I.MỞ ĐẦU
1.Tính thiết của đề tài
Nước ta hiện có rất nhiều các làng nghề khác nhau hoạt động, các làng nghề này
có vai trò khá quan trọng trong việc giải quyết công ăn việc làm, tạo nguồn thu nhập cho
người nông dân đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn. Tuy nhiên, do đặc thù
sản xuất nhỏ lẻ, tự phát, thiếu các điều kiện kỹ thuật nên hoạt động của các làng nghề đã
và đang gây ra những vấn đề nghiêm trọng cho môi trường xung quanh.
Những năm gần đây, vấn đề này đang thu hút sự quan tâm của Nhà nước cũng như
các nhà khoa học nhằm tìm ra các giải pháp hữu hiệu cho sự phát triển bền vững các làng
nghề. Đã có nhiều làng nghề thay đổi phương thức sản xuất cũng như quản lý môi trường
và thu được hiệu quả đáng kể. Song, đối với không ít làng nghề, sản xuất vẫn đang tăng
về quy mô, còn môi trường ngày càng ô nhiễm trầm trọng.
Sản xuất sạch hơn là một công cụ mới của quản lý môi trường không những chỉ
giúp hạn chế ô nhiễm môi trường mà còn đem lại hiệu quả kinh tế cho nhà sản xuất thông
quá việc tối ưu hoá các điều kiện sản xuất nhằm giảm thiểu lượng chất thải phát sinh và
nguyên nhiên liệu thô sử dụng.
Chính vì lý do đó chúng tôi lựa chọn thực hiện đề tài: “Đánh giá tiềm năng sản
xuất sạch hơn cho làng nghề tái chế Giấy Phong Khê – Bắc Ninh”
2.Mục tiêu đề tài
Nghiên cứu nhằm chỉ ra:
Hiện trạng sản xuất của làng nghề tái chế giấy Phong Khê
Chỉ ra các cơ hội cải thiện sản xuất và áp dụng sản xuất sạch hơn cho làng nghề
II.TỔNG QUAN
1.Khái quát về làng nghề
1.1 Làng nghề trên Thế giới
Trên thế giới, từ những năm đầu của thế kỷ XX cũng có một số công trình nghiên
cứu có liên quan đến làng nghề như: “Nhà máy làng xã” của Bành Tử (1922); “Mô hình
sản xuất làng xã” và “Xã hội hóa làng thủ công” của N.H.Noace (1928). Năm 1964, tổ
chức WCCI (World crafts council International – Hội đồng Quốc tế về nghề thủ công thế
giới) được thành lập, hoạt động phi lợi nhuận vì lợi ích chung của các quốc gia có nghề
thủ công truyền thống. [Ngô Trà Mai, 2008]
đứng ra giải quyết, buộc các cơ sở gây ô nhiễm phải đền bù cho cộng đồng và có những giải
pháp giảm thiểu ô nhiễm [Đặng Đình Long, 2005]…
Như vậy, cần thiết có sự phối hợp giữa Nhà nước, Xã hội dân sự và cộng đồng trong
quản lý môi trường cũng như giải quyết xung đột môi trường. Đây là giải pháp mang tính
bền vững cho sự phát triển của xã hội.
với khoảng 4.000.10
6
m
3
khí/năm [Nguyễn Thị Kim Thái, 2004].
1.1. Tổng quan về làng nghề Việt Nam
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm.
Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam. Nhiều loại hình sản
xuất phong phú, đa dạng hình thức tổ chức linh hoạt đã tạo ra lượng hàng hóa, giải quyết
công ăn việc làm tăng thu nhập cho bà con, góp phần phát triển kinh té xã hội của khu
vực. Trong những năm qua, đặc biệt là trong thời kì phát triển theo hướng kinh tế thị
trường, nhiều ngành nghề truyền thống đã được khôi phục, bảo tồn và phát triển cùng với
sự xuất hiệu quả kinh tế không cao. Hàng năm thường xuyên xuất hiện một số ngành
nghề mới đáp ứng nhu cầu thị trường.
Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hang ngàn năm trước đây,
nhiều nghề thủ công đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam, việc hình thành các làng
nghề bắt đầu từ những nghề ban đầu được cư dân tranh thủ làm lúc nông nhàn, những lúc
không phải vụ mùa chính.
