Nghiên cứu điều kiện lao động đặc thù và sức khoẻ nghề nghiệp của cán bộ y tế trong giai đoạn hiện nay, đề xuất giải pháp khắc phục - Pdf 25



Bộ Khoa học công nghệ
Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trờng
Số 1B Yec Xanh Quận Hai Bà Trng Hà Nội
Báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật Đề tài Độc lập cấp nhà nớc:

Nghiên cứu điều kiện lao động đặc thù và sức khoẻ
nghề nghiệp của cán bộ y tế trong giai đoạn hiện
nay, đề xuất giải pháp khắc phục
M số ĐTĐL-2004/11 Chủ nhiệm ĐT : PGS. TS. Nguyễn Thị Hồng Tú
Phó chủ nhiệm ĐT : PGS. TS. Nguyễn Khắc Hải
Th ký đề tài ĐT: ThS. Nguyễn Bích Diệp
Hà Nội, 12 2006
ngời thực hiện TT Họ và tên, học vị Cơ quan công tác Chức vụ Các phần mục
tham gia

A
Chủ nhiệm đề tài:
PGS. TS. Nguyễn Thị Hồng Tú

Cục Y tế dự phòng Việt
Nam

Phó Cục trởng

Toàn bộ

B

Cán bộ tham gia nghiên cứu: 1.


Bs. Tô Phơng Thảo Cục Y tế dự phòng VN

Cán bộ Phần 3.4
10.

TS. Nguyễn Phúc Thái Viện VSPD quân đội Trởng khoa Phần quân y
(3.2, 3.3 và 3.4)

11.

ThS. Lơng Ngọc Tuấn Viện VSPD quân đội NCV Phần quân y
(3.2, 3.3 và 3.4) Bảng chú giải các chữ viết tắt

ATVSLĐ An toàn Vệ sinh lao động
BHLĐ Bảo hộ lao động
BV Bệnh viện
CBYT Cán bộ y tế
CDC Trung tâm Phòng chống bệnh của Mỹ
CĐCS Chế độ chính sách
CFF Tần số nhấp nháy tới hạn của mắt
CSCT Chỉ số căng thẳng

NVYT Nhân viên y tế
OSI Chỉ số stress nghề nghiệp
OSHA Cơ quan ATVSLĐ Hoa Kỳ- (Occupational Safety and Health
Administration)
PGC Phó giao cảm
PTN Phòng thí nghiệm
PTTH Phổ thông trung học
SARS Hội chứng viêm đờng hô hấp cấp tính (Severe Acute Respiratory
Syndrome)
SK Sức khoẻ
TTYTDP Trung tâm y tế dự phòng
TCVS Tiêu chuẩn vệ sinh
TCVSCP Tiêu chuẩn vệ sinh cho phép
TCCP Tiêu Chuẩn cho phép
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TCYTTG Tổ chức Y tế Thế giới
TGPX Thời gian phản xạ
THNN Tác hại nghề nghiệp
THNL Tiêu hao năng lợng
TKTƯ Thần kinh Trung ơng
TMCBCT Thiếu máu cục bộ cơ tim
TNLĐ Tai nạn lao động
TNTT Tai nạn thơng tích
TNRR Tai nạn, rủi ro
TSNT Tần số nhịp tim
TW Trung ơng
VBPQ Văn bản pháp qui
VSN Vật sắc nhọn
VTLĐ Vị trí lao động


Chơng 3. Các kết quả nghiên cứu
3.1. Thông tin chung về đối tợng nghiên cứu 39
3.1.1. Phân bố đối tợng nghiên cứu 39
3.1.2. Thông tin về nhân khẩu học của đối tợng NC 40
3.2-Kết quả nghiên cứu về điều kiện lao động đặc thù của CBYT 45
3.2.1. Kết quả điều tra và đánh giá điều kiện cơ sở vật chất của các CSYT 45

3.2.2. Đánh giá của CBYT về môi trờng làm việc tại các CSYT 45
3.2.3. Kết quả đo môi trờng lao động tại các CSYT nghiên cứu 48
3.2.4. Khảo sát ĐKLĐ của CBYT tại các cơ sở nghiên cứu 53
3.2.5. Điều tra và đánh giá về công việc, thời gian làm việc của CBYT 57
3.2.6. Điều tra và đánh giá một số yếu tố tâm lý xã hội 62
3.2.7. Điều tra và đánh giá trạng thái stress của CBYT 63
3.2.8. Kết quả điều tra và đánh giá t thế làm việc và tình hình đau mỏi cơ
xơng 66
3.2.9. Nghiên cứu và đánh giá căng thẳng nghề nghiệp của CBYT tuyến trung ơng bằng
các chỉ tiêu tâm sinh lý 73
3.2.9.1 Đánh giá căng thẳng chức năng hệ tim mạch
73
3.2.9.2 Kết quả nghiên cứu trạng thái chức năng hệ thần kinh trung ơng (TKTƯ)
78
3.2.9.3.Kết quả đo lực cơ đánh giá tình trạng thể lực80
3.2.9.4. Tiêu hao năng lợng của CBYT của một số thao tác chính.81
3.3- Kết quả nghiên cứu về mô hình bệnh tật và BNN liên quan đến ĐKLĐ đặc thù 89
3.3.1. Kết quả nghiên cứu về tình hình sức khoẻ và bệnh tật của CBYT qua điều
tra phỏng vấn 89
3
.3.1.1. Tự đánh giá sức khoẻ 89
3.3.1.2. Tình hình sức khoẻ và bệnh tật của CBYT qua phỏng vấn 93
3.3.1.3. Tình hình mắc mắc bệnh mãn tính ở CBYT 96

