ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự NHIÊN
*********
TÊN ĐỂ TÀI
NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ x ử LÝ NHIỆT NHẰM
NÂNG CẤP CHẤT LƯỢNG MỘT s ố LOẠI ĐÁ BÁN QUÝ
CỦA VIỆT NAM(ZIRCON, THẠCH ANH)
MÃ s ố : QT - 07 - 42
Chủ trì để tài: PG S.TS. Nguyễn Ngọc K hói
HÀ NỘI - 2007
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự NHIÊN
*********
TÊN ĐỂ TÀI
NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ x ử LÝ NHIỆT NHẢM
NÂNG CẤP CHẤT LƯỢNG MỘT SỐ LOẠI ĐÁ BÁN QUÝ
CỦA VIỆT NAM(ZIRCON, THẠCH ANH)
MÃ s ố : QT-#7-42
Chủ trì để tài: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Khôi
Các cán bộ th am gia: ThS. Nguyễn Thị Minh Thuyết
TS. Nguyễn Thùy Dương
BÁO CÁO TÓM TẮT
a. Tên để tài: Nghiên cứu công nghệ xử lý nhiệt nhằm nâng cấp chất lượng một sô
loại đá bán quý của Việt Nam (zircon, thạch anh), M ã số: QT- 07 - 42
b. Chủ tri đề tài: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Khôi
c. Các cán bộ tham gia:
- ThS. Nguyễn Thị M inh Thuyết
- TS. Nguyễn Thùy Dương
d. Mục tiéu và nội dung nghiên cứu:
Muc tiêu nehiên cứu:
(1) Xác lập các đặc trưng chất lượng ngọc của một số loại đá bán quý của Việt
/ ' / 1 ưC :t ' - G
h ọ c I l .
{ Ị k h o a h o c :TỊ
\ ■
M IỀU T R Ư Ỏ M G
(iS.ISWI
. J i^rv d i 'l à u
4
SUMMARY
a. Title of the Project: Research on the heat treatment technology to enhance some
semiprecious gemstones of Viet Nam (zircon and quartz), code: QT - 07 - 42
b. Head o f the Project: Nguyen Ngoc Khoi, Assoc. Prof, PhD.
c. Participants:
- Nguyen Thi Minh Thuyet, Ms.
- Nguyen Thuy Duong, PhD.
d. Objectives and contents:
Objectives
(1) To establish gemquality characteristics of some semiprecious gemstones of
Viet Nam (zircon and quartz).
(2) To establish suitable heat-treatment technological processes to enhance these
semiprecious gemstones.
Contents:
(1) To collect a set of samples of semiprecious gemstones zừcon and quartz
from some main deposits of Vietnam.
(2) To study gemological features and gemquality characteristics of collected
semiprecious gemstones.
(3) To investigate and experiment heat-treatment technological processes to
enhance these gemstones.
e. Obtained results:
(1) The gemquality characteristics of Vietnam semiprecious gemstones zircon
Việt Nam có tiềm nàng khá phong phú về các loại đá quý khác nhau, trong đó
có nhiều loại đá bán quý khác nhau như zircon, thạch anh, peridot, Tuy vậy, trong sô
các sản phẩm khai thác được thì loại có thể chế tác để sử dụng ngay lại rất hạn chế.
Phần lớn nguyên liệu khai thác từ các mỏ đều có chất luợng thấp hoạc khống đạt chất
lượng, ở các nước có công nghộ đá quý phát triển sản phẩm khai thác đá quý từ các mỏ
đểu phải trải qua quá trình xử lý để nâng cấp chất lượng bằng các phương pháp khác
nhau trước khi được đưa vào sử dụng.
Trên thế giới các phương pháp xử lý đá quý được chia thành 3 nhóm:
- Các phương pháp xử lý nhiệt
- Các phương pháp chiếu xạ
- Các phương pháp xử lý hóa chất
Trong số các phương pháp trên thì phương pháp xử lý nhiệt là được sử dụng
nhiều nhất.