Có rất nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau khi đề cập đến tiêu chí để một làng ở
nông thôn được coi là một làng nghề. Nhưng nhìn chung, các ý kiến thống nhất ở một số
tiêu chí sau:
- Giá trị sản xuất và thu nhập của từ phi nông nghiệp ở làng nghề đạt trên 50% so
với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng nghề trong năm; hoặc doanh thu
hàng năm từ ngành nghề ít nhất đạt trên 300 triệu đồng, hoặc:
- Số hộ và số lao động tham gia thường xuyên hoặc không thường xuyên, trực tiếp
Cho thây đặc thù văn hóa, mức độ bảo tồn của các làng nghề, đặc trưng cho các
vùng văn hóa lãnh thổ.Các nghề truyền thống như: gốm, đúc đồng, chạm khắc đá, mây
tre đan, sơn mài, khảm trai, làm nón,…
- Theo quy mô sản xuất:
Nhằm xá định trình độ công nghệ và quản lý sản xuất tại các làng nghề, qua đó có
thể xem xét tới tiềm năng phát triển, đổi mới công nghệ sản xuất và giảm thiểu ô nhiễm
môi trường.
- Theo ngành sản xuất, loại hình sản xuất:
Nhằm xác định nguồn và mức độ ưu tiêu thụ năng nguyên, nhiên liệu và phát sinh
chất thải sản xuất của làng nghề.
- Theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm:
Đây là cách phân loại phục vụ mục tiêu đánh giá đặc thù, quy mô các nguồn thải từ
hoạt động sản xuất của làng nghề.
- Theo mức độ sử dụng nguyên, nhiên liệu:
Nhằm xem xét đánh giá mức độ sử dụng tài nguyên tại các làng nghề, tiến tới có
được giải pháp quản lý và kỹ thuật trong sản xuất nhằm giảm lượng tài nguyên sử dụng
cũng như hạn chế tới tác động môi trường.
- Theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và phát triển:
Cách phân loại này xem xét tới các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng đối với
sự phát triển của các làng nghề.
1.1.3. Vai trò của các làng nghề truyền thống.
Với hơn 2000 làng nghề trong cả nước, gồm 11 nhóm ngành nghề, sử dụng hơn 10
triệu lao động, đóng góp hơn 40 ngàn tỷ đồng cho thu nhập quốc gia… các làng nghề
truyền thống đã và đang đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội
Việt Nam, đặc biệt là khu vực kinh tế nông thôn:
- Sản xuất tiểu thủ công nghiệp tận dụng nguồn nguyên liệu phong phú với giá thành
rẻ. Các nghề truyền thống chủ yếu sử dụng các nguyên liệu sẵn có trong nước, vốn là các
tài nguyên thiên nhiên điển hình của miền nhiệt đới: tre nứa, gỗ, tơ tằm, các sản phẩm
của nông nghiệp nhiệt đới (lúa gạo, hoa quả, ngô, khoai, sắn…), các loại vật liệu xây
dựng…
hóa lignin bằng clo nhưng phương pháp này đều gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy
các nhà hóa học đã tích cực nghiên cứu các quy trình thân môi trường để áp
dụng cho việc tẩy trắng giấy.
Đầu thập niên 1990, các nhà khoa học Mỹ đã phát triển quy trình khử mực in trên
giấy nhằm mục đích tái chế giấy báo và tạp chí cũ. Quy trình này dựa trên cơ sở
xúc tác enzym là xenluylô và tiêu tốn ít năng lượng, hiện nó đã được nhiều công
ty ở Mỹ và các nước khác áp dụng.
Các nhà khoa học cũng đang nghiên cứu các quy trình sinh học để áp dụng cho
sản xuất bột giấy, với mục đích giảm tiêu hao năng lượng và tăng độ bền của
giấy.