3.4.4.1. Đề xuất một số chế độ chính sách với Chính phủ và các cơ quan Bộ,
ngành 164
3.4.4.2. Dự thảo và đề xuất một số quy định chế độ chính sách cho Bộ y tế 164
3.4.4.3. Đề xuất các biện pháp an toàn vệ sinh lao động trong các cơ sở y
tế
165Chơng 4: bàn luận
4.1. Thông tin chung về đối tợng nghiên cứu.169
4.2. Điều kiện lao động đặc thù của cán bộ y tế .170
4.2.1. Tiếp xúc với các yếu tố lây nhiễm và độc hại trong MTLĐ 171
4.2.2. Lao động ca kíp, lao động luân phiên, trực đêm 179
4.2.3. Gánh nặng công việc, công việc quá tải .182
4.2.4. Stress tâm lý nghề nghiệp ở CBYT . 185
4.2.5. T thế lao động và nguy cơ rối loạn cơ xơng 187
4.2.6. Căng thẳng nghề nghiệp của CBYT 190
4.3. Mô hình bệnh tật và các bệnh nghề nghiệp liên quan 195

4.3.1. Tình hình sức khoẻ và bệnh tật qua điều tra phỏng
vấn 195
4.3.2. Tình trạng sức khoẻ và bệnh tật qua khám lâm sàng và xét
nghiệm 208
4.3. Nghiên cứu tình hình thực hiện các CĐCS và đề xuất các gảii pháp khả
thi 219
4.4.1. Rà soát hệ thống văn bản pháp quy liên quan đến chế độ chính sách cho
cán bộ ngành y tế 219
4.4.2. Kết qủa điều tra đánh giá tình hình thực hiện các chế độ chính sách đang áp
dụng hiện nay cho các CBYT 219
4.4.3 Xây dựng thí điểm các giải pháp cải thiện điều kiện lao động và nâng cao sức

Các kết quả nghiên cứu cho thấy MTLĐ của các CSYT ẩn chứa nhiều yếu tố độc
hại. Trong đó đáng lu ý nhất là tiếp xúc với các yếu tố hóa học, hơi khí độc, hơi cồn,
Ete, formon, HCl, Toluen, SO2, CH3COOH, các hóa chất thuộc loại chất độc bảng A
B dùng trong điều trị ung th, các hoá chất tiệt trùng, vv: tại một số ví trí, nồng độ hoá
chất vợt TCCP từ 1,1-33,3 lần; các yếu tố vi sinh vật (nấm, vi khuẩn, virut gây bệnh,
vv): 56,7% số mẫu không đạt TCVSCP; bức xạ ion hoá: tại 1 số vị trí vợt TCCP từ 2,8-
224 lần, nguy cơ cao tiếp xúc với máu, dịch cơ thể chứa các mầm bệnh lây nhiễm nguy
hiểm và cực kỳ nguy hiểm (tả, lỵ, thơng hàn, lao, các virut gây bệnh nh HIV, SARS,
H5N1, vv); tiếp xúc với các ký sinh trùng nh sán lá gan, sán lá ruột, ấu trùng, run chỉ,
giun móc, amip tiếp xúc với phân đờm và máu, động vật thí nghiệm (chuột, thỏ); các
hoá chất độc hại dùng trong nghiên cứu và xét nghiệm nh focmaldehyt, ether, axit
mạnh, các hoá chất độc hại nh Ortho-phenykenediamin, Ethydium Bromie, Aceton, tia
cực tím, Ozon, các hoá chất có nguy cơ gây ung th, đột biến gien khi nhuộm ADN,
bệnh phẩm nh Ethidiumtamua, Clophin phenol, STAB, vv.
Tính chất lao động đặc thù: căng thẳng, nặng nhọc và nguy hiểm. Công việc căng
thẳng do luôn quá tải, thời gian làm việc và đi chống dịch kéo dài; số bệnh nhân phục
vụ/ngày/CBYT đông và do luôn sẵn sàng trực dịch; 77,4% CBYT hệ điều trị phải trực
đêm và 80% phải làm thêm giờ do thiếu nhân lực; CBYT cả hệ điều trị và hệ dự phòng
có căng thẳng chức năng hệ tim mạch ở mức quá căng thẳng (mức 3/4); 54,4% CBYT

