Đề án môn học
Lời nói đầu
Trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp sản xuất, hàng tồn kho thường là
khoản mục có giá trị lớn, các nghiệp vụ phát sinh xoay quanh hàng tồn kho
thường rất phong phú, phức tạp. Hơn nữa, kế toán hàng tồn kho là công việc
chứa đựng rất nhiều yếu tố chủ quan và phụ thuộc rất lớn vào các soát xét của
Ban Giám đốc doanh nghiệp trong các ước tính kế toán. Các sai phạm xảy ra
đối với hàng tồn kho thường có ảnh hưởng tới rất nhiều các chỉ tiêu trên báo
cáo tài chính. Do đó, kiểm toán hàng tồn kho được đánh giá là một công việc
quan trọng và hoàn thiện quy trình kiểm toán hàng tồn kho có ý nghĩa lớn
trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán tại các công ty kiểm toán.
Thủ tục kiểm tra chi tiết là một trong những thủ tục quan trọng trong kiểm
toán báo cáo tài chính, đặc biệt là quy trình kiểm toán hàng tồn kho. Kiểm tra
chi tiết được thực hiện bằng các biện pháp kĩ thuật cụ thể để kiểm toán từng
khoản mục hoặc nghiệp vụ tạo nên số dư trên khoản mục hay loại nghiệp vụ
liên quan đến hàng tồn kho. Nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc vận
dụng thủ tục kiểm tra chi tiết đối với khoản mục hàng tồn kho, được sự chỉ
bảo tận tình của Giảng viên Thạc sĩ. Bùi Thị Minh Hải, em đã hoàn thành đề
án môn học chuyên ngành kiểm toán của mình với đề tài: “ Tìm hiểu về vận
dụng thủ tục kiểm tra chi tiết đối với khoản mục hàng tồn kho trong
kiểm toán báo cáo tài chính”.
Nội dung của đề án bao gồm ba phần chính:
Chương 1: Lí luận chung về thủ tục kiểm tra chi tiết đối với khoản mục
hàng tồn kho trong kiểm toán báo cáo tài chính.
Chương 2: Thực trạng quy trình thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết đối với
khoản mục hàng tồn kho trong kiểm toán báo cáo tài chính tại một số công ty
kiểm toán Việt Nam.
Phạm Thị Hiền Kiểm toán 49A
1
Đề án môn học
Chương 3: Nhận xét và các giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện quy trình
tổng hợp bằng việc kết hợp các phương pháp kiểm toán chứng từ và ngoài
chứng từ theo trình tự và cách thức kết hợp xác định tổng hợp các cách xác
minh là các con số này.
- Thử nghiệm tuân thủ: là phương pháp dựa vào kết quả của hệ thống
kiểm soát nội bộ khi hệ thống này tồn tại và hoạt động có hiệu lực. Để khẳng
Phạm Thị Hiền Kiểm toán 49A
3
Đề án môn học
định sự tồn tại và hoạt động có hiệu lực này khảo sát, thẩm tra và đánh giá hệ
thống kiểm soát nội bộ.
Xét về đối tượng cụ thể của kiểm toán tài chính là các báo cáo kế toán và
các bảng tổng hợp tài chính đặc biệt khác. Các bảng tổng hợp này chứa đựng
những mối quan hệ kinh tế tổng quát, vừa phản ánh cụ thể từng loại tài sản,
từng loại nguồn vốn với những biểu hiện về kinh tế, pháp lý và được lập ra
theo những trình tự xác định với những chuẩn mực cụ thể trong quan hệ với
các nghiệp vụ phát sinh. Do vậy, kiểm toán tài chính thường là kiểm toán liên
kết và phải hình thành những trắc nghiệm với việc sử dụng liên hoàn các
phương pháp kiểm toán cơ bản để đưa ra ý kiến đúng đắn về các bảng tổng
hợp này.
Trắc nghiệm được hiểu là các cách thức các định trong việc vận dụng các
phương pháp kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ vào việc xác minh các
nghiệp vụ, các số dư tài khoản hoặc các khoản mục cấu thành bảng khai tài
chính.