2.1. Tình hình sản xuất giấy trên Thế giới
Nhiều nhà máy sản xuất giấy và cactong dựa trên giấy tái sinh. Nhu cầu toàn thế giới
năm 1998 khoảng 140 triệu tấn. (các nước Tây Âu: 27%, Bắc Mỹ: 24%, Nhật Bản: 11%,
Trung quốc: 8%, Hàn quốc: 4%, các nước còn lại: 27%). Tình hình sử dụng giấy tái sinh
trên thế giới đạt 46% và của một số quốc gia trong năm 1998 được đưa ra trong bảng:
Bảng: Mức độ sử dụng và thu gom giấy loại ‘%’ của một số quốc gia trên thế
giới:
Nước
%
tái sử
dụng
%
thu gom
Nước
% tái
sử dụng
%
thu gom
Đan Mạch
Tây Ban Nha
USA
Thụy Điển
Phần Lan
Canada
90
75
61
58
53
40
18
5
58
75
65
48
54
45
58
42
Mục tiêu của nhiều quốc gia là đạt được 50% tái sử dụng sơ sợi trong sản xuất giấy
in báo, cactong sóng và phẳng vào năm 2000. Điều này đặt gánh nặng lên việc sử dụng
hợp lý các sản phẩm giấy và cactong đã qua sử dụng. thiết kế sản phẩn hợp lý, phân loại
tại nguồn, loại các tạp chất của xơ sợi đảm bảo an toàn Môi trường.Tái sử dụng: giấy báo
cũ, giấy mỏng đã in và không in, cactong sóngcũ.Có lý do để không tái sử dụng giấy và
cactong. Các sản phẩm có thể chứa các tạp chất đến mức chúng không còn tái sử dung.
Ví dụ: Giấy toilet và cactong đựng sữa. Các lý do kỹ thuật như là: khoảng cách vận
chuyển xa cũng giới hạn cho việc tái sử dụng giấy và cactong.
70-80 hiện vẫn còn đang tồn tại phổ biến, thậm chí ở cả những doanh nghiệp sản xuất
quy mô trên 50.000 tấn/năm. Nước thải, lignin là những vấn đề môi trường chính đối với
ngành sản xuất giấy. Việc xử lý là bắt buộc trước khi thải ra môi trường. Bên cạnh đó,
phát thải khí từ nồi hơi, chất thải rắn của quá trình nấu, bùn thải của hệ thống xử lý nước
thải cũng là những vấn đề môi trường cần được quan tâm. Hiện tại Chiến lược Phát triển
ngành giấy và bột giấy Việt nam khuyến khích việc thành lập các doanh nghiệp sản xuất
bột có công suất trên 100.000 tấn/năm, và sản xuất giấy trên 150.000 tấn/năm. Hiệp hội
Giấy Việt nam đang xúc tiến xây dựng tiêu chuẩn phát thải môi trường ngành, đồng thời
đề xuất cắt giảm hỗ trợ đối với các cơ sở sản xuất có quy mô dưới 30.000 tấn/năm. Ở Việt
nam, tái chế là một trong các loại hình làng nghề tiểu thủ công nghiệp được phát triển với
quy mô lớn ở một số tỉnh chiếm 6.2% tổng số lượng làng nghề. Chủ yếu tập chung ở các
Tỉnh và Thành phố: Hà Nội, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Hưng Yên, Nam Định. Tuy nhiên
làng nghề tái chế giấy Phú Lâm (H.Yên Phong) và Dương Ổ(H. Tiên Du) ở Bắc Ninh có
thể xem là 2 làng nghề điển hình trong loại hình làng nghề tái chế giấy. Không những về
quy mô sản xuất mà còn về trình độ công nghệ, trang thiết bị và tiềm lực lao động. Sản
phẩm chủ yếu là: Giấy dó, giấy vệ sinh, giấy ăn, giấy vàng mã và bìa cactong.
Bảng: Ước tính dòng thải hàng năm cho các làng nghề tái chế giấy điển hình.