Khoa Địa chất có các nhà khoa học có uy tín đã nhiều năm nghiên cứu trong
lĩnh vực đá quý như GS.TSKH Phan Trường Thị, các PGS.TS. Nguyễn Ngọc Trường,
Ngụy Tuyết Nhung, Nguyễn Ngọc Khôi, Gần đây Khoa Địa chất đã được trang bị
thiết bị xử lý nhiệt khá hiện đại là lò nung nhiệt độ cao Carbolite HTF 18/4. Đây là cơ
sở để Khoa Địa chất triển khai Đề tài “Nghiên cứu cồng nghệ xử lý nhiệt nhằm nâng
cấp chất lượng một số loại đá bán quý của Việt Nam (zircon, thạch anh)” .
Báo cáo được trình bày trong 4 chương:
Chương 1. Tổng quan về các phưang pháp xử lý đá quý
Chương 2. Cơ sở khoa học công nghệ xử lý nhiệt
Chương 3. Nghiên cứu công nghệ xử lý nhiệt zừcon Việt Nam
Chương 4. Nghiên cứu công nghệ xử lý nhiệt thạch anh Việt Nam
Kèm theo báo cáo là 27 hình vẽ và ảnh minh hoạ. Theo quy định chung, ở phần
đầu, trước báo cáo chính còn có phần báo cáo tóm tất bàng tiếng Việt và tiếng Anh.
Trong quá trình thực hiện Để tài, tập thể tác giả đã nhận được sự chỉ đạo thường
xuyên và kịp thời của lãnh đạo Khoa Địa chất, của các phòng ban và lãnh đạo Trường
Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, sự góp ý chân thành của các đồng
7
1.2. Phương pháp xử lý nhiệt
Bản chất của phương pháp xử lý nhiệt là dùng nhiệt độ cao và môi trường tác
dụng lên đá quý, làm thay đổi tính chất (trạng thái hoá trị) và đặc điểm phân bố của các
nguyên tô' tạo màu trong viên đá, dẫn đến sự thay đổi vẻ màu sắc và độ tinh khiết của
đá quý.
Ngày nay, phương pháp xử lý nhiệt được hầu hết các nước sử dụng để nâng cấp
chất lượng nhiều loại đá quý, trong đó có thạch anh, zữcon vì những lý do sau đây:
o Phương pháp xử lý nhiệt chỉ làm điểu mà tự nhiên đã làm, tức là mô phỏng
đúng những gì đã diễn ra trong tự nhiên.
o Nếu viên đá tiếp tục nằm sâu trong lòng đất, trong nó cũng sẽ diễn ra những
thay đổi như trong quá trình xử lý nhiêt.
9
o Mầu sắc tạo nên sau xử lý nhiệt là ổn định dưới tác dụng của nhiệt độ và theo
thời gian.
o Trong quá trình xử lý nhiệt không có chất gì được cho thêm, cũng như không
có gì được lấy ra khỏi viên đá. Cấu trúc của viên đá vẫn được bảo tồn.
o Phương pháp này không gây hại gì đối với sức khoẻ con người.
Ngoài kỹ thuật xử lý nhiệt thông thường, gần đây công nghệ này đã có những
bước tiến mới. Đó là kỹ thuật xử lý kèm theo khuyếch tán chất tạo màu, kỹ thuật xử lý
kim cương nhóm không màu ở nhiệt độ và áp suất rất cao.
1.3. Phương pháp chiếu xạ
Bản chất của phương pháp chiếu xạ đá quý là tác dụng lên chúng bàng các bức
xạ điện từ khác nhau: tia cực tím sóng ngắn (5eV), tia X (lO.OOOeV) và tia y
(l.OOO.OOOeV), trong đó tia Y được sử dụng nhiều nhất. Dưới tác dụng của các bức xạ
này có thể hình thành các tâm màu (tâm điện tử hoặc tâm lỗ trống) dẫn tới sự thay đổi
về màu sắc của đá quý.
Để xử lý đá quý bàng phương pháp này người ta sử dụng các máy gia tốc khác
nhau. Màu tạo ra theo phương pháp này trong một số đá quý là tương đối ổn định (ví dụ
như màu lam trong topaz), trong khi ở một số loại đá quý khác chúng lại thường kém
Ổn định (như màu vàng của saphir chiếu xạ) và có thể bị nhạt đi theo thời gian và dưới
Trong phương pháp này, người ta dùng các vật liệu có tính chất quang học tương
tự như loại đá quý cần xử lý để lấp đầy vào các khe nứt, lỗ trống còn sót lại trong chính
viên đá đó.
