Đánh giá tiềm năng sản xuất sạch hơn tại cụm công nghiệp Cơ khí đúc Tống Xá, xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định - Pdf 25

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã
nhận được rất nhiều sự giúp đỡ tận tình từ các thầy cô giáo trong Khoa Tài nguyên và
Môi trường và các cán bộ của xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu
trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Khoa Tài nguyên và Môi trường, Bộ
môn Quản lý môi trường; cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã truyền đạt cho tôi
những kiến thức và những kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình học tập
và nghiên cứu trên giảng đường đại học vừa qua.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới Th.S Cao Trường Sơn-
người đã dành nhiều thời gian, tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn tôi tận tình
về phương pháp nghiên cứu và cách thức thực hiện các nội dung của đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ của xã Yên Xá, huyện Ý Yên,
tỉnh Nam Định đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thực tập, cung cấp thông
tin, số liệu cần thiết phục vụ cho quá trình thực hiện và hoàn thiện đề tài này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới tập thể lớp MTB – K54, gia đình
và bạn bè đã luôn giúp đỡ, chia sẻ, động viên và khích lệ tôi trong suốt thời
gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
Trong quá trình thực hiện đề tài, do điều kiện về thời gian, tài chính và
trình độ nghiên cứu của bản thân còn nhiều hạn chế nên khi thực hiện đề tài
khó tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâm
đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để Khóa luận tốt nghiệp này
được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày … tháng năm 2012
Sv. Ninh Thị Lành
i
MỤC LỤC
PHẦN 5 57
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 57
5.1. Kết luận: 57

Bảng 4.4. Nguyên liệu sản xuất trung bình năm của cơ sở trong CCN CKĐ
Tống Xá Error: Reference source not found
Bảng 4.5. Cân bằng vật chất cho cả quy trình sản xuất CCN CKĐ Tống Xá
trong một năm 37
Bảng 4.6. Đặc trưng nước thải của CCN CKĐ Tống Xá, Yên Xá, Ý Yên, Nam Định
Error: Reference source not found
Bảng 4.7. Chi phí bên trong của cả CCN trong một năm. .Error: Reference source
not found
Bảng 4.8. Chi phí bên ngoài của cả CCN trong một năm Error: Reference
source not found
iii
Bảng 4.9. Xác định nguyên nhân dòng thải Error: Reference source not found
Bảng 4.10. Các cơ hội sản xuất sạch hơn của CCN CKĐ Tống Xá Error:
Reference source not found
Bảng 4.11. Bảng sàng lọc các cơ hội sản xuất sạch hơn Error: Reference
source not found
Bảng 4.12. Bảng tính NPV, IRR, PB khi xây dựng hệ thống tuần hoàn nước
Error: Reference source not found
Bảng 4.13. Bảng tính NPV, IRR, PB khi sử dụng lò ủ nhiệt bằng điện Error:
Reference source not found
iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất Error:
Reference source not found
Hình 2.2. Hàm lượng bụi trong không khí làng nghề tái chế nhựa Error:
Reference source not found
Hình 4.1. Tình hình sử dụng đất của các cơ sở sản xuất Error: Reference
source not found
Hình 4.2: Quy trình sản xuất của CCN CKĐ Tống Xá.Error: Reference source
not found

