VIỆN KHOA HỌC BẢO HIỂM XÃ HỘI BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
XÂY DỰNG QUI TRÌNH THAM GIA TỐ TỤNG
VÀ CHẾ TÀI XỬ PHẠT VI PHẠM PHÁP LUẬT
VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI, BẢO HIỂM Y TẾ
VÀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
CNĐT : LÊ QUYẾT THẮNG
9451
BHXH một số địa phương sau khi kiểm tra, phát hiện các đơn vị nợ
đọng tiền BHXH đã tiến hành đốc thu, nhắc nhở, đề nghị các cơ quan có thẩm
quyền xử phạt vi phạm hành chính nhưng không có kết quả nên đã đứng đơn
khởi kiện các doanh nghiệp. Thực tế theo dõi tình hình tranh tụng trong thời
gian vừa qua cho thấy với tư cách nguyên đơn, Tổ ch
ức BHXH gặp nhiều
vướng mắc về xác định thời hiệu khởi kiện, xác định hình thức sở hữu của
quỹ bảo hiểm xã hội bị xâm hại… Đã có vụ kiện bị Toà án trả lại không thụ lý
với lý do hết thời hiệu khởi kiện theo quy định của Bộ Luật Lao động.
2
Trong quá trình thực hiện chính sách BHXH, BHXH một số địa
phương thực hiện không đúng, bị các đơn vị sử dụng lao động, đối tượng
tham gia, hưởng chế độ BHXH khiếu nại, khởi kiện ra Toà. Với tư cách bị
đơn, Tổ chức BHXH một số địa phương tham gia tố tụng tại Toà còn gặp
vướng mắc trong việc thu thập tài liệu, hồ sơ, chứng cứ đảm bả
o tính pháp lý
để chứng minh và đã từng bị “thua kiện”. Bên cạnh đó, hiệu lực pháp luật của
các quyết định xử phạt hành chính và bản án chưa được đảm bảo thực hiện;
việc thi hành án gặp rất nhiều khó khăn.
Đối với lĩnh vực BHYT, các hành vi vi phạm pháp luật trong công tác
quản lý, sử dụng thẻ BHYT dẫn đến quỹ BHYT bị lạm dụng và quyền lợi của
người có th
ẻ BHYT bị ảnh hưởng. Đối tượng thực hiện hành vi vi phạm đa
dạng, không chỉ từ phía cơ sở khám chữa bệnh, tổ chức BHXH, người tham
gia BHYT mà còn từ phía những cá nhân, tổ chức khác. Mặc dù Luật BHYT
đã được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/7/2009, song hiện nay chúng ta
vẫn đang chờ các Nghị định hướng dẫn trong đó có hướng dẫn về xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực BHYT.
Đối vớ
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng vi phạm pháp luật và thực tiễn xử
lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH, BHYT đối với vi ph
ạm do các đối
tượng sau thực hiện:
+Người sử dụng lao động
+Cơ sở khám, chữa bệnh
+Tổ chức BHXH
+Người tham gia, người hưởng BHXH, BHYT, BHTN
+Các đối tượng khác
- Phạm vi nghiên cứu :
Đề án được triển khai nghiên cứu có hệ thống các vấn đề liên quan đến
vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH, BHYT từ năm 2004 đến năm 2008
và dự báo vi phạm về BHTN trên cơ sở pháp luậ
t về BHXH, BHYT và
BHTN; pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, pháp luật tố tụng và một số
luật khác.
Tuy nhiên, do trình tự, thủ tục khởi kiện để Toà án giải quyết các vụ án
về tranh chấp dân sự được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự và chế tài
xử phạt vi phạm pháp luật về BHXH được quy định tại Nghị định số
4
135/2007/NĐ-CP (16/8/2007) của Chính phủ nên trong phạm vi nghiên cứu,
đề án tập trung chủ yếu vào giải pháp nhằm hoàn thiện chế tài xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH, kiến nghị về chế tài xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực BHYT và BHTN; đồng thời xây dựng quy trình
tham gia tố tụng các vụ án về tranh chấp dân sự trong lĩnh vực BHXH,
BHYT, BHTN, trong đó tập trung chủ yếu vào việc xác lập hồ sơ, tài liệu,
chứ
ng cứ để tiến hành khởi kiện đối với một số hành vi vi phạm về lĩnh vực
BHXH.