Giáo trình Kiểm toán tài chính (NXB ĐH Kinh tế quốc dân, 2006) chia
các trắc nghiệm kiểm toán thành ba loại trắc nghiệm cơ bản:
- Trắc nghiệm công việc: là cách thức và trình tự rà soát các nghiệp vụ
hoặc các hoạt động cụ thể trong quan hệ với sự tồn tại và có hiệu lực của hệ
thống kiểm soát nội bộ, trước hết là hệ thống kế toán. Trắc nghiệm công việc
bao gồm hai loại:
+ Trắc nghiệm độ vững chãi: đây là cách thức, trình tự rà soát những
(Giáo trình Kiểm toán tài chính, NXB ĐH Kinh tế quốc dân, 2006).
• Ý nghĩa chung của thủ tục kiểm tra chi tiết trong kiểm toán BCTC:
Thực hiện các thủ tục kiểm tra chi tiết HTK để đối chiếu số liệu phát sinh
của các tài khoản HTK và các khoản chi phí liên quan để phát hiện những sai
sót trong hạch toán HTK, đối chiếu số dư trên tài khoản HTK với số liệu kiểm
kê thực tế đồng thời xem xét trên sổ theo dõi vật tư sử dụng ở phân xưởng sản
Phạm Thị Hiền Kiểm toán 49A
5
Đề án môn học
xuất. KTV cũng cần có sự khảo sát xem có sự thay đổi trong việc sử dụng
phương pháp tính giá của doanh nghiệp và phát hiện những sai sót trong quá
trình tính toán.
1.2.2 Các bước vận dụng thủ tục kiểm tra chi tiết trong kiểm toán BCTC
Bước 1: Lập kế hoạch kiểm tra chi tiết
• Xác định mục tiêu của các biện pháp kĩ thuật
Các biện pháp kĩ thuật được lựa chọn có thể nhằm mục tiêu:
Thu thập bằng chứng kiểm toán về sai phạm trong yếu các cơ sở dẫn liệu
thuộc các mục tiêu kiểm toán hoặc ước tính các giá trị chênh lệch kiểm toán
với những cơ sở dẫn liệu của Báo cáo tài chính đang chứa đựng khả năng sai
phạm trọng yếu.
• Lựa chọn các khoản mục trong tổng thể
Việc lựa chọn này bao gồm việc xác định số lượng các khoản mục (số
lượng mẫu hay quy mô mẫu) và chọn mẫu khoản mục để kiểm toán ( mẫu
chọn).
Bước 2: Lựa chọn các khoản mục để kiểm tra chi tiết
Có thể áp dụng các biện pháp kiểm tra chi tiết với từng khoản mục trong
tổng số hoặc với một nhóm những khoản mục. Nếu áp dụng các biện pháp
kiểm tra chi tiết không phải với tất cả các khoản mục trong một tài khoản thì
phải chấp nhận mức độ không chắc chắn của bằng chứng kiểm toán thu được.
Khi không lựa chọn tất cả các khoản mục từ một tài khoản thì có thể lựa
- Xác nhận mở: những thư xác nhận mở yêu cầu cũng cấp thông tin chứ
không yêu cầu minh chứng cho những dữ liệu do khách hàng cung cấp.
- Xác nhận đóng: chỉ yêu cầu trả lời đúng hoặc sai để chứng minh các dữ
liệu cần xác nhận.
Xác nhận đóng có hai loại tùy theo yêu cầu cần minh chứng:
+ Xác nhận chủ động ( Xác nhận khẳng định): Mọi thư xác nhận gửi đi
đều cần được thu về không phân biệt người xác nhận có tán thành với những
thông tin đưa ra hay không.
Phạm Thị Hiền Kiểm toán 49A
7
Đề án môn học
+ Xác nhận thụ động ( Xác nhận phủ định): Thư xác nhận gửi đi chỉ cần
thu về nếu như người xác nhận không tán thành với những thông tin đưa ra.