CKĐ Tống Xá (xã Yên Xá, huyện Ý Yên) có truyền thống gần 900 năm với
các sản phẩm đúc chủ yếu là các đồ gia dụng, các chi tiết phụ tùng máy, …
Làng nghề phát triển kèm theo các vấn đề môi trường đang đe doạ cuộc sống
1
nơi đây, hơi độc từ các lò nấu kim loại và nhiệt luyện, khí, bụi trong quá trình
gia công, làm sạch sản phẩm, đặc biệt, nước thải chứa kim loại, hoá chất từ
các lò đúc chưa được xử lý đều xả thẳng ra không khí, đất, nước,… Từ thực
trạng hoạt động tại làng nghề cho thấy, nếu muốn làng nghề được duy trì phát
triển bền vững và hiệu quả thì nhất thiết phải có các biện pháp khắc phục tình
trạng ô nhiễm môi trường. Để quản lý làng nghề tốt hơn, làng nghề Tống Xá đã
quy hoạch thành CCN gồm CCN 1 và CCN 2. Cụm 1 thành lập năm 1993 với
tổng diện tích là 20.148,5 m
2
gồm 14 công ty và DN, 10 hộ gia đình và có một
mảnh đất đang tranh chấp. Cụm 2 thành lập năm 2004 với tổng diện tích là
21.577 m
2
gồm 20 công ty và DN, 4 hộ gia đình (UBND xã Yên Xá, 2012).
CCN CKĐ Tống Xá là một trong những nơi đã áp dụng quy trình sản
xuất sạch hơn vào quá trình sản xuất nhằm tiết kiệm nguyên nhiên liệu và
giảm tác động xấu tới môi trường. Để đánh giá các lợi ích đạt được khi áp
dụng sản xuất sạch hơn vào quy trình sản xuất, tôi xin tiến hành đề tài:
“Đánh giá tiềm năng sản xuất sạch hơn tại cụm công nghiệp Cơ khí- đúc
Tống Xá, xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định”.
1.2.Mục đích, yêu cầu
 Mục đích
- Đánh giá hiện trạng sản xuất của CCN CKĐ Tống Xá, Yên Xá, Ý
Yên, Nam Định.
- Xác định và đánh giá tiềm năng SXSH tại CCN CKĐ Tống Xá, Yên
Xá, Ý Yên, Nam Định.

phân bố và phát triển làng nghề giữa các vùng của nước ta là không đồng đều,
thông thường tập trung ở những khu vực nông thôn đông dân cư nhưng ít đất
sản xuất nông nghiệp, nhiều lao động dư thừa lúc nông nhàn.
3
2.1.2. Đặc điểm chung của các làng nghề Việt Nam
Theo thống kê của Hiệp hội làng nghề Việt Nam, đến năm 2011, nước
ta có 2.790 làng nghề, riêng ở Hà Nội có 1.160 làng nghề. Làng nghề nước ta
phân bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông Hồng (chiếm khoảng 60%),
miền Trung (khoảng 30%) và miền Nam (khoảng 10%). Sự phát triển của
làng nghề đang góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các địa
phương. Tại nhiều làng nghề, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đạt từ
60% - 80% và ngành nông nghiệp chỉ đạt 20% - 40% (Nguyễn Văn Hiến,
2012).
Nhìn chung, làng nghề Việt Nam có một số đặc điểm chung sau:
* Nguyên liệu cho sản xuất.
Hầu hết các nguồn nguyên liệu vẫn lấy từ trực tiếp từ tự nhiên. Do sự
phát triển mạnh mẽ của sản xuất, việc khai thác và cung ứng các nguyên liệu
tại chỗ hay các vùng khác trong nước đang dần bị hạn chế. Các làng nghề chế
biến gỗ, mây tre đan trong những năm qua đòi hỏi cung cấp một khối lượng
nguyên liệu rất lớn, đặc biệt là các loại gỗ quý dùng cho sản xuất đồ gỗ gia
dụng và gỗ mỹ nghệ. Nhiều nguyên liệu chúng ta đã phải nhập từ một số nước
khác. Ví dụ, theo thống kê, làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ (Bắc Ninh),
hiện mỗi năm các hộ gia đình, cơ sở chế biến sử dụng khoảng 34.000m
3
gỗ
(Minh Huệ, 2013).
Sự khai thác bừa bãi, không có kế hoạch đã làm cạn kiệt tài nguyên và gây ảnh
hưởng tới môi trường sinh thái. Việc sơ chế các nguyên liệu chủ yếu do các hộ, các cơ sở
sản xuất tự làm với kỹ thuật thủ công hoặc các máy móc thiết bị tự chế lạc hậu. Do đó,
chưa khai thác hết hiệu quả của các nguyên liệu, gây lãng phí tài nguyên.