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT, CHẾ TÀI XỬ
PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC KHỞI KIỆN
1.1. Một số vấn đề lý luận về vi phạm pháp luật
1.1.1. Khái niệm, phân loại vi phạm pháp luật
1.1.1.1. Định nghĩa vi phạm hành chính
Vi phạm pháp luật là loại vi phạm xảy ra khá phổ biến trong tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó vi phạm hành chính và vi phạm ở mức
độ bị coi là tội phạm là những loại vi phạm chủ yếu và cần phải điều ch
ỉnh
bằng những chế tài xử phạt từ thấp đến cao. Tuy mức độ nguy hiểm cho xã
hội của vi phạm hành chính thấp hơn so với tội phạm nhưng vi phạm hành
chính cũng là hành vi gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho lợi ích của
Nhà nước, tập thể, lợi ích của cá nhân cũng như lợi ích chung của toàn thể
cộng đồng, là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phạm t
ội nảy sinh trên các lĩnh
vực của đời sống xã hội nếu như không được ngăn chặn và xử lý kịp thời.
Tiếp cận từ định nghĩa vi phạm hành chính nói chung lần đầu tiên
được nêu ra trong Điều 1 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính ngày
30/11/1989
1
, trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và hiện nay
là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, Giáo trình Luật hành chính
Việt Nam năm 2008 đã đưa ra định nghĩa về vi phạm hành chính như sau: “Vi
1
Dấu hiệu mặt khách quan:
Dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của vi phạm hành chính trong
lĩnh vực BHXH là hành vi vi phạm hành chính được quy định trong văn bản
pháp luật về xử phạ
t hành chính có liên quan. Hay nói cách khác, hành vi mà
tổ chức, cá nhân thực hiện là hành vi xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước
và đã bị pháp luật hành chính ngăn cấm. Việc bị ngăn cấm được thể hiện rõ
ràng trong văn bản pháp luật quy định về xử phạt hành chính liên quan đến
7
BHXH, theo đó, pháp luật quy định những hành vi này sẽ bị xử phạt bằng các
hình thức, biện pháp xử phạt hành chính. Khi xem xét, đánh giá hành vi của
cá nhân hay tổ chức có phải là vi phạm hành chính hay không, bao giờ cũng
phải có căn cứ pháp lý rõ ràng xác định hành vi đó bị pháp luật quy định sẽ
phải áp dụng biện pháp xử phạt hành chính. Tránh tình trạng áp dụng “nguyên
tắc suy đoán” hoặc “áp dụng tương tự pháp luật” trong việc xác định vi phạm
hành chính
đối với các tổ chức và cá nhân.
Đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH, dấu hiệu trong mặt
khách quan có tính chất phức tạp riêng bởi vì BHXH liên quan đến nhiều
ngành, nhiều lĩnh vực, đặc biệt liên quan đến pháp luật về lao động. Chẳng
hạn như hợp đồng lao động làm căn cứ đóng BHXH đối với người lao động
hay các xác nhận của chính quyền địa phương, của người sử d
ụng lao động để
người lao động được hưởng các chế độ BHXH, BHYT, BHTN.
Dấu hiệu mặt chủ quan:
Dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của vi phạm hành chính nói
chung và vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH nói riêng là dấu hiệu lỗi
của chủ thể vi phạm. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH phải là hành
vi có lỗi thể hiện dưới dạng hành vi cố ý hoặc vô ý. Nói cách khác người thực
nhận về các điều kiện để làm căn cứ xác định cho người lao động hưởng các
chế độ BHXH theo quy định.
+ Người từ đủ 16 tuổi trở lên có thể là chủ thể của vi phạm hành chính
trong lĩnh vực BHXH trong mọi trường hợp khi có tham gia BHXH bắt buộc
hoặc dưới hình thức tự nguyện.
Như vậy, cá nhân, tổ chức nước ngoài cũng có thể là ch
ủ thể của vi
phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH theo pháp luật Việt Nam (trừ trường
hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác).
+ Tổ chức là chủ thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH
(bao gồm cả BHYT, BHTN) là đối tượng được quy định tại Điều 2 Luật
BHXH bao gồm: cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ
trang nhân
dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội -
nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ
chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh
nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân
có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động và các cơ
quan, tổ
chức khác có liên quan đến BHXH.