2

hệ điều trị và 16,1% CBYT hệ dự phòng có biểu hiện stress nghề nghiệp. Công việc
nguy hiểm: CBYT hệ điều trị luôn có nguy cơ bị bạo lực và xúc phạm từ phía ngời nhà
bệnh nhân và bệnh nhân (29,2%); 71,7% thờng xuyên tiếp xúc với vi sinh vật gây bệnh
và 81,6% tiếp xúc với máu dịch cơ thể bệnh nhân. CBYT hệ dự phòng phải trực tiếp đi
lấy bệnh phẩm và vật phẩm tại hiện trờng các vụ dịch (25,4%) và làm mồi ngời để bắt
muỗi (40,9%). Công việc nặng nhọc về mặt thể lực: 37,8% CBYT hệ điều trị phải nâng
nhấc và vận chuyển bệnh nhân; 48,8% làm việc trong t thế đứng kéo dài và 14,2-
17,3% trong các t thế cúi và vặn trên 50% thời gian làm việc; 47,1% có tần số nhịp tim

nay cho CBYT đang đợc áp dụng tại các cơ sở y tế trong cả nớc và từ đó đề xuất các
giải pháp về CĐCS và ATVSLĐ nhằm tăng cờng công tác ATVSLĐ trong các cơ sở y
tế và bảo vệ chăm sóc sức khỏe cho CBYT đợc tốt hơn. 81 văn bản đợc rà soát, tập
trung vào các văn bản hớng dẫn Luật, Nghị định và đợc phân chia làm 3 loại chế độ
chính sách: lơng và chế độ phụ cấp về lơng; các chế độ phụ cấp đặc thù ngành nghề,
các chế độ về an toàn vệ sinh lao động. Đề tài đ đa ra đợc những u điểm và tồn tại
của các VBPQ hiện nay. Để có thông tin về các CĐCS mà CBYT đợc hởng, đề tài đ
tiến hành đánh giá tình hình thực hiện các CĐCS tại 132 CSYT và phỏng vấn 9437
CBYT: nhìn chung các CĐCS đợc thực hiện tơng đối tốt trong các CSYT. Tuy nhiên,
một số CĐCS vẫn cha đợc thực hiện hoặc có nhng tỷ lệ rất thấp nh chế độ trả lơng
làm thêm giờ và làm việc vào ban đêm ở NVYT hệ điều trị (4,5-4,6% NVYT đợc
hởng), chế độ phụ cấp trực tiếp tham gia dập dịch và phụ cấp thờng trực phòng chống
dịch (52,5 và 37,5% CSYT dự phòng thực hiện). Hầu hết (90%) các cán bộ y tế không
nắm đợc các chế độ chính sách mà bản thân họ đợc hởng.
Để có cơ sở đề xuất các giải pháp khắc phục khả thi, đề tài đ tiến hành nghiên
cứu can thiệp tại 01 CSYT: Xây dựng thí điểm các giải pháp cải thiện điều kiện lao
động và nâng cao sức khỏe cho CBYT tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức bằng tổ chức
02 lớp tập huấn cho 160 CBYT về ATVSLĐ và phòng chống BNN; lắp đặt tủ hút cô lập
nguồn gây ô nhiễm Toluen tại Phòng chuyển đúc bệnh phẩm tại khoa giải phẫu bệnh,
lắp đặt chụp hút (hote) thải hơi Formon ra ngoài làm giảm sự tiếp xúc của cán bộ y tế tại
Phòng Nhận xét và lu giữ bệnh phẩm; hớng dẫn bệnh viện đo kiểm tra môi trờng lao
động tại các khoa phòng, lập hồ sơ bệnh nghề nghiệp cho 69 cán bộ y tế bị mắc bệnh
viêm gan B.
Dựa trên các kết quả nghiên cứu, đề tài đ xây dựng các đề xuất về giải pháp
ATVSLĐ để cải thiện điều kiện lao động và góp phần chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho
CBYT. Ngoài ra, đề tài đ xây dựng dự thảo một số văn bản quy phạm pháp luật liên
quan đến ATVSLĐ cho CBYT để trình các cấp có thẩm quyền và đ đợc đa vào 1
Thông t và 1 quyết định của Bộ trởng Bộ Y tế.

4

sách y tế xây dựng chơng trình hành động và các giải pháp thực hiện chiến lợc chăm
sóc và bảo vệ sức khoẻ và phòng chống BNN cho cán bộ y tế từ nay đến 2010 góp phần
đạt mục tiêu chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ và phòng chống BNN cho ngời lao động của
ngành y tế Việt Nam đến 2010 và của Tổ chức Y tế thế giới đến 2015.