STT
Loại chất
thải
Định mức thải trên 1
tấn sản phẩm
Lượng chất thải trong năm
Phú Lâm (tấn/năm)Dương ô (tấn/năm)
1 Nước thải 8,2 m³ 100923 m³/năm 129938 m³/năm
2 Bụi 1,83 Kg 24,400 31,45
3 Khí 6802 Kg 90691 116777,2
4 Chất thải rắn 212,06 Kg 2688,42 3461,34
5
Bột giấy, giấy
3. Khái quát về ô nhiễm môi trường làng nghề Việt Nam hiện nay
Vấn đề môi trường mà các làng nghề đang phải đối mặt không chỉ giới hạn ở trong
phạm vi các làng nghề mà còn ảnh hưởng đến người dân ở vùng lân cận. Theo Báo cáo
môi trường quốc gia năm 2008 với chủ đề "Môi trường làng nghề Việt Nam", Hiện nay
“hầu hết các làng nghề ở Việt Nam đều bị ô nhiễm môi trường (trừ các làng nghề không
sản xuất hoặc dùng các nguyên liêu không gây ô nhiễm như thêu, may ). Chất lượng môi
trường tại hầu hết các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn khiến người lao động phải tiếp
xúc với các nguy cơ gây hại cho sức khỏe, trong đó 95% là từ bụi; 85,9% từ nhiệt và
59,6% từ hóa chất. Kết quả khảo sát 52 làng nghề cho thấy, 46% làng nghề có môi trường
bị ô nhiễm nặng ở cả 3 dạng; 27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ”.
*Tình hình ô nhiễm nước thải của ngành giấy
Ngành công nghiệp sản xuất bột giấy và giấy là ngành tiêu thụ lượng nước lớn và do
đó cũng thải ra một lượng nước thải đáng kể. Các nguồn thải chính trong quá trình sản
xuất có thể tóm tắt trong bảng sau:
Bảng . Các nguồn thải từ các công đoạn và thiết bị khác nhau :
Công đoạn/ thiết bị Nguồn điển hình
Chuẩn bị nguyên liệu thô
Bã vỏ ướt
Bóc vỏ ướt
Nước vận chuyển gỗ
Làm sạch rơm, cỏ ướt
Nước rửa vụn nguyên liệu
Nghiền bột
Ngưng tụ dòng thổi
Ngưng tụ từ các bình nhựa thông
Rò rỉ và rơi vãi các dịch đen
Nước làm lạnh đệm từ các máy tinh chế
Tuyển bột không tẩy
Các vật thải chứa nồng độ sợi, sạn hay cát
cao.
phát thải/chất thải chỉ sau khi chúng đã phát sinh. Về thực tiễn, điều này đồng nghĩa với
xây dựng và vận hành các cơ sở xử lý nước thải, các thiết bị kểm soát ô nhiễm không khí
và các bãi chôn lấp an toàn - đây là những công việc rất tốn kém. Xét đến quy trình công
nghiệp cần phải hiểu rằng bất cứ quy trình hoặc hoạt động nào cũng không bao giờ đạt
được hiệu suất 100%. Luôn có tổn hao nào đó vào môi trường và không thể chuyển thành
dạng sản phẩm hữu dụng. Tổn hao này là sự lãng phí hay sự ô nhiễm luôn gắn liền với
sản xuất công nghiệp. Yếu tố này thường được nhắc đến như “cơ hội bị mất đi trong quá
trình sản xuất”. Tỷ lệ phát sinh chất thải thường rất cao và có một thực tế là rất ít nhà sản
xuất công nghiệp nhận ra điều này. Hiện nay tiếp cận xử lý cuối đường ống vẫn đang
được áp dụng phổ biến trong các cơ sở công nghiệp, nhưng khả năng tiếp nhận ô nhiểm
của môi trường đang gần như cạn kiệt và các đơn vị sản xuất công nghiệp dần nhận thức
được sự cần thiết phải xem xét lại các công đoạn sản xuất của mình. Điều này đã dẫn đến
sự xuất hiện khái niệm về một tiếp cận mang tính chủ động để giảm chất thải tại nguồn
trong quản lý chất thải. Tiếp cận chủ động này được gọi là Sản xuất sạch hơn (SXSH).
UNEP định nghĩa: “Sản xuất sạch hơn là quá trình ứng dụng liên tục một chiến lược
tổng hợp phòng ngừa về môi trường trong các quá trình công nghệ, các sản phẩm, và
các dịch vụ nhằm nâng cao hiệu suất kinh tế và giảm thiểu các rủi ro đối với con người
và môi trường.”