Ví dụ, các khe nứt trong kim cương, ruby thường được lấp đầy bằng thuỷ tinh có
chiết suất cao, emerald thường được hàn bàng chất dẻo,
1.3.4. Khoan laser
Trong kỹ thuật này người ta dùng một tia laser xuyên thẳng vào các bao thể sẫm
màu trong viên đá, bắn phá chúng và hút ra nhằm làm tăng độ tinh khiết của chúng.
Phương pháp này thường được áp dụng chủ yếu đối với kim cương.
Như trên chúng tôi đá đề cập, tuỳ thuộc vào các loại đá quý, đặc điểm chất lượng
của chúng và tuỳ thuộc vào điều kiện về cơ sở vật chất mà người ta áp dụng các phương
pháp xử lý khác nhau. Trong điều kiện Việt Nam còn nhiều khó khăn trong việc tiếp
cận các phương pháp xử lý hiện đại và trong khuôn khổ của đề tài là vói các loại đá quý
zircon, thạch anh và peridot chúng tôi đã lựa chọn phương pháp xử lý nhiệt để tiến hành
các nghiên cứu thực nghiệm của mình. Phương pháp này có ưu điểm là rẻ tiền, dễ áp
dụng và sản phẩm sau xử lý được thị trường chấp nhận.
11
Chương 2
C ơ SỞ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ x ử LÝ NHIỆT
Phương pháp xử lý nhiệt đã được chúng tôi lựa chọn để nghiên cứu đề xuất giải
pháp công nghệ nâng cấp chất lượng zircon, thạch anh của Việt Nam, do tại Khoa Địa
chất (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên) - đơn vị thực hiện để tài, đã được Đại học
Quốc gia Hà Nội trang bị thiết bị xử lý nhiệt (lò đốt nhiệt độ cao HTF 18/4 của hãng
Carboỉite - Anh) khá hiộn đại từ năm 2006.
2.1. Bản chất phương pháp xử lý nhiệt
Bản chất của phương pháp xử lý nhiệt là sử dụng nhiệt độ cao và môi trường xử
lý thích hợp tác dụng lên đá quý để làm thay đổi tính chất (hoá trị) và sự phân bố của
các nguyên tố tạo mầu, dẫn đến sự thay đổi về mầu sắc (và độ tinh khiết) của viên đá
[12]. Tác dụng của nhiệt độ lên mầu sắc chủ yếu thể hiện ở sự giãn nở thể tích (không
gian nguyên tử) của tinh thể đá quý, thúc đẩy các quá trình khuyếch tán các nguyên tố
• Lò gas
• Lò dầu
• Lò than (bảng 2.1)
Bảng 2.1. Một số kiểu lò khác nhau dùng trong xử lý nhiệt
Kiểu lò Nhiên liệu
Nguồn nhiệt Nhiệt độ tối đa (°c)
Lò gas
Khí gas Gas + không khí
1600-1700
Ôxy + gas 1700-1750
Oxy + gas + khổng khí 1800-1850
Axetilen + oxy 2800
Than cốc + không khí
1000-1200
Lò đốt ngọn Rắn Than lignite + không khí
1400-1600
lửa
Than củi + không khí 900-1000
Lỏng Diesel + không khí
1500-1600
Diesel + không khí + oxy
1750-1800+
Lò điện
Disilic molipden 1700
Graphit
2550
Lò cao tần
Sóng cao tần
1900+
13
Eurotherm, có thể đặc được tới 16 chương trình khác nhau (hình 2.2).
Hình 2.2. Bộ điều khiển nhiệt độ tự
dộng Eurotherm kèm theo lò HTF 18/4
Ưu điểm chủ yếu của các lò điện trở so với các lò gas là gọn nhẹ, có thế vận hành
trong một thời gian dài (giờ, ngày, tháng) ở nhiệt độ ổn định đặt trước mà không cần sự
có mặt của người vận hành (loại điều chỉnh tự động theo chương trình đặt trước).
Môi trường xử lý có thể là mõi trường ôxi hoá hoặc môi trường khử. Để tạo dược
môi trường thích hợp người ta có thể thổi khí (ôxi hoặc hydro) trực tiếp vào buồng đốt
hoặc sử dụng các loại hoá chất khác nhau trộn lẫn với đá quý trong quá trình nung.