5

Phần B. Báo cáo chi tiết kết quả nghiên cứu

1. Đặt vấn đề
Hiện nay, Việt nam có một hệ thống y tế phát triển đối mạnh để đảm bảo thực
hiện công tác phòng bệnh và công tác chữa bệnh. Công tác này đảm bảo bởi 13.366 cơ
sở y tế bao gồm 30 viện và bệnh viện trung ơng, gần 700 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh
và huyện và khoảng 10.588 trạm y tế x/ phờng. Tổng số giờng điều trị là trên
188.906 giờng. Ngành y tế có một đội ngũ đông đảo với khoảng 244.987 cán bộ, nhân
viên y tế. Tỉ lệ của thày thuốc so với dân số Việt nam vào loại cao so với các nớc trong
khu vực. Chỉ số này theo thống kê năm 2004 là 5,88 bác sĩ/10.000 dân (Niên giám
Thống kê Y tế 2004) [4]. Đầu t cho ngân sách y tế của nhà nớc khoảng 3US$/ đầu
nguời (gần tơng đơng với mức đầu t của Inđônêxia). Tuy ngân sách cha cao, nhng
cũng không qúa thấp để duy trì và phát triển ngành nếu đợc quản lý và sử dụng tốt.
Chăm sóc sức khỏe là một ngành lao động đặc thù với cờng độ cao ở hầu hết
các hoạt động trong ngành. Cán bộ, nhân viên y tế phải trực tiếp tiếp xúc với bệnh nhân
và trực tiếp tham gia xử lý các vụ dịch bệnh truyền nhiễm nên rất dễ bị lây truyền các
bệnh truyền nhiễm nh HIV/AIDS, Viêm gan vi rút, Lao v.v. Điều tra của Viện YHLĐ-
VSMT trong một số bệnh viện Trung ơng và bệnh viện đa khoa tỉnh cho thấy tỉ lệ mắc
bệnh viêm gan víut B là 13,10%, cao gấp 3 lần nhóm ít nguy cơ lây nhiễm [32]. Nghiên
cứu tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B trong nhân viên y tế tại 9 bệnh viện của 3 tỉnh
miền Trung cho thấy tỉ lệ mang kháng nguyên bề mặt (HBsAg) là 17,6%, tỉ lệ có kháng
thể (anti-HBs) là 52,9% và tỉ lệ nhiễm HBV là 70,5%. Tỉ lệ nhiễm HBsAg và nhiễm
HBV tại tuyến tỉnh cao hơn hẳn tuyến huyện [10, 29]

y tế. Trong thời gian qua, Nhà nớc đ có một số chính sách đối với nhân viên ngành y
tế. Trong tổng số 21 bệnh nghề nghiệp đợc qui định tại Thông t 08/1998/TTLT-BYT-
BLĐTBXH ngày 20/4/1998 Liên tịch Y tế, Lao động TBXH, thì ngành y tế có 3 bệnh
nghề nghiệp đợc bảo hiểm gồm:
Bệnh nghề nghiệp trong ngành y tế Thời gian bảo đảm
1. Bệnh do quang tuyến X và các chất phóng xạ. 7 ngày đến 15 năm
2. Bệnh lao nghề nghiệp. 6 tháng-1 năm
3. Bệnh viêm gan virút nghề nghiệp. 6 tháng-5 năm

Ngoài chế độ bảo hiểm cho các bệnh nghề nghiệp, một số các nghề, công việc
trong ngành y tế đ đợc phân loại là các nghề đặc biệt nặng nhọc độc hại nguy hiểm và
nặng nhọc-độc hại- nguy hiểm (NNĐHNH) tại Quyết định số 915/ LĐTBXH-QĐ ngày
30/7/1996 là 2 danh mục nghề đợc phần loại VI, 19 danh mục nghề loại V, 17 danh
mục nghề NNĐHNH. Những nhân viên làm các công việc này sẽ đợc hởng các chế
độ bồi dỡng hiện vật. Nhng hiện nay tại nhiều địa phơng, Sở Tài chính và Sở Y tế
không thanh toán bồi dỡng hiện vật cho những công việc này.

7

Chính phủ cũng đ có chế độ phụ cấp công tác phí, trực tại cơ sở chăm sóc y tế,
chế độ bồi dỡng cho một số công tác y tế. Tuy nhiên mức chi còn rất thấp cha thể bù
đắp đợc các tổn hại của cán bộ y tế. Ví dụ đối với cán bộ huyện thờng xuyên phải đi
công tác lu động, mức khoán 1 tháng là từ 80.000đ - 100.000đồng/ngời. Tuy nhiên
mức chi phí thực tế tại vùng này là 40.000đ/ngày/ngời. Các cán bộ y tế dự phòng phải
trực dịch cả trong những ngày lễ tết nhng hiện nay vẫn cha có chế độ bồi dỡng trực
dịch.
Để tuyên truyền giáo dục cho nhân viên ngành y tế về các yếu tố độc hại tại nơi
làm việc và các biện pháp dự phòng, hàng năm Bộ Y tế phối hợp với Bộ Lao động
Thơng binh và X hội, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam đ tham gia tổ chức Tuần lễ
an toàn vệ sinh lao động và tổ chức khen thởng cho hơn 20 đơn vị ngành y tế mỗi năm.