9
Dấu hiệu khách thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH:
Vi phạm hành chính nói chung và vi phạm hành chính trong lĩnh vực
BHXH nói riêng cũng như mọi vi phạm pháp luật khác đều xâm hại đến các
quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Dấu hiệu khách thể để nhận biết về vi
phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH là hành vi vi phạm đã xâm hại đến
quan hệ BHXH, được pháp luật hành chính và pháp luật BHXH bảo vệ. Nói
cách khác, vi phạm hành chính trong lĩnh v
ực BHXH là hành vi trái với các
- Căn cứ vào chủ thể thực hiện vi phạm có thể chia vi phạm hành chính
trong lĩnh vực BHXH thành hai loại:
+ Hành vi vi phạm do cá nhân thực hiện
+ Hành vi vi phạm do pháp nhân thực hi
ện.
1.1.2. Phân biệt vi phạm hành chính và tội phạm về BHXH
Vi phạm hành chính là hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng chưa đến
mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì thế, khi xử lý các vi phạm hành
chính, cần đặc biệt lưu ý đến nhận biết các dấu hiệu để phân biệt vi phạm
hành chính với tội phạm hình sự. Trong nhiều trường hợp trên thực tế, ranh
giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự r
ất khó xác định. Vì vậy,
nếu không giải quyết đúng đắn vấn đề này rất dễ xảy ra tình trạng “để lọt tội
phạm” hoặc “xử lý oan người vi phạm chưa đến mức phạm tội”.
Dấu hiệu căn bản để phân biệt vi phạm hành chính với tội phạm hình
sự là mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm. Hành vi vi phạm
hành chính có mức độ nguy hiểm th
ấp hơn so với tội phạm hình sự. Mức độ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật về BHXH ở mức độ tội
phạm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét và đánh giá.
Ngoài mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, vi phạm hành chính
và tội phạm còn phân biệt với nhau ở một số dấu hiệu pháp lý khác. Tội phạm
là loại vi phạm được quy định trong Bộ luật Hình s
ự và chỉ Quốc hội mới có
quyền đặt ra các quy định về tội phạm và hình phạt. Vi phạm hành chính được
quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau của các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền như luật, pháp lệnh và nghị định.
11
Vi phạm hành chính và tội phạm còn phân biệt với nhau ở yếu tố chủ
phạt vi phạm hành chính ghi nhận các hình thức, biện pháp xử phạt áp dụng
đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH. Việc
12
quyết định áp dụng các biện pháp xử phạt đó thể hiện sự trừng phạt của Nhà
nước đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH. Tuy
nhiên, không chỉ dừng lại ở mục đích trừng phạt, việc xử phạt vi phạm hành
chính nói chung và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH nói
riêng còn hướng tới mục đích giáo dục cho mọi người ý thức tuân thủ pháp
luậ
t nói chung và pháp luật về BHXH nói riêng.
Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, các hình thức xử lý kỷ
luật đối với công chức vi phạm kỷ luật và các trừng phạt cũng như quy định
đối với công chức phạm hình luật đã được quy định trong Chương V Sắc lệnh
số 76-SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà về
quy chế công chức Việt Nam. Đối với lực l
ượng lao động là công nhân trong
các xí nghiệp của nhà nước và giúp việc Chính phủ cũng được quy định về
ngạch bậc, lương bổng, phụ cấp trong Sắc lệnh số 77-SL ngày 22/5/1950 của
Chủ tịch nước trong đó điều khoản về kỷ luật đối với các vi phạm được quy
định tại chương VI của Sắc lệnh.
Sau khi đất nước được hoàn toàn thống nhất, để phòng ngừa và xử
lý vi
phạm hành chính, một vấn đề được đặt ra là việc ban hành các văn bản pháp
luật quy định về vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý đối với loại vi
phạm này, ngày 27/5/1997, Chính phủ ban hành Nghị định 143/CP về Điều lệ
xử phạt vi cảnh. Tiếp đó, Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính được ban
hành ngày 6/7/1995 và văn bản đang có hiệu lực pháp lý thi hành là Pháp lệnh
xử lý vi phạm hành chính ngày 2/7/2002, được sửa đổi, b
ổ sung theo Pháp
ệu lực từ 1/1/2007,
từ điều 134 đến 137 đã quy định các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH.