2.3. Quy trình công nghệ xử lý nhiệt tổng quan
Một quy trình công nghệ xử lý nhiệt đá quý nói chung gồm các công đoạn sau đây
[18]:
1) Làm sạch mẫu trước xử lý
2) Phân loại và tuyển chọn mẫu
3) Xác định các thông sô' xử lý (nhiệt độ cực đại, tốc độ tăng giảm nhiệt độ, thời
gian ủ nhiệt )
4) Chuẩn bị các chất phụ gia
15
5) Nạp mẫu
6) Nung xử lý
7) Làm sạch mẫu sau khi nung
2.3.1. Làm sạch mẫu trước xử lý
Hầu hết các mẫu đá quý đều chứa các tạp chất ngoại lai khác nhau, chúng có phản
ứng khác nhau trong quá trình xử lý nhiệt. Một sô' chất nằm ngay trên mặt mẫu, trong
khi các chất khác lại thâm nhập sâu vào lòng các tinh thể chủ qua các khe nứt, các vết
vỡ trên bề mật. Các tinh thể thạch anh, zircon có thể chứa một lượng đáng kể các loại
bao thể khác nhau: rắn, lỏng hoặc hỗn hợp. Chúng cần phải được xác định chính xác và
có các cách xử lý thích hợp trước khi đưa vào xử lý. Những phần không thích hợp (chứa
nhiều khe nứt, nhiều bao thể các loại khó loại bỏ được trong quá trình xử lý nhiệt ) có
thể loại bỏ bầng các phương pháp khác nhau: cơ học hoậc hóa học hoặc phối hợp cả hai
Trước mỗi lần xử lý nhiệt cần xác định các thông sô' của quy trình xử lý, dựa trên
chủng loại, số lượng và các dặc điểm của mẫu cần xử lý Những thông số quan trọng
nhất của mỗi một quy trình xử lý nhiệt là:
- Nhiệt độ nung. Nhiệt độ nung được xác định dựa trên các yếu tố: đặc điểm của
loại mẫu sẽ xử lý, đặc điểm của môi trường
- Tốc độ tăng và hạ nhiệt. Tuỳ thuộc vào kiểu lò được sử dụng mà người ta xác
định tốc độ tăng và hạ nhiệt tối ưu cho cả quy trình. Lựa chọn tốc độ sao cho tránh tạo
ra hiện tượng sốc nhiệt có thể sẽ dẫn đến làm rạn nứt mẫu.
- Thời gian xử lý. Thời gian xử lý ở một nhiệt độ ổn định chọn trước được tính toán
dựa trên kích thước trung bình của lô mẫu cần xử lý, vào hệ số khuyếch tán của ôxy từ
các khí khác nhau (trong các lò có hệ thống khống chế chê độ môi trường xử lý).
- Nồng độ ôxy trong môi trường nung
- Kiểu cốc nung sẽ sử dụng. Kiểu buồng lò, vật liệu làm cốc nung và vị trí của mẫu
trong buồng lò cũng cần xác định trước mỗi quy trình xử lý.
2.3.4. Chuẩn bị các chất phụ gia
Các chất phụ gia được sử dụng để tránh làm nứt mẫu và tạo môi trường cần thiết.
Sau khi đã chọn được các chất (hoặc hỗn hợp) phụ gia thích hợp rồi, mẫu được nhúng
hẳn vào chúng hoặc người ta phết hỗn hợp phụ gia (thường được pha chế giống như bột
nhão) lên mật mẫu. Trong xử lý nhiệt người ta thường sử dụng các chất phụ gia sau đây.
- Tetraborat natri (Na2B40 7.H20 , hay còn gọi là borac): là chất phụ gia được sử
dụng và từ lâu nhất và nhiều nhất. Bột borac mầu trắng được nhào trong cốc bằng nước
cất, có thể pha lẫn với các chất khác, tạo thành hỗn hợp dạng bột nhão hoặc sơn pha. Đá
quý nguyên liệu được nhúng chìm hản vào hỗn hợp đó, hoặc được quét lên mặt.
17
■-J n ụ C Quoc G I A H À N Ô I
•■J.VG TÃ r / TH:Ị N 3 TIN THỰ V IÊ N
- Bicacbonat natri (Na2C 0 3, còn có tên gọi là bột nướng): cũng có khi được sử
dụng để ngăn cho đá khỏi bị nứt vỡ.