• Kiểm tra thực tế:
Đây là kĩ thuật được áp dụng rộng rãi trong kiểm toán tài sản nói chung
và kiểm toán HTK nói riêng. Thủ tục kiểm toán bao gồm quá trình quan sát
những thủ tục kiểm kê của khách hàng và trực tiếp kiểm kê chọn mẫu đối
chiếu với hồ sơ kho.
Chi tiết các bước công việc của quá trình kiểm kê sẽ được đề cập ở các
nội dung sau.
Bước 5: Đánh giá kết quả kiểm tra chi tiết và xử lý các chênh lệch kiểm
toán
Các phát hiện bao gồm các sai sót không chỉ về tài khoản mà còn về
chức năng hoạt động của hệ thống KSNB, hệ thống thông tin và có thể về tính
khách quan của ban giám đốc và năng lực của đội ngũ nhân viên.
Các loại chênh lệch kiểm toán phân loại theo kì quyết toán gồm chênh
lệch của năm trước và chênh lệch của năm nay.
Khi phát hiện chênh lệch kiểm toán, kiểm toán viên cần:
- Điều tra tính chất và nguyên nhân của những chênh lệch: Việc này cần
được thực hiện với một mức độ hoài nghi nghề nghiệp thích đáng.
soát đối với HTK gặp nhiều khó khăn.
- Chu trình vận động của HTK bắt đầu từ NVL, CCDC sang SPDD rồi
đến thành phẩm hàng hoá. Sự vận động của HTK ảnh hưởng tới nhiều khoản
mục trên báo cáo tài chính như chi phí NVL, chi phí sản xuất chung, giá vốn
hàng bán, chi phí SPDD, dự phòng giảm giá HTK… Là những chỉ tiêu thể
hiện tình hình sản xuất kinh doanh, định hướng phát triển trong các doanh
nghiệp sản xuất và thương mại. Khi thực hiện kiểm toán thì chu trình HTK
luôn là một chu trình kiểm toán quan trọng trong kiểm toán BCTC.
1.3.1.3 Chức năng của chu trình HTK:
• Chức năng mua hàng
Khi có nhu cầu mua hàng thì các bộ phận có liên quan sẽ lập phiếu đề
nghị mua hàng. Sau khi phiếu đề nghị mua hàng được phê chuẩn bộ phận
cung ứng sẽ lập đơn đặt hàng và gửi cho nhà cung cấp đã lựa chọn.
• Chức năng nhận hàng
Phạm Thị Hiền Kiểm toán 49A
9
Đề án môn học
Khi bên nhà cung cấp giao hàng bộ phận nhận hàng sẽ dựa trên đơn đặt
hàng để kiểm tra về mẫu mã, số lượng, chủng loại, quy cách, phẩm chất và
thời gian gia hàng, cuối cùng trưởng nhóm phải lậpbiên bản kiểm nhận hàng.
Bộ phận nhận hàng phải độc lập với bộ phận kho và bộ phận kế toán.
• Chức năng lưu kho
Hàng được chuyển tới kho và hàng sẽ được kiểm tra về chất lượng, số
lượng và sau đó cho nhập kho. Mỗi khi nhập đủ kho thủ kho phải lập phiếu
nhập kho và sau đó bộ phận kho phải thông báo cho phòng kế toán về số
lượng hàng nhận và cho nhập kho.
• Chức năng xuất kho vật tư hàng hoá
Đối với một đơn vị sản xuất thì xuất kho có 2 lý do cơ bản là xuất cho
nội bộ ( cho sản xuất, cho quản lý doanh nghiệp ) và xuất bán.
- Xuất vật tư, hàng hoá cho nội bộ: Khi có hợp đồng sản xuất mới hoặc
sản, đồng thời sử dụng các trang thiết bị bảo quản nhằm đảm bảo điều kiện
bảo quản vật chất. Khi nhập kho hay xuất kho các bên phải có đầy đủ các
giấy tờ hợp lệ thủ kho mới được nhập, xuất kho. Mặt khác thủ kho là người
chịu trách nhiệm về tài sản mình trông coi và phải ghi chép để theo dõi về số
lượng vật tư, hàng hoá, thành phẩm nhập – xuất – tồn kho.