viên bằng cách truyền nghề trực tiếp theo kinh nghiệm của từng người. Quy
mô dạy nghề truyền thống còn quá ít về số lượng, chất lượng cũng chưa cao,
chưa thu hút được đông đảo các nghệ nhân cao tuổi tham gia truyền nghề
5
truyền thống cho thanh niên. Mặt khác, mạng lưới dạy nghề đã phát triển
rộng rãi trong cả nước với hơn 100 trường cao đẳng nghề, hơn 300 trường
trung cấp nghề và trên 1.000 cơ sở khác có dạy nghề, hầu hết các huyện đều
có trung tâm dạy nghề, rất nhiều trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên
nghiệp có hệ dạy nghề nhưng có rất ít trường và trung tâm đào tạo nghề truyền
thống, quy mô đào tạo cũng rất nhỏ và chất lượng chưa cao. Việc dạy nghề truyền
thống ở các trường này thường chưa gắn với nhu cầu của sản xuất, kinh doanh, do
đó nhiều người học xong vẫn không tìm được việc làm hoặc nơi tiếp nhận phải
tốn thêm thời gian, kinh phí để đào tạo lại,… (Phạm Liên, 2011).
Các hình thức tổ chức sản xuất của các làng nghề chủ yếu gồm: Tổ
chức sản xuất Hợp tác xã; DN tư nhân; hộ gia đình; CT.TNHH; công ty cổ
phần. Các hình thức này cùng tồn tại, tác động lẫn nhau trong điều kiện kinh
tế mới của nền kinh tế thị trường. Song, hiện tại, hộ gia đình vẫn là hình thức
tổ chức sản xuất phổ biến nhất trong các làng nghề Việt Nam.
* Thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Trước đây, về cơ bản thị trường này nhỏ hẹp, tiêu thụ tại chỗ (các vùng
nông thôn, các làng nghề) do đó giá thành cũng thấp. Từ khi nền kinh tế
chuyển sang cơ chế thị trường, cơ cấu kinh tế và quan hệ hệ sản xuất ở nông
thôn cũng dần thay đổi, điều này đã tác động mạnh mẽ đến tình hình sản xuất
và kinh doanh của các làng nghề, chúng dần thích ứng, đáp ứng các nhu cầu
của một nền kinh tế mới. Nhiều mặt hàng từ các làng nghề đã được nhiều thị
trường trong nước chấp nhận và vươn tới các thị trường nước ngoài, mang lại
nguồn thu đáng kể cho quốc gia, đặc biệt phải kể đến là các mặt hàng thủ
công mỹ nghệ (mây tre đan, hàng dệt, thêu ren, gốm…), đồ gỗ gia dụng, gỗ
mỹ nghệ… Hiện nay, thị trường xuất khẩu các mặt hàng truyền thống của
Việt Nam mở rộng sang khoảng hơn 100 quốc gia trên thế giới, trong đó có

vực và mang đậm nét đặc thù của hoạt động sản xuất theo ngành nghề và loại
hình sản phẩm. Cụ thể, tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, không
khí bị ô nhiễm do đốt nhiên liệu, do sự phân hủy yếm khí các chất hữu cơ có
trong nước thải, chất thải rắn (CO
2
, NH
3
, CH
4
…). Tại các làng nghề mây tre
đan, làm nón, tăm hương…, do khâu sấy chống mốc dùng diêm sinh đã gây
phát sinh một lượng lớn khí SO
2
.
Không khí tại các làng nghề sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ thường bị ô
nhiễm tiếng ồn do các máy khoan, máy cưa, đục, búa, …, bụi từ các khâu cưa
gỗ, trà, mài có kích thước nhỏ mịn có khả năng phân tán rộng, kết hợp mùi
với các loại dung môi độc hại từ các khâu hoàn thiện vécni, sơn gỗ, …
Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá: chất lượng
không khí bị suy giảm chủ yếu do khí thải từ đốt nhiên liệụ. Ở các làng nghề
khai thác đá, bụi phát sinh từ quá trình khai thác và chế tác đá là nguyên nhân
chủ yếu dẫn tới ô nhiễm không khí ở đây.
Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ gây ô
nhiễm không khí không chỉ do sử dụng nhiên liệu mà còn do sự phân hủy các chất
hữu cơ trong nước thải, chất thải rắn. Ở làng nghề này, quá trình đốt than đã tạo ra
lượng lớn xỉ.
Trong nhóm làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da, thì dệt nhuộm là
loại hình có nhu cầu hóa chất rất lớn gồm thuốc nhuộm các loại, xút, axit.
Nước thải bao gồm các hóa chất tẩy, thuốc nhuộm, sút, muối trung tính thải ra
từ quá trình tẩy trắng, nhuộm in vải. Cùng với đó là khí thải phát sinh từ các