• Đối với quá trình sản xuất: SXSH bao gồm bảo toàn nguyên liệu và năng lượng,
loại trừ các nguyên liệu dộc hại và giảm lượng và tính dộc hại của tất cả các chất thải
ngay tại nguồn thải.
• Đối với sản phẩm: SXSH bao gồm việc giảm các ảnh hưởng tiêu cực trong suốt
chu kỳ sống của sản phẩm, từ khâu thiết kế dến thải bỏ.
• Đối với dịch vụ: SXSH dưa các yếu tố về môi trường vào trong thiết kếvà phát
triển các dịch vụ.
Mục tiêu của SXSH là tránh tạo ra chất thải ngay từ đầu và tránh ô nhiễm bằng cách
sử dụng tài nguyên, nguyên vật liệu và năng lượng một cách có hiệu quả nhất. Điều này
có nghĩa là thay vì bị thải bỏ sẽ có thêm một tỷ lệ nguyên vật liệu nữa được chuyển vào
thành phẩm.
4.2. Các bước thực hiện SXSH
nước, năng lượng, nguyên liệu hiệu quả hơn, chi phí xử lý cuối đường ống, chi phí loại
bỏ các chất thải rắn, nước thải, khí thải.
- Nâng cao hiệu suất hoạt động của nhà máy
- Nâng cao mức ổn định sản xuất và chất lượng sản phẩm
- Giảm sử dụng tài nguyên thiên nhiên thông qua các biện pháp thu hồi và tái sử dụng chất
thải.
- Tái sử dụng các bán thành phẩm có giá trị
- Cải thiện môi trường làm việc có liên quan tới sức khỏe và an toàn lao động cho công
nhân.
- Giảm ô nhiễm
- Tạo nên một hình ảnh tốt hơn về doanh nghiệp, nâng cao tính linh hoạt và khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp.
- Chấp hành tốt hơn các quy định về môi trường, giúp các ngành công nghiệp xuất khẩu
đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về môi trường.
- Tiếp cận tài chính dễ dàng hơn.
- Nâng cao hiểu biết về quá trình sản xuất, các chi phí, các vấn đề về môi trường trong nội
bộ doanh nghiệp và nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm của công nhân thông qua
sự tham gia trực tiếp của họ vào quá trình SXSH.
4.3. Các số chỉ thị về sản xuất sạch hơn cho ngành giấy
Các số chỉ thị sản xuất sạch cung cấp các thông tin vềc hiệu quả thực hiện của các
nhà máy trong một số khâu vận hành.
Phần lớn các số chỉ thị này liên quan đến phần đầu vào nào đó ở công đoạn chế biến
như: tiêu thụ nguyên liệu sợi, nước, năng lượng, hơi nước, các hóa chất… Ở các công
đoạn khác thì các số chỉ thị sản xuất sạch liên quan đến phát sinh các chất thải để có được
các đầu ra theo mong muốn, như: BOD, COD, các chất rắn lơ lửng, các khí ô nhiễm…
Để có thể tiến hành so sánh giữa các nhà máy cần hiểu rõ quy trình sản xuất, trong
đó đặc biệt quan tâm các vấn đề chính sau:
+ Mức tiêu thụ nước ngọt cụ thể: Các nhà máy sản xuất bột giấy và giấy có mức tiêu
thụ lượng nước rất lớn, việc sử dụng nước ngọt để sản xuất nếu không được kiểm soát sẽ
gây tốn tài nguyên nước, chi phí nước sử dụng, đồng thời thải ra một lượng đáng kể nước
mẻ, đòi hỏi nhiều thời gian nghiên cứu, nhưng lại giúp cho các doanh nghiệp có thể đánh
giá đúng mức về tình hình sản xuất hiện tại để có thể áp dụng các giải pháp
SXSH phù hợp.
Aquatech (1997) đã từng trình bày vấn đề mức chuẩn cho việc áp dụng SXSH trong
một báo cáo trình cho Tập đoàn bảo vệ môi trường Australia. Aquatech nhận định mức
chuẩn có tiềm năng tạo điều kiện đánh giá khách quan các kết quả của SXSH. Mức chuẩn
cho phép so sánh hiệu suất giữa các ngành công nghiệp với nhau trong cùng một khu vực
thực hiện theo một thời gian nhất định. Aquatech đã thực hiện SXSH và áp dụng các chỉ
số đo mức chuẩn, theo đó hiệu suất ngành giấy của Australia được so sánh với các nước
cụ thể khác như Canada, Mỹ, và Đức. Kết quả là có thể rút ra được các nhận xét về các
mặt ưu, khuyết của từng công đoạn sản xuất, từ đó có giải pháp cải tiến quy trình sản xuất
hay thay đổi công nghệ sản xuất phù hợp.