- Một sô' chất óxy hóa ở trạng thái cứng cũng được sử dụng để tăng nồng độ của
ôxy. Các chất này thường được trộn lẫn với các axit thích hợp thành dung dịch nhão.
thay đổi từ vài giờ đến vài ngày, tuỳ theo từng quy trình xử lý. Đây là thời gian để nhiệt
độ tác động đến mẫu nung và dẫn đến những thay đổi cần thiết trong mẫu.
- Hạ nhiệt. Công đoạn hạ nhiệt bắt đầu từ khi nhiệt độ bất đầu giảm xuống sau
công đoạn ủ nhiệt, cho đến khi đạt tới nhiệt độ cần thiết. Cũng giống như ở công đoạn
tăng nhiệt, hạ nhiệt độ nhanh có thể gây sốc nhiệt làm nứt vỡ đá và cốc nung. Trong
thực tiễn xử lý nhiệt, người ta thường hạ nhiệt bằng cách tắt lò và để cho lò nguội dần.
Tốc độ tăng và hạ nhiệt được biểu thị bằng tỷ sô' giữa nhiột độ và thời gian, ví dụ:
25°c/phút, 60°c/phứt. Công đoạn gia công nhiệt được biểu thị bằng thời gian (phút
hoặc giờ) tại một nhiệt độ ổn định, ví dụ: 3h tại 1650°c.
2.3.7. Làm sạch mẫu sau khi xử lý nhiệt
Mẫu sau xử lý cần phải được làm sạch bằng các phương pháp cơ học và hóa học
để loại bỏ các hoá chất bám vào mẫu trong quá trình xử lý. Sau đó mẫu được đưa phân
chọn lại trước khi đưa vào chế tác hoặc tiêu thụ.
19
Chương 3
NGHIÊN cứu CÔNG NGHỆ x ử LÝ NHIỆT ZIRCON VIỆT NAM
3.1. Đặc điểm chung của khoáng vật zircon
Tên gọi zircon bắt nguổn từ từ ả - rập zarqun có nghĩa là “mầu đỏ son”, hoặc có
thể từ tiếng Ba Tư rnrgun, có nghĩa là “có mầu vàng”, Các từ này sau được nói chệch
thành "jargoon", một thuật ngữ để chỉ loại zừcon mầu nhạt. Loại zircon vàng được gọi
là hyacinth, một từ có nguồn gốc từ Đông Ấn; vào thời Trung cổ tất cả các đá mầu vàng
có xuất xứ từ Đổng An đều được gọi là hyacinth, nhưng đến nay thuật ngữ này chỉ dùng
để chỉ loại zircon mầu vàng.
3.1.1. Thành phần và cấu trúc tinh thể
Zircon là thành viên duy nhất trong nhóm nesosilicat được sử dụng làm đá quý,
có công thức hoá học ZrSi04. Trong nhóm nesosilicat này các tứ diện S i04 độc lập liên
kết với nhau chỉ bởi các liên kết ion. Do các tứ diện không liên kết với nhau để tạo ra
các mạch, chuỗi, vòng, tấm hoặc khung nên dạng tinh thể thường gãp ở đầy là dạng
đẳng thước và hiện tượng song tinh không đặc trưng. Cấu trúc của nesosilicat thường bị
chi phối bởi kích thước của các cation nằm giữa các tứ diện. Nhôm thường thay thế silic
loại mầu lơ, không mầu, nâu đỏ và nâu vàng được sử dụng nhiều nhất. Zừcon không
21
mầu thường được chế tác kiểu kim cương để tâng “lửa” và đây là chất thay thế tự nhiên
tương đối rẻ của kim cương. Zữcon mầu nâu phớt đỏ hoặc vàng rất phổ biến trên thị
trường đá quý nhưng đắt nhất và đẹp nhất chính là zữcon mầu ĩơ. Các loại zircon mầu
khác (vàng, lục, hồng, tím) đôi khi cũng có mật trên thị trường (hình 3.3).
Các loại zircon khác (thường là không đạt chất lượng làm đá quý) thì được khai
thác để lấy kim loại zirconium. Kim loại zirconium được dùng làm bột mài và vật liệu
làm refractory. Các lò làm từ ZrO được sử dụng để làm nóng chảy platin ở nhiệt độ cao
hơn 1755 °c. Kim loại zừconi thì được dùng trong các lò phản ứng hạt nhân nhờ khả
năng hấp thụ neutron của nó.