chăn nuôi, giết mổ
Bụi, CO, SO
2
, NO
x
.
CH
4
BOD
5
, COD, SS,
tổng N, tổng P,
Coliform
Xỉ than, CTR từ
nguyên liệu
Ô nhiễm
nhiệt, độ
ẩm
2.Dệt nhuộm, ươm
tơ, thuộc da
Bụi, CO, SO
2
, NO
x
,
hơi axit, hơi kiềm,
dung môi
BOD
5
, COD, độ

Xỉ than (gốm sứ),
phế phẩm, cặn hóa
chất
Ô nhiễm
nhiệt
( gốm sứ)
4.Tái chế
-Tái chế giấy
-Tái chế kim loại
-Tái chế nhựa
-Bụi, SO
2
, H
2
S, hơi
kiềm
-Bụi, CO, hơi kim
loại, hơi axit, Pb, Zn,
HF, HCL, THC
-Bụi, CO, Cl
2
, HCL,
THC. Hơi dung môi
-Ph, BOD
5
, COD,
SS, tổng N, tổng P,
độ màu
-COD, SS, dầu mỡ,
CN

vụn
Ô nhiễm
nhiệt, tiếng
ồn, độ rung
Nguồn: Đặng Kim Chi, 2005
* Ô nhiễm không khí - Vấn đề nhức nhối ở các làng nghề tái chế, sản
xuất vật liệu xây dựng, khai thác đá, chế biến lương thực, thực phẩm, chăn
nuôi và giết mổ.
Đối với các làng nghề, ô nhiễm không khí bao gồm các dạng ô nhiễm
do bụi, do khí độc hại, ô nhiễm mùi và ô nhiễm tiếng ồn. Các làng nghề tái
chế mọc lên ngày càng nhiều, làm cho vấn đề ô nhiễm ngày càng trở nên
nghiêm trọng.
10
Bảng 2.2. Thải lượng ô nhiễm do đốt than tại làng nghề tái chế
Đơn vị: tấn/năm
Làng nghề
Lượng
than
Bụi CO SO
2
NO
2
HC
1. Đa Hội – Bắc Ninh 270.000 2.457,0
0
1,00 2.894,4 2.359,80 4,88
2. Vân Chàng - Nam Đinh 42.280 384,75 2,68 453,2 369,50 2,33
3. Xuân Tiến – Nam Định 250 2,28 0,075 2,68 2,19 0,01
4
4. Dương Ổ - Bắc Ninh 7.606 69,21 2,28 81,54 66,48 0,42

(Báo cáo môi trường quốc gia, 2008).
Khác với các nhóm làng nghề trên, sản xuất tại các làng nghề chế biến
lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ phát sinh ô nhiễm không khí
không chỉ do sử dụng nhiên liệu mà còn do sự phân hủy các chấ t hữu cơ
trong nước thải, chất thải rắn tạo nên các khí như SO
2
, NO
2
, H
2
S, NH
3
, CH
4

các khí ô nhiễm gây mùi tanh thối rất khó chịu, nhất là ở các cơ sở chăn nuôi
và giết mổ gia súc, gia cầm.
* Ô nhiễm nước - Trăm thứ nước thải không qua xử lý đang xả thải làm
hủy hoại môi trường các dòng sông, ao hồ, kênh rạch.
Kết quả khảo sát chất lượng nước thải của các làng nghề những năm
gần đây cho thấy, mức độ ô nhiễm hầu như không giảm, thậm chí còn tăng
cao hơn trước. Khối lượng và đặc trưng nước thải sản xuất ở các làng nghề
không giống nhau, phụ thuộc trực tiếp vào loại công nghệ và nguyên liệu
dùng trong sản xuất.
Chế biến lương thực, chăn nuôi, giết mổ gia súc, ươm tơ, dệt nhuộm
là những ngành sản xuất có nhu cầu nước rất lớn và cũng xả thải ra khối
lượng lớn nước thải với mức ô nhiễm hữu cơ cao đến rất cao. Trong đó phải
12
kể đến hoạt động sản xuất tinh bột từ sắn và dong giềng với 60 - 72% nước
thải (phát sinh từ khâu lọc tách bã và tách bột đen) có pH thấp, mức ô nhiễm