Ngoài ra còn nhiều dự án áp dụng SXSH khác cho ngành giấy ở các nước Trung
Quốc, Canada…
6. Tình hình nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, chương trình SXSH hiện đã được phổ biết khá rộng rãi. Nhiều nhà
máy đã ứng dụng SXSH và đạt được lợi ích kinh tế - môi trường cao, như nhà máy giấy
Linh Xuân, hay công ty giấy Xuân Đức, Vĩnh Huê… Bên cạnh đó cũng có nhiều nghiên
cứu nhằm tìm kiếm các giải pháp SXSH thích hợp và đạt hiệu quả cao. Viện công nghiệp
giấy và xenlulô có nhiều đề tài về chủ đề này như:
• “Nghiên cứu sản xuất bột giấy bằng công nghệ sạch hơn đồi với nguyên
liệu là cây ngắn ngày” – Đề tài cấp bộ năm 1996.
• “Nghiên cứu công nghệ tẩy trắng bột giấy sử dụng ôxy – kiềm” – Đề tài
cấp nhà nước năm 2000 – 2001.
• “Nghiên cứu công nghệ sản xuất bột giấy, lignin và đường xyloza từ
nguyên liệu bã mía và rơm lúa sử dụng môi trường dung môi hữu cơ và
chất xúc tác” – Đề tài cấp bộ năm 2001.
III. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu.
1.1 Đối tượng.
- Đánh giá tiềm năng sản xuất sạch hơn cho làng nghề tái chế Giấy Phong Khê –Xã
- Sử dụng cân bằng vật chất
- Sử dụng các định mức phát thải
* Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu sẽ được xử lý và trình bày trên phần mêm Excel
IV. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
1. Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của xã Phong Khê, Tp - Bắc Ninh.
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
- Làng nghề giấy Phong Khê đã có truyền thống sản xuất giấy từ hàng trăm năm
trước, đầu những năm 90 của thế kỉ XX, đã bắt đầu lắp đặt những dây truyền sản xuất
giấy công nghiệp.
Xã Phong Khê có tổng diện tích tự nhiên là 548,67 ha, trước đây thuộc huyện Yên
Phong( Bắc Ninh). Đến tháng 8/2007 đã sáp nhập vào thành phố Bắc Ninh. Xã cách trung
tâm thành phố 3km về phía tây, có vị trí địa lý tiếp giáp với:
• Phía Bắc giáp với xã Đông Phong của Huyện Yên Phong.
• Phía Nam giáp với phường Võ Cường
• Phía Đông giáp với Khúc Xuyên
• Phía Tây giáp với xã Vân Tương,xã Phú Lâm của huyện Tiên Du
Xã Phong Khê có tuyến đường sắt chạy qua,tiếp giáp với đường QL1A và có QL18 (Hạ
Long - Nội Bài),tạo điều kiện giao lưu thuận lợi.
- Địa hình của xã tương đối bằng phẳng thuộc vùng thấp trũng của tỉnh . có con sông
Ngũ Huyện Khê cung cấp nước tưới và là nơi chứa nước thải chủ yếu của làng nghề.
1.2 Dân cư và điều kiện kinh tế xã hội
*Dân cư
Dân số tính đến ngày 20/12/2010 toàn xã có 9522 khẩu, 2227 hộ. Cả xã chia thành 4 thôn
là Dương Ổ, Ngô khê, Châm Khê, Đào Xá.
* Điều kiện kinh tế - xã hội
- Sản xuất nông nghiệp
+ Trồng trọt
Diện tích đất canh tác bình quân theo đầu người tại xã tương đối thấp ( khoảng 366
m2 / người) và ngày càng giảm do quy hoạch khu công nghiệp và đất bị ô nhiễm.