hớng dẫn về bảo vệ an toàn vệ sinh lao động cho các nhân viên y tế trong bệnh viện
(NIOSH 1988)[184]. Các nghiên cứu đ chỉ ra những nguy cơ đặc thù của nhân viên y tế
là nguy cơ cao lây các bệnh truyền nhiễm nh bệnh lao, viêm gan vi rút B, C, HIV, vv ;
nguy cơ tiếp xúc với các tác hại không truyền nhiễm nh tiếp xúc với các hóa chất tiệt
trùng, tiếp xúc với tiếng ồn, nguy hiểm do tiếp xúc với bức xạ ion hóa, sóng siêu âm,
điện từ trờng tần số cao và các chất độc hại cũng nh các chất gây dị ứng nh các chất
khử trùng, khí gây mê, các thuốc độc tố tế bào và các khí dùng trong y học (nh
pentamidine, ribavirin), các chất thải trong bệnh viện và ngoaì ra là stress thể lực và tâm
thần khi phải chăm sóc bệnh nhân (Brandenburg, 2002, Leprine, 2002, Eickman 2002)
[125], [167], [132].
1.1.1. Nguy cơ lây nhiễm các bệnh truyền nhiễm:
Bệnh viêm gan B là tác hại lây nhiễm nghề nghiệp lớn ở các nhân viên y tế và là
một mô hình lây nhiễm các mầm bệnh trong máu. Trung tâm Phòng chống bệnh của Mỹ
(CDC) đ ớc lợng hàng năm có khoảng 500-600 nhân viên y tế phải nằm viện do tiếp
xúc với máu ngời bệnh với hơn 200 tử vong (12-15 do viêm gan, 170-200 do xơ gan và
40-50 do ung th gan). Chi phí y tế cho viêm gan B và viêm gan không A và không B ở
các nhân viên y tế ớc chừng 10-12 triệu USD hàng năm (Grady and Kane, 1981) [149].
Đánh giá sự lây nhiễm của virus viêm gan C cho các cán bộ y tế tại các bệnh viện trung
ơng tại Hungary, 477 cán bộ y tế đ đợc xét nghiệm máu tìm kháng thể kháng virus
viêm gan C trong năm 2001. Kết quả cho thấy 2,7% số cán bộ làm việc tại bệnh viện có
HCV dơng tính. Trong đó 2,7% là y tá và 2,9% là nhân viên của bệnh viện có HCV
dơng tính (Mihaly & cs., 2001) [174]. Tỷ lệ nhiễm HCV mạn tính chiếm 46% trong số
những ngời nhiễm HCV dơng tính. 10/17 bệnh viện có cán bộ y tế nhiễm HCV. Tỷ lệ
hiện nhiễm HCV dao động từ 1,2-6,5% tuỳ các khoa lâm sàng, cao nhất là khoa truyền
nhiễm. Tỷ lệ lây nhiễm cũng rất khác nhau theo tuổi 0% ở những ngời dới 21 tuổi và
9,5% ở những ngời trên 50 tuổi. Nh vậy rõ ràng là tỷ lệ nhiễm HCV có liên quan đến
yếu tố nghề nghiệp, nghĩa là thời gian làm việc tại bệnh viện càng dài thì tỷ lệ nhiễm
HCV càng lớn.

9

formaldehyde và glutaraldehyde. Tiếp xúc với các hóa chất này có một số tác hại nh
kích thích mắt và niêm mạc, đau đầu và khó thở, kích thích da, dị ứng da vv và có thể
gây ung th nh formaldehyde (ACGIH, 1987) [113]. Hansen (1983) [151] nghiên cứu
541 nhân viên vệ sinh trong bệnh viện cho thấy 39,1% nhân viên bị bệnh da trong quá
trình làm việc, 21% nhân viên bị bệnh viêm da tiếp xúc do sử dụng clo, formaldehyde và