trong khu dân cư, không có hệ thống cống phân tách giữa nước thải sản xuất
và nước thải sinh hoạt, tất cả đều xả trực tiếp xuống sông Rùa gây ô nhiễm
nghiêm trọng (Hà Nội mới, 2013).
13
* Chất thải rắn: Bài toán chưa có lời giải
Chất thải rắn ở hầu hết các làng nghề chưa được thu gom và xử lý triệt
để, nhiều làng nghề xả thải bừa bãi gây tác động xấu tới cảnh quan môi
trường, gây ô nhiễm môi trường không khí, nước và đất. Thống kê năm 2008
của Trung tân Nghiên cứu và Quy hoạch Môi trường Đô thị – Nông thôn, Bộ
Xây dựng cho thấy, tổng lượng chất thải rắn nguy hại phát sinh từ các làng
nghề trên toàn quốc vào khoảng 2.800 tấn/ngày. Trong đó, các làng nghề tại
miền Bắc phát sinh nhiều chất thải nguy hại nhất, đặc biệt là các làng nghề tái
chế kim loại, đúc đồng với nguồn chất thải rắn phát sinh bao gồm bavia, bụi
kim loại, phôi, rỉ sắt, lượng phát sinh khoảng 1-7 tấn/ngày (Báo cáo môi
trường quốc gia, 2008).
Ví dụ, theo thống kê của Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm môi
trường Công an Hải Phòng: Trong 3 năm (2003-2006), đơn vị đã phát hiện
gần 2.300 container chứa gần 37.000 tấn ắc quy chì phế thải nhập vào cảng
Hải Phòng. Còn 2 năm (2008-2009) tiếp tục phát hiện thêm 340 container rác
phế liệu và hàng chục container ắc quy chì phế thải, vi mạch điện tử được
nhập vào cảng. Từ năm 2010 đến nay, cảng Hải Phòng vẫn còn lưu giữ hơn
300 container chất thải vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường (Thể thao & Văn
hóa, 2013).
Đối với các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và
giết mổ, chất thải rắn giàu chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học gây mùi xú uế.
Với sản lượng 52.000 tấn tinh bột/năm, làng nghề Dương Liễu phát sinh tới
105.768 tấn bã thải, phần không nhỏ cuốn theo nước thải gây bồi lắng hệ
thống thu gom, các ao hồ trong khu vực và gây ô nhiễm nghiêm trọng nước
mặt, nước dưới đất. Ngoài ra, việc đốt than làm nhiên liệu cũng tạo ra lượng
lớn xỉ (Báo cáo môi trường quốc gia, 2008).

