng trả nợ cho ngân hàng. Những biến động này lại là hệ quả rất gần gũi của
những thay đổi trong chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Trong điều kiện
nước ta hiện nay, vai trò can thiệp, điều tiết của Chính phủ tạo môi trường
SV: Nguyễn Văn Ước Lớp: TCQT 51B
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phạm Long
hiện tốt nghĩa vụ và được bảo vệ quyền lợi. Vì vậy, môi trường pháp lý có
ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tín dụng của các NHTM.
Nếu hệ thống pháp luật không đồng bộ, đầy đủ và ổn đinh, việc thực thi
pháp luật chưa nghiêm sẽ tạo các khe hở trong quản lý tín dụng, gây ra lừa
đảo, chụp giật vốn vay của ngân hàng hoặc cán bộ ngân hàng lạm dụng tài sản
làm sai trái ảnh hưởng không tốt đến hoạt động tín dụng của ngân hàng. Nếu
hệ thống pháp luật hợ lý giúp các NHTM dễ dàng hơn trong việc xây dựng kế
hoạch kinh doanh của mình, xây dựng những quy trình tín dụng phù hợp sẽ
góp phần vào việc mở rộng hoạt động tín dụng.
+ Môi trường chính trị – xã hội:
Mối trường chính trị – xã hội ổn định sẽ là một nhân tố quan trọng thúc
đẩy hoạt động đầu tư và ngân hàng cũng có thể mạnh dạn mở rộng hoạt động
tín dụng cũng như các hoạt động khác. Các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng
cũng có môi trường để làm ăn ổn định và hiệu quả hơn. Vì vậy, điều này giúp
cho các ngân hàng có thể thu hồi nhiều lợi nhuận hơn từ hoạt động tín dụng.
Tác động của môi trường chính trị – xã hội tới chất lượng hoạt động tín dụng
không thường xuyên, nhưng khi có những biến động lớn thị tác động của nó
là vô cùng lớn.
Một sự thay đổi trong hệ thống chính trị hay nếu có bạo động có thể
làm cho các ngân hàng mất phần lớn hoặc toàn bộ các khoản tín dụng của
mình - điều này sẽ đẩy các ngân hàng đến bờ vực phá sản.
+ Những nhân tố bất khả kháng:
Trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng còn bị chịu tác động của những
nhân tố bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn, chiến tranh, sự bất ổn về chính
trị… Những nhân tố này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng trả nợ của các đơn
vị vay vốn và vì thế ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng.
Tóm lại, qua phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tín
SV: Nguyễn Văn Ước Lớp: TCQT 51B
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phạm Long
Ngược lại, khi nền kinh tế trong nước đang trong giai đoạn tăng trưởng, các
biến số kinh tế vĩ mô đều có dấu hiệu tốt, tình hình sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp phát triển sẽ là cơ hội tốt để thực hiện các kế hoạch tín dụng
của ngân hàng.
Tình hình thế giới cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh
của ngân hàng. Xu hướng toàn cầu hoá với sự phát triển của thương mại quốc
tế và sự di chuyển tự do hơn của các dòng vốn quốc tế làm cho hoạt động sản
xuất kinh doanh ngân hàng có những thay đổi mạnh mẽ.
Trong những năm gần đây, đặc biệt từ khi Việt Nam gia nhập WTO thì
sự cạnh tranh các hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong nước đang gặp
các thách thức vô cùng lớn. Các ngân hàng nước ngoài vừa có nhiều uy tín, có
tiềm lực vốn dồi dào nên việc họ đầu tư vào Việt Nam gây cho hoạt động tín
dụng của các NHTM gặp khó khăn trong việc tiếp cận các doanh nghiệp lớn.
Song nói cách khác, việc gia nhập WTO và xu hướng toàn cầu hoá lại tạo
điều kiện cho NHTM trong nước tiếp cận được với các đối tác khách hàng
mới, học hỏi kinh nghiệm từ các chuyên gia nước ngoài, tận dụng được công
nghệ phát triển trên thế giới để hoàn thiện hệ thống bank của ngân hàng.