10

glutaraldehyde. Một nghiên cứu khác của NIOSH (1983) [180] chỉ ra khi nồng độ của
glutaraldehyde trong không khí là 0,4ppm (1,5mg/m3) thì các nhân viên tiếp xúc có các
triệu chứng nh kích thích mắt, họng, phổi (45%) và các triệu chứng khác nh ho, đau
ngực, đau đầu, kích thích da và có các triệu chứng nh hen. Ô xít Ethylen cũng đợc sử
dụng khử trùng các vật liệu nhạy cảm với tất cả các vi sinh vật. Hậu quả cuả tiếp xúc là
các ảnh hởng về thần kinh, ung th và sinh sản không bình thờng (Joveleviths, 2003)
[157]. Tiếp xúc nghề nghiệp với thuốc chống ung th là nguy cơ của các nhân viên y tế
khi chuẩn bị, sử dụng và làm hoá trị liệu chống ung th. Carrieri và cs. (2003) [126] đ
đánh giá sự tiếp xúc với thuốc chống ung th bằng chỉ số cyclophosphamide. Các tác giả
tìm thấy ô nhiễm thuốc chống ung th ở trên bề mặt các nơi chuẩn bị (khoảng <0.05-
2011.68ng/cm2) và thậm chí ở cả trên quần áo nhân viên (<0.1594.28ng/cm2).
Tiếp xúc với tiếng ồn cao cũng là một trong những tác hại nghề nghiệp của các
nhân viên y tế và ngợc lại với suy nghĩ bệnh viện là nơi yên tĩnh, nhiều nơi cũng rất ồn
ào. Trong nghiên cứu về mức ồn ở 26 bệnh viện, các nơi đợc xác định là rất ồn làm
giảm năng suất làm việc nh phòng ăn, phòng xét nghiệm, phòng ghi hồ sơ và phòng y
tá (Seidlitz 1981) [189].
Tiếp xúc với bức xạ ion hóa ở các khoa chẩn đoán X quang, huỳnh quang, tia X
mạch, X quang nha khoa, CT scanner, chữa bệnh tia X, da liễu, y học hạt nhân trong quá
trình chẩn đoán và chữa bệnh cũng gây tác hại cho sức khỏe của các nhân viên y tế. Tiếp
xúc tích lũy với liều thấp có thể gây những hủy hoại về mặt sinh học. Bức xạ ion hóa gây
biến đổi gen và nhiễm sắc thể, có thể làm chậm hoặc huỷ hoại phân chia tế bào và can
thiệp vào các quá trình chuyển hoá. Ngoài ra còn có các ảnh hởng khác bao gồm các

tới 25% các bác sĩ lâm sàng bị stress, trầm cảm, lo âu và kiệt sức. ảnh hởng của stress
nghề nghiệp đến sức khoẻ là mệt mỏi, lo âu, trầm cảm, không thoả mn với công việc,
giảm chất lợng chăm sóc sức khoẻ cho bệnh nhân, nghiện rợu, số ngày nghỉ ốm cao,
về hu sớm, và mắc một số bệnh liên quan đến stress nh loét dạ dày, nhồi máu cơ tim,
cao huyết áp vv. Ước tính chi phí cho stress nghề nghiệp rất cao. Theo Viện nghiên
cứu Stress của Mỹ, chi phí lên tới 150 tỷ USD. Trung bình Viện này phải chi 73.270
USD cho những ngời lao động bị mất khả năng lao động do stress. Mỗi năm ở Mỹ có
khoảng 550.000 trờng hợp bị tử vong đột ngột do nhồi máu cơ tim có liên quan đến
stress. Viện Quốc gia về An toàn Vệ sinh lao động Mỹ (NIOSH) phân loại bệnh do
stress gây ra là một trong 10 bệnh hàng đầu liên quan đến công việc (Micheal S. Vinas,
1999) [172].
Điều kiện làm việc của các nhân viên y tế liên quan đến gánh nặng công việc và
thời gian làm việc kéo dài, nhịp điệu công việc đợc coi là những tác hại nghề nghiệp
quan trọng nhất theo đa số (58%) đối tợng nghiên cứu là các y bác sĩ, y tá, kỹ thuật
viên trong nghiên cứu của Uva và cs. (2003) [193]. Lee Won Chul (1994) [165] điều
tra mức độ và các yếu tố liên quan stress công việc ở các y tá làm việc ở phòng khám đa
khoa bằng bảng câu hỏi tự đánh giá nhận thấy: cảm giác stress cao nhất khi các y tá phải
nhận mức tiền lơng thấp cho sự phục vụ của họ (5,21), trực đêm (5,06) và cảm giác
stress ở các khoa khác nhau đợc xếp loại khác nhau: phòng khám đa khoa (4,7), phòng

12

hồi sức cấp cứu (4,69), phòng bệnh nhân ngoại trú (4,11) (điểm tối đa là 6 điểm). Còn
trong nghiên cứu của David Koh và cộng sự, 1998 [129] nhận thấy: các y tá làm việc tại
khoa hồi sức cấp cứu có mức độ stress cao nhất, các y tá khoa ngoại, phòng khám, khoa
bệnh nhân ngoại trú có điểm đánh giá và tự cảm nhận stress ở các mức độ thấp hơn.
Trầm cảm và lo âu là dấu hiệu của ảnh hởng của stress nghề nghiệp đến sức khoẻ.
Demiral et al. (2002) [130] đ nghiên cứu trên 300 bác sĩ ở các chuyên khoa khác nhau
và tìm thấy tỷ lệ chung về trầm cảm và lo âu là 18,9 % và 27,4% ở các bác sĩ. Meirelles
et al. (2003) [171] đ nghiên cứu các y tá ở một Trung tâm phẫu thuật ung th ở Brazil