• Xuất thành phẩm đi tiêu thụ
Xuất thành phẩm chỉ được thực hiện khi đã nhận được sự phê chuẩn,
thường là đơn đặt mua hàng của khách hàng. Khi xuất kho thành phẩm phải
lập phiếu xuất kho. Bộ phận vận chuyểnphải lập phiếu vận chuyển hàng có
đánh số thứ tự từ trước và chỉ rõ hàng hoá được vận chuyển. Phiếu vận
chuyển hàng được lập thành ba liên, liên thứ nhất được lập tại phòng tiếp vận
để làm chứng từ minh chứng về việc vận chuyển, liên thứ hai được sẽ được
gửi tới phòng tiêu thụ hoặc bộ phận tính tiền kèm theo. Đơn đặt mua của
khách hàng để làm căn cứ ghi hoá đơn cho khách hàng và liên thứ ba
sẽ được đính kèm bên ngoài bao kiện của hàng hoá trong quá trình vận
chuyển. Hoạt động kiểm soát này sẽ giúp cho khách hàng kiểm tra được
Phạm Thị Hiền Kiểm toán 49A
11
Đề án môn học
phiếu vận chuyển hàng gắn trên bao kiện hàng nhằm xác định xem có sự khác
biệt gì giữa số hàng đặt mua với số hàng thực nhận không. Trong trường hợp
hàng hoá được vân chuyển thuê bởi một Công ty tiếp vận thì phiếu vận
chuyển sẽ được lập thêm một thứ liên thứ tư, liên này sẽ được giao cho bên
cung cấp dịch vụ vận chuyển để làm căn cứ tính cước phí.
1.3.1.4 Hệ thống sổ sách, chứng từ HTK:
Trong kiểm toán chu trình HTK, hệ thống sổ sách chứng từ HTK bao
gồm:
- Hệ thống sổ kế toán chi tiết cho HTK.
- Sự ảnh hưởng của phương pháp kế toán HTK.
- Hệ thống kế toán chi phí và tình giá thành sản phảm.
+ Giá cả hàng hoá được tính theo giá thực tế. Các lần điều chỉnh giá được
phản ánh đúng và hàng hoá mất giá được điều chỉnh ( định giá và phân loại ).
- Số tổng cộng các khoản mục HTK ( tính chính xác cơ học ).
+ Phân loại đúng HTK theo các nhóm: Nguyên vật liệu, công trình dở dang,
thành phẩm và chi tiết theo quy định.
+ Thuyết trình rõ các hàng hoá cầm cố, chuyển nhượng, tạm gửi hoặc giữ hộ
(Phân loại và trình bày).
Phạm Thị Hiền Kiểm toán 49A
13
Đề án môn học
1.3.2.2 Đánh giá trọng yếu và rủi ro tiềm tàng đối với HTK
Trong doanh nghiệp HTK và giá vốn hàng bán luôn ảnh hưởng trọng yếu
đến tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. HTK chiếm
tỉ trọng lớn trong tổng tài sản lưu động của doanh nghiệp trên Bảng CĐKT
còn giá vốn hàng bán là một khoản mục quyết định tới lợi nhuận thuần của
đơn vị. Hơn nữa, có rất nhiều các yếu tố có thể làm tăng khả năng xảy ra sai
phạm đối với HTK:
- Số lượng các nghiệp vụ mua, sản xuất, tiêu thụ thường xảy ra nhiều nên
làm tăng cơ hội cho các sai phạm nảy sinh.
- Có nhiều vấn đề phức tạp luôn phải đối mặt về tính giá và đo lường
trong phần hành này:
+ Xác định, đo lường và phân bổ NVL gián tiếp, chi phí nhân công và
chi phí sản xuất chung;
+ Xác định sản phẩm dở dang, sản phẩm hoàn thành;
+ Hạch toán các khoản phế liệu.