Những điều này giúp cho ngân hàng có điều kiện thuận lợi phát triển, mở
rộng các hoạt động tín dụng, khiến cho hoạt động tín dụng đạt hiệu quả và có
độ an toàn tối đa.
Ngoài ra, các yếu tố thuộc về môi trường văn hoá xã hội, môi trường dân
số, địa lý cũng tác động không nhỏ đến hoạt động tín dụng.
Môi trường văn hoá xã hội được hình thành từ những tổ chức và nguồn
lực khác nhau có ảnh hưởng cơ bản đến giá trị xã hội như: cách thức nhận
thức, trình độ dân trí, trình độ văn hoá, lối sống, thói quen sử dụng và cất trữ
tiền tệ, sự hiểu biết của dân chúng về hoạt động ngân hàng.
Phương thức trao đổi giữa ngân hàng và khách hàng trên thị trường rất
SV: Nguyễn Văn Ước Lớp: TCQT 51B
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phạm Long
đức chung mà còn phải kiểm nghiệm qua những kết quả hoạt động trong quá
khứ, hiện tại và chiến lược phát triển trong tương lai. Thực tế kinh doanh đã
cho thấy, tính chân thật và khả năng chi trả của người vay có thể thay đổi sau
khi món vay được thực hiện. Khách hàng có thể lừa đảo ngân hàng thông qua
việc gian lận về số liệu, giấy tờ, quyền sở hữu tài sản, sử dụng vốn vay không
đúng mục đích, không đúng đối tượng kinh doanh, phương án kinh doanh.
Uy tín của khách hàng cũng là một yếu tố đáng quan tâm, uy tín của
khách hàng là tiêu chí để đánh giá sự sẵn sàng trả nợ và kiên quyết thực hiện
các nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng từ phía khách hàng. Uy tín của khách
hàng được thể hiện dưới nhiều khía cạnh đa dạng như: chất lượng, giá cả hàng
hoá, dịch vụ, sản phẩm, mức độ chiếm lĩnh thị trường, chu kỳ sống của sản
phẩm, các quan hệ kinh tế tài chính, vay vốn, trả nợ với khách hàng, bạn hàng
và Ngân hàng. Uy tín được khẳng định và kiểm nghiệm bằng kết quả thực tế
trên thị trường qua thời gian càng dài càng chính xác. Do đó, ngân hàng cần
phân tích các số liệu và tình hình trong suốt quá trình phát triển của khách
hàng với những thời gian khác nhau mới có kết luận chính xác.
Năng lực thị trường của doanh nghiệp
Năng lực thị trường của doanh nghiệp được lượng hoá theo các mặt:
Khối lượng sản phẩm tiêu thụ, chất lượng sản phẩm như thế nào? Có phù hợp
với thị hiếu của người tiêu dùng hay không? Vị thế của doanh nghiệp trên thị
trường? Quá khứ, hiện tại và tương lai phát triển của doanh nghiệp? Hệ thống
tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, mối quan hệ với các bạn hàng, với các
đối tác?
Nghiên cứu năng lực thị trường của doanh nghiệp cho biết khả năng mở
rộng đầu tư của doanh nghiệp cũng như định hướng đầu tư của doanh nghiệp
nhằm kiểm tra sự phù hợp của dự án hoạt động với khả năng của doanh
nghiệp.
SV: Nguyễn Văn Ước Lớp: TCQT 51B
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phạm Long
nghiệp – như đã xem xét ở trên. Nếu doanh nghiệp vay vốn làm ăn không
hiệu quả hoặc dự án không có tính khả thi thì việc hoàn trả các khoản vay là
vô cùng khó khăn, các ngân hàng sẽ không thể htu hồi các khoản nợ đúng hạn
được, chất lượng tín dụng của ngân hàng sẽ thấp. Trong những năm gần đây,
các đơn vị vay vốn, đặc biệt là các doanh nghiệp đã có những thay đổi theo
hướng tích cực, các dự án cũng được sàng lọc thẩm định kỹ càng trước khi
tiến hành đầu tư. Những điều này đã góp phần làm nâng cao chất lượng tín
dụng của ngân hàng.