Rối loạn cơ xơng đợc nghiên cứu nhiều ở các nhân viên y tế. ở Mỹ gần một nửa
bồi thờng dành cho nhân viên y tế do đau lng (Health Alert 1978) [153]. Năm 1978
đau lng làm mất gần 25 triệu ngày nghỉ việc và chi phí khoảng 14 tỷ USD cho chữa trị
(Goldberg et al. 1980) [147]. Số liệu từ Văn phòng thống kê lao động năm 1980 đ cho
thấy các y tá, hộ lý và ngời phục vụ ở New York đòi bồi thờng do đau lng nhiều hơn
so với các công nhân ngành khác (8,26 bồi thờng/1000 ngời). Bồi thờng cho các y tá
hành nghề có giấy phép đứng thứ 3 (5,62 bồi thờng/1000 ngời) trong khi đó y tá có
đăng ký đứng thứ 6 (2,2 bồi thờng/1000 ngời). Các nhân viên y tế khác đứng ở 10
hàng đầu tiên bao gồm những ngời trợ giúp (không phải y tá), kỹ thuật viên X quang,
kỹ thuật viên ghi bệnh án (Jensen 1986) [156]. Thờng những ngời này phải nâng và
vận chuyển bệnh nhân không có phơng tiện trợ giúp phù hợp. Theo nghiên cứu của
Barbini (2002) [122] ở các y tá và bác sĩ vật lý trị liệu, đau lng chiếm tỷ lệ cao nhất
(81%) và sau đó là tay (39%) và chân (54%). Tác giả phân tích ecgônômi công việc chỉ
ra chăm sóc bệnh nhân đ làm cho t thế bất lợi nh cúi hơn 45
)
và cúi vặn ngời trong
thời gian dài (tới 5 giờ liên tục). Bên cạnh đó, rối loạn cơ xơng chủ yếu liên quan đến
các đặc điểm tổ chức công việc và áp lực công việc. Nâng nhấc và vận chuyển bệnh nhân
của các y tá là các nguyên nhân chính gây ra các vấn đề đau lng. Nhiều nghiên cứu đ
xác định mối liên quan giữa nâng nhấc bệnh nhân và đau thắt lng (Hagberg et al., 1996;
Smedley et al., 1995). Lundberg and Ohkubo (2002) [169] đ nghiên cứu 298 nữ y tá ở
một bệnh viện ở Tokyo và chỉ ra vận chuyển bệnh nhân không có phơng tiện trợ giúp
nâng nhấc là công việc stress nhất (3.92-2.73; 1 = rất thấp, 5 = rất cao), cân nặng của
bệnh nhân là yếu tố nguy cơ cao nhất (1.97-0.20; 1= thấp, 2 = cao), và đau mỏi cơ xơng
nhiều nhất là ở thắt lng (4.79-1.81; 1=rất thấp, 7=rất cao). Các nữ y tá làm việc trong
các nhà dỡng lo có tỷ lệ tổn thơng lng và vai cao nhất ở nớc Mỹ. Tỷ lệ tổn thơng
phối hợp ở cả lng và vai hàng năm là 45,8 trong 100 nhân viên (Douglas Myers et al.,
2002) [131]
Các tổn thơng và bệnh về da chiếm một tỷ lệ khá lớn trong toàn bộ tổn thơng
và bệnh nghề nghiệp (ASPH/NIOSH 1988) [119]. Các tổn thơng da trong môi trờng

ớc 161 và Khuyến nghị 171 về cung cấp các dịch vụ y tế nghề nghiệp, những dịch vụ
này sẽ phối hợp để thực hiện các chính sách về an toàn sức khỏe nghề nghiệp cho ngời
lao động [143].
Hiện nay, ở nhiều nớc trên thế giới, đ có những qui định và hớng dẫn rất cụ
thể về ATVSLĐ cho cán bộ y tế. Nh ở Mỹ đ có Hớng dẫn ATVSLĐ cho cán bộ Y
tế trong bệnh viện. Trong hớng dẫn này đ đề cập đến tầm quan trọng của việc xây
dựng chơng trình an toàn vệ sinh lao động cho nhân viên y tế, hớng dẫn kiểm soát các
bệnh lây nhiễm, các yếu tố nguy cơ đối với nhân viên y tế nh tiếp xúc với hóa chất độc
hại nh các hóa chất tiệt trùng glutameđehye, các yếu tố vật lý, stress và các vấn đề
liên quan đến rác thải y tế, (NISOH, 9/1988) [181]. Ngoài ra, ở Mỹ cũng có các quy
định cụ thể về quy trình làm việc an toàn trong các phòng thí nghiệm; các quy định về
quy trình khi nâng nhấc bệnh nhân để phòng tránh tổn thơng lng, quy định tất cả
nhân viên y tế phải đợc tiêm chủng viêm gan B và qui định hệ thống báo cáo khi bị tổn