- Có nhiều loại hàng hóa, vật tư đòi hỏi phải nhờ đến các thủ tục đặc
biệt; ý kiến đánh giá của chuyên gia mới xác định được số lượng và giá trị của
chúng.
- HTK do bảo quản ở nhiều kho bãi khác nhau dẫn đến khó kiểm soát vật
chất, dễ bị mất trộm, hỏng hóc, hao mòn và gây khó khăn cho công tác hạch
1.3.3.2 Thu thập danh mục HTK và đối chiếu với sổ sách kế toán
Kiểm toán viên cần thu thập danh mục HTK và đối chiếu chúng với hệ
thống sổ tổng hợp và chi tiết HTK. Mục đích của KTV khi thực hiện thử
nghiệm này là nhằm khẳng định sự khớp nhau giữa các thẻ kho với sổ sách kế
toán cũng như với BCTC.
1.3.3.3 Quan sát quá trình kiểm kê vật chất HTK
Quan sát kiểm kê vật chất HTK là công việc mà Kiểm toán viên phải có
mặt vào thời điềm mà cuộc kiểm kê HTK được tiến hành. Bằng các biện pháp
quan sát, khảo sát, thẩm vấn thích hợp để KTV xác định sự tồn tại vật chất và
Phạm Thị Hiền Kiểm toán 49A
15
Đề án môn học
tính chính xác của HTK kiểm kê, cũng như các vấn đề liên quan đến HTK về
quyền sở hữu và chất lượng HTK.
Quá trình quan sát vật chất HTK của KTV thường được tiến hành theo
các bước : Tìm hiểu các quá trình kiểm soát các cuộc kiểm kê, xác định các
quyết định kiểm toán và thực hiện quan sát vật chất.
Quan sát kiểm kê vật chất HTK thường được thực hiện tại bước 4: Thực
hiện các biện pháp kĩ thuật kiểm tra chi tiết trên các khoản mục đã chọn trong
quy trình thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết HTK.
Bước 1: Tìm hiểu các quá trình kiểm soát kiểm kê.
Bất cứ doanh nghiệp vận dụng các phương pháp hạch toán HTK theo
phương pháp kê khai thường xuyên hay phương pháp kiểm kê định kỳ thì
cũng phải có cuộc kiểm kê vật chất HTK định kỳ. Tuỳ theo điều kiện cụ thể
và cách tổ chức kiểm kê của Doanh nghiệp, cuộc kiểm kê đó được tiến hành
vào thời điểm cuối kỳ hoặc vào 1 thời điểm nào đó trong năm.
KTV quan sát và tìm hiểu quá trình kiểm soát các cuộc kiểm kê, nếu các
thủ tục kiểm soát đầy đủ và đáng tin cậy phải bao gồm: Những quy định hợp
lý đối với cuộc kiểm kê vật chất, sự giám sát bởi cá nhân có trách nhiệm và
trung thực, quá trình kiểm tra nội bộ độc lập với cuộc kiểm kê, việc đối chiếu
thời gian cần thiết cho công việc mà KTV cần phải theo dõi, giám sát trực tiếp
cuộc kiểm kê vật chất đó.
- Xác định quy mô mẫu
Quy mô mẫu trong quan sát vật chất thường được lựa chon theo các yếu
tố: Số lợng hàng cần kiểm tra, số kho cần kiểm tra, và thời gian bỏ ra để thực
hiện công việc quan sát. KTV có thể lựa chọn một trong số các tiêu thức này
để xác định quy mô quan sát. Trong thực tế để giảm chi phí kiếm toán, KTV
thường lấy tiêu thức thời gian để xác định quy mô.
- Chọn lựa những mặt hàng cần kiểm tra
Ngoài ra trên thực tế tuỳ vào điều kiện và những đặc thù của Doanh
nghiệp, KTV có thể chọn mẫu đối với những mặt hàng chủ yếu và có nghi
Phạm Thị Hiền Kiểm toán 49A
17