3.2.Nhóm yếu tố chủ quan:
Ngân hàng là yếu tố chủ quan có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến hoạt
động tín dụng. Không chỉ quyết định chính sách tín dụng đúng đắn mà cũng
nâng cao khả năng, hình ảnh của ngân hàng trên thị trường. Các tác động từ
phía bản thân ngân hàng gồm: quy mô, kết cấu, tính ổn định các khoản tiền
gửi, năng lực tài chính, quy mô vốn chủ sở hữu của ngân hàng, khả năng vay
mượn của ngân hàng, quan hệ của ngân hàng với khách hàng, có ảnh hưởng
rất lớn đến chính sách tín dụng.
+ Chiến lược kinh doanh của ngân hàng
Trong nền kinh tế hiện đại, các doanh nghiệp nói chung và các NHTM
nói riêng muốn tồn tại và kinh doanh có lãi phải xây dựng được cho mình một
chiến lược kinh doanh có hiệu quả. Một chiến lược kinh doanh có hiệu quả sẽ
giúp ngân hàng có một phương hướng phát triển nhất quán, giúp ngân hàng
khai thác tốt nhất năng lực hiện có của đơn vị đồng thưòi nó cũng giúp cho
ngân hàng có thể thích ứng một cách nhanh nhất với những biến đổi trong
môi trường kinh doanh của mình. Chính vì vậy, công tác lập chiến lược kinh
doanh hiện được các ngân hàng rất coi trọng và nó có ảnh hưởng tới chất hoạt
động tín dụng.
+ Chính sách tín dụng của ngân hàng
SV: Nguyễn Văn Ước Lớp: TCQT 51B
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Phạm Long
phòng kia hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao, với mục đích chung là cho
vay an toàn và hiệu quả. Đồng thời, cũng cần có mối quan hệ chặt chẽ với các
cấp chính quyền, công an, toà án, viện kiểm soát… tạo điều kiện quản lý vốn
tín dụng có hiệu quả.
Nếu tất cả các khâu của quá trình cấp tín dụng đều được thực hiện tốt
nó sẽ giúp cho ngân hàng được lựa chọn được những dự án tốt để cấp tín
dụng cũng như tạo uy tín tốt cho ngân hàng trong lòng khách hàng.
Nói tóm lại, công tác tổ chức hoạt động tín dụng có thể hỗ trợ đắc lực
cho nhân viên tín dụng thực hiện tốt công việc của mình và nó có ảnh hưởng
quan trọng đến chất lượng hoạt động tín dụng của NHTM.
+ Chất lượng của công tác thẩm định dự án
Khi đến ngân hàng để xin được cấp tín dụng, khách hàng thường phải
mang đến một bộ hồ sơ về dự án mà họ sẽ tiến hành thực hiện hay là những
kế hoạch sử dụng vốn vay. Mỗi một món vay, trước khi phê duyệt ngân hàng
phải dựa trên kết quả thẩm định tín dụng.
Thẩm định tín dụng là việc ngân hàng thực hiện một loạt các nghiệp vụ
để thu thập thông tin, lựa chọn, phân tích và đánh giá tổng hợp đưa ra những
kết luận về mọi mặt: tư cách pháp lý, khả năng tài chính, tình hình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, hiệu quả của phương án xin vay, tình hình bảo
đảm tiền vay… Trên cơ sở đó đưa ra quyết định cho vay, đảm bảo khả năng
thu hồi vốn.
Như vậy, kết quả thẩm định tín dụng tốt thì việc cho vay có hiệu quả,
có khả năng thu hồi vốn cả gốc và lãi đúng hạn. Nếu chất lượng thẩm định
không tốt thì ngược lại.
Thẩm định tín dụng là phương pháp phân tích tổng hợp trên nhiều mặt
của quá trình sản xuất kinh doanh, chịu ảnh hưởng của các nhân tố phức tạp
tác động, đòi hỏi phải có sự nhanh nhạy, tính toán và cân nhắc chính xác, loại
SV: Nguyễn Văn Ước Lớp: TCQT 51B