15

thơng do các vật sắc nhọn, và mắc bệnh nghề nghiệp Và ở mỗi Bang của nớc Mỹ có
những quy định khác nhau. Thông t 98/11 Quản lý nhân viên y tế bị phơi nhiễm với
HIV, Viêm gan B và C, trong Thông t này cũng quy định rõ nhân viên y tế phải đợc
làm các xét nghiệm và đợc theo dõi giám sát về sức khỏe [179].
Đối với dự phòng tổn thơng do các vật sắc nhọn nh kim tiêm, thì năm 2000
Mỹ cũng đ có Điều luật về vấn đề này trong Điều luật này cũng quy định cụ thể nhân
viên y tế phải đợc đào tạo một cách đầy đủ, đợc cung cấp các trang thiết bị phơng
tiện bảo vệ cá nhân, phải đợc tiêm phòng vaccin và đợc giám sát về y tế [191]. Và ở
Mỹ cũng quan tâm rất nhiều đến các chế độ bồi thờng cho những nhân viên y tế bị rối
loạn cơ xơng khớp nghề nghiệp đặc biệt họ dành đến 50% tiền bồi thờng cho những
nhân viên y tế bị đau lng do nghề nghiệp [153]. Tuy nhiên, khác với Việt Nam, ở các
nớc nh Mỹ không có các quy định về các phụ cấp nh phụ cấp nặng nhọc, độc hại,
đặc thù nghề nghiệp, vì tất cả họ tính toán vào lơng của ngời lao động và đơng
nhiên ngời sử dụng lao động phải có trách nhiệm tạo ra môi trờng làm việc an toàn

nghiệp và đền bù cho ngời lao động [139]. Tơng tự nh vậy, tại ấn Độ, các dịch vụ y
tế nghề nghiệp cũng phát triển mạnh, họ cũng có Điều luật về an toàn sức khỏe nghề
nghiệp cho nhân viên y tế và trong Điều Luật này cũng quy định rõ nhân viên y tế phải
đợc hởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đợc làm việc trong một môi trờng đảm
bảo an toàn, phải đợc trang bị các phơng tiện bảo vệ cá nhân khi tiếp xúc với các yếu
tố nguy hiểm độc hại trong môi trờng lao động [140].
Tóm lại, trên thế giới ở một số nớc đ có những nghiên cứu có hệ thống và đầy
đủ về điều kiện lao động đặc thù, nguy cơ tiếp xúc với các yếu tố lây nhiễm và các yếu
tố độc hại trong môi trờng lao động cũng nh tình trạng sức khoẻ và bệnh tật của các
nhân viên y tế. Nhiều nớc cũng đ có những hớng dẫn quốc gia về an toàn vệ sinh lao
động và hớng dẫn khai báo tai nạn thơng tích và bệnh nghề nghiệp trong nhân viên y
tế tại các cơ sở y tế.
1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nớc
1.2.1. Điều kiện làm việc của CBYT
Trong nớc đ có một số nghiên cứu về nhân viên y tế. N.N.Ngà (2002) [21] đ
đa ra một số nét về điều kiện lao động trong bệnh viện. Trong lao động các cán bộ y tế
phải tiếp xúc với rất nhiều yếu tố nguy cơ cho sức khỏe nh các yếu tố vi sinh vật gây
bệnh, bụi trong không khí có vi trùng lao, bức xạ ion hóa trong các phòng chụp X
quang, sóng siêu âm tần số cao, tiếng ồn, các chất gây mê, các loại thuốc, stress nghề
nghiệp và các t thế làm việc bất lợi vv. Nghiên cứu của N.K. Hải và cs. (2003) [15] về
tiếp xúc nghề nghiệp và ảnh hởng tới sức khỏe những ngời làm việc ở phòng X quang
t nhân cho thấy 42,5% số phòng để lọt tia X quang ra ngoài vợt quá tiêu chuẩn cho
phép, kể cả nơi bệnh nhân ngồi chờ. Tỷ lệ bất thờng nhiễm sắc thể của nhân viên X
quang chiếm 4,12%. N.X. Hiên và cs. (1998) [15] nghiên cứu về an toàn phòng ốc, máy
X quang, phơng tiện bảo hộ cá nhân của nhân viên X quang ở một bệnh viện. Kết quả
cho thấy an toàn bức xạ iôn hoá cha đảm bảo, nhất là tuyết huyện và nhân viên X

17

quang có nhiều dấu hiệu ảnh hởng của tia X. Tơng tự, nghiên cứu của P.Tuấn (1998)

1.2.2. Tình hình sức khoẻ, bệnh tật và tai nạn thơng tích ở CBYT
Các nghiên cứu tình trạng sức khoẻ và bệnh tật, đặc biệt là các bệnh nghề nghiệp
của cán bộ y tế ở nớc ta thờng ở qui mô nhỏ và cha nêu rõ đợc mối liên quan giữa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status