Khoáng vật zừcon ZrSi04 là nguồn cung cấp chính kim loại zừconium. Nó được
tìm thấy trong các bãi cát ven biển ở nhiều nới trên thế giới, đặc biệt là ở Australia, Ấn
Độ, Brasil, Mỹ và là một khoáng vật nặng phổ biến trong các đá trầm tích.
Loại zircon trong suốt, có mầu đẹp và kích thước đủ lớn từ lâu đã được sử dụng
làm đá quý. Loại này chủ yếu được khai thác từ các sa khoáng sông suối dưới dạng sản
phẩm đi kèm của các mỏ saphir, đặc biệt là ở Đông Nam Á (Thái Lan, Campuchia, Việt
, Nam) và Sri Lanka, ngoài ra còn được khai thác ở Myanmar, Australia và New
Zealand. Mầu sắc thường gặp của loại zừcon dùng làm đá quý là mầu lục, đỏ, vàng,
xám, da cam, nâu phớt đỏ và lơ.
3.1.3. Các biến loại của zircon dùng làm đá quý
Tuỳ theo mầu sắc và độ trong suốt, zircon được dùng làm đá quý có các biến
loại với tên gọi như sau (hình 3.4):
Hình 3.3. Khoáng
vật zircon với các
màu khác nhau
22
- Hyacinth hoặc Jacinth - loại zircon mầu vàng, da cam, nâu, nâu phớt đỏ. Hầu
hết đều được gọi chung là loại zircon nâu phớt đỏ.
- Jargon hoặc Jargoon - loại zircon mầu xám nhạt hoặc vàng nhạt.
da trời đậm đến không mầu hoặc xám phớt vàng; Các mầu khác:
23
cùng một mầu nhưng có tông đậm nhạt khác nhau
Phát quang:
Thường trơ; loại mầu vàng mù tạc và vàng da cam có thể phát
mầu sấc khác nhau dưới sang ngấn cực tím; loại mầu vàng xỉn có
thể có lân quang dưới sang dài. Dưới tác dụng lâu dài của tia cực
tím mạnh một vài loại zừcon không mầu có thê trở lại mầu nâu
ban đầu
Phổ hấp thụ:
Có rất nhiều dải và vạch mảnh đặc trưng cho phổ hấp thụ do TR
Chế tác:
Chế tác hình oval và tròn kiểu hỗn hợp {phần trên là kiểu kim
cương và phần dưới là đáy tầng) là kiểu mài giác (facet) thường
gặp nhất, mặc đù kiểu chế tác zircon cũng có khi được sử dụng.
Zircon cần chế tác sao cho hiệu ứng nhân đôi ít thây nhất nếu
không nó sẽ bị mờ (kém trong).
Các tính chất của zừcon thay đổi rõ rệt theo trạng thái biến đổi cấu trúc tinh thể:
- Loại zircon thấp có thể gần như đẳng hướng quang học và có chiết suất 1,78 -
1,85 với giá trị lưỡng chiết từ 0,0 đến 0,008 và tỷ trọng từ 3,9 đến 4,1. Thông số ô
mạng: 6,71 và 6,09. Zircon thấp hầu hết có mầu lục và đục, tạo thành do sự biến đổi
ZrSi04 thành Z r0 2 và S i02.
- Zircon trung bình có chiết suất trong khoảng 1,85 - 1,93 (đối với tia thường) và
1,84 - 1,97 (đối với tia bất thường), lưỡng chiết từ 0,008 đến 0,043, và tỷ trọng từ 4,1
đến 4,65.
- Zircon cao có chiết suất thay đổi từ 1,92 đến 1,94 (thường là 1,925) đối với tia
thường và cao tói 1,97 - 2,01 đối với tia bất thường. Giá trị lưỡng chiết thường là 0,059
nhưng cũng có thể nhỏ tới 0,036. Zừcon cao cũng có khoảng dao động tỷ trọng lớn hơn
(4,65 - 4,8), thông thường là 4,70. Thông số ô mạng: 6,60 và 5,98.
3.1,5. Cơ chế tạo mầu của zircon