bệnh hô hấp; làng nước mắm Thanh Hải (Thanh Hoá), tỷ lệ mắc bệnh là 15%,
15
bao gồm các loại bệnh như tiêu hoá, phụ khoa, đường hô hấp và cao huyết áp
(Chu Thái Thành, 2009).
Trước tình trạng ô nhiễm trên, ngày 2/9/2012 Phó Thủ tường Chính
phủ Hoàng Trung Hải vừa ký Quyết định số 1206/QĐ-TTg phê duyệt Chương
trình mục tiêu quốc gia khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường giai đoạn
2012 – 2015: Chính phủ đã quyết định dành 5.863 tỷ đồng cho Chương trình
mục tiêu quốc gia khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường trong giai đoạn
2012 – 2015. Trong đó, 2.420 tỷ đồng dành cho dự án khắc phục ô nhiễm ở
47 làng nghề (ngân sách trung ương chi 1.420 tỷ đồng, ngân sách địa phương
đóng góp 700 tỷ đồng, huy động từ các tổ chức, cá nhân 300 tỷ đồng) (Quyết
định số 1206/QĐ-TTg).
2.2.3. Hiện trạng quản lý môi trường tại các làng nghề
Có thể thấy trong những năm gần đây, môi trường làng nghề đang nổi
lên như một vấn đề nóng hổi, cấp bách. Cùng với việc gia tăng phát triển cả
về số lượng làng nghề và loại ngành nghề, ô nhiễm môi trường cũng ngày
càng tăng, nhiều nơi vượt quá tầm kiểm soát của các cấp chính quyền. Nhận
thức được vấn đề đó, bảo vệ môi trường làng nghề đã được đề cập tại nhiều
văn bản của Đảng, Nhà nước, ví dụ như Thông tư số 46/2011/TT-BTNMT
quy định về bảo vệ môi trường làng nghề, Chiến lược BVMT Quốc gia đến
năm 2010, Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam…
Ở góc độ văn bản quy phạm pháp luật, Luật BVMT năm 2005 và hàng
loạt văn bản dưới luật cũng đã được ban hành, trong đó có nêu trách nhiệm,
nghĩa vụ, quyền hạn của các bên liên quan trong công tác bảo vệ môi trường
làng nghề từ trung ương đến địa phương.
Một số địa phương có làng nghề cũng đã chú ý đến việc ban hành các
văn bản liên quan nhằm cụ thể hóa đường lối chính sách của Đảng và Chính
phủ ở địa phương mình. Ở mức độ triền khai thực tế, hàng loạt các chính sách
biện pháp cụ thể đã được đề ra và áp dụng ở các mức khác nhau tại các làng

ngừa, xử lý ô nhiễm cũng như BVMT làng nghề khó thực thi và đạt hiệu quả
mong muốn tới cấp cơ sở.
Không chỉ vậy, tình trạng chung ở phần lớn các làng nghề trong cả
nước là tập trung sản xuất theo quy mô hộ gia đình ngay tại nơi sinh sống, vì
vậy dẫn đến một số khó khăn, chẳng hạn như xử lý ô nhiễm môi trường.
Nhiều cấp chính quyền còn tỏ ra lúng túng trong việc giải quyết bài toán giữa
phát triển kinh tế và BVMT. Bất cập này hiện đang được một số địa phương
khắc phục bằng cách chỉ cho phép các cơ sở được tham gia sản xuất làng
nghề tại các khu vực nhất định cách biệt với khu dân cư. Điều này dẫn tới một
bất cập khác, đó là vấn đề quy hoạch. Để hạn chế ô nhiễm môi trường, nhiều
tỉnh thành phố đã có chủ trương xây dựng cụm công nghiệp làng nghề hoặc
khu sản xuất tập trung. Nhưng khi di chuyển, các cơ sở sản xuất không chỉ
chuyển bộ phận sản xuất mà lại di chuyển cả gia đình theo. Hậu quả làm cho
vấn đề ô nhiễm càng lan rộng, các khu quy hoạch mới thực chất không khác
gì khu giãn dân và là hình thức làm ô nhiễm gia tăng.
Ngoài ra, còn phải kể đến một loạt nguyên nhân khác làm vấn đề môi
trường ở làng nghề tiếp tục suy thoái. Thứ nhất, công tác thanh tra, kiểm tra
về môi trường cũng như thanh tra việc thi hành luật tại các làng nghề chưa
được thường xuyên và triệt để, xử phạt hành chính các hành vi gây ô nhiễm
môi trường tại làng nghề còn chưa nghiêm, mới chỉ dừng lại ở mức độ nhắc
nhở, chưa áp dụng được các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính. Các công
cụ giám sát, BVMT làng nghề như công cụ kinh tế, quan trắc chưa được
triển khai mạnh mẽ, các quan trắc môi trường làng nghề của các đề tài, dự án
đã góp phần cung cấp số liệu về diễn biến ô nhiễm nhưng lại thường chỉ tiến
hành một lần trong giai đoạn nghiên cứu mà ít khi có điều kiện triển khai tiếp
sau khi đề tài, dự án kết thúc. Trình độ nhận thức về BVMT còn yếu kém và
tính cộng đồng của làng nghề cũng góp phần làm gia tăng mức ô nhiễm.
Thiếu nhân lực và tài chính cũng là cản trở không nhỏ đối với công tác
BVMT làng nghề.
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status