Ngày 16/8/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 135/2007/NĐ-CP quy
định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH. Ngày 18/2/2008,
Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam đã có Thông tư liên tịch 03/2008/TTLT-BLĐTBXH-BTC-NHNN
hướng dẫn thủ tục buộc trích tiền từ tài khoản tiền gửi của người sử d
ụng lao
động để nộp tiền BHXH chưa đóng, chậm đóng và tiền lãi phát sinh.
Nghị định số 135/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/8/2007 là văn
bản đang có hiệu lực pháp lý thi hành về xử phạt hành chính trong lĩnh vực
BHXH. Đối tượng áp dụng quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực BHXH là cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam có hành vi cố ý hoặc
14
vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về BHXH mà không phải là tội
phạm thì có thể bị áp dụng hình thức xử phạt, mức phạt theo quyết định của
cơ quan có thẩm quyền đồng thời có thể bị áp dụng các biện pháp khắc phục
hậu quả theo thủ tục xử phạt được quy định trong Nghị định 135/2007/NĐ-
CP. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm
hành chính về pháp luật BHXH trong phạm vi nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam cũng bị xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định này,
trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên có quy định khác thì áp dụng theo quy định tại Điều ước quốc tế
đó. Đối với những hành vi vi phạm về lĩnh vực BHXH của cán bộ
, công chức
trong khi thi hành nhiệm vụ mà không phải là tội phạm thì bị xử lý kỷ luật
theo quy định của pháp luật về cán bộ công chức.
Về thời hiệu xử lý vi phạm hành chính:
Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành
về BHYT nữa. Kể từ khi có Luật BHYT số 25/2008/QH 12 đến nay vẫn chưa
có Nghị định hướng dẫn xử phạt vi phạm hành chính v
ề BHYT.
Đối với BHTN cũng chưa có quy định cụ thể về hành vi và mức xử
phạt cụ thể nên về nguyên tắc phải áp dụng theo quy định chung của pháp
lệnh xử phạt vi phạm hành chính. Sự không cụ thể này dẫn đến những khó
khăn nhất định trong quá trình thực thi pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực BHYT, BHTN.
1.3. Trình tự, thủ tục khởi kiện để Toà án giải quyết các v
ụ án dân
sự (áp dụng trong trường hợp Tổ chức BHXH tham gia với tư cách nguyên
đơn)
1.3.1. Khởi kiện và thụ lý vụ án cấp sơ thẩm
1.3.1.1. Những vấn đề chung
* Quyền khởi kiện vụ án:
Điều 161 Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2004 quy định: “Cá nhân, cơ
quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi
kiện vụ án dân sự t
ại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình”.
Khởi kiện vụ án dân sự là một trong những phương thức để các chủ thể
yêu cầu Toà án bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp khi có tranh chấp xảy ra.
16
Quyền khởi kiện là quyền đầu tiên của chủ thể làm phát sinh vụ án dân sự tại
Toà án. Người khởi kiện có thể tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp
pháp thực hiện việc khởi kiện. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể khởi kiện một
hoặc nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc
nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau. Ngược l
ại, nhiều cá nhân, cơ
17
vi bắt buộc của người sử dụng lao động. Hành vi không tham gia BHXH là
xâm phạm lợi ích hợp pháp của người lao động, đi ngược lại chủ trương,
chính sách của Đảng, Nhà nước về đảm bảo an sinh xã hội. Hành vi không
tham gia, tham gia không đúng mức quy định, tham gia không đủ số lao động
thuộc diện bắt buộc, chậm đóng là hành vi vi phạm pháp luật về BHXH, ảnh
hưởng đến việc hoàn thành nhiệm vụ của BHXH Vi
ệt Nam được giao hàng
năm, ảnh hưởng đến việc bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHXH.
Mặt khác, theo quy định tại điều 19 Luật BHXH quy định về quyền của
tổ chức BHXH:
+ Tổ chức quản lý nhân sự, tài chính và tài sản theo quy định của pháp
luật.
+ Từ chối yêu cầu trả BHXH không đúng quy định;
+ Kiểm tra việc đóng BHXH và trả các chế độ BHXH
+ Kiến nghị với các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, sửa
đổi, bổ sung chế độ, chính sách pháp luật về BHXH và quản lý quỹ BHXH.
+ Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp
luật về BHXH.
+ Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Điều 20 Luật BHXH quy định về trách nhiệm của tổ chức BHXH:
“+ Thực hiện việc thu BHXH theo quy định của Luật này.
+ Thực hiện các biện pháp bảo toàn và tă
ng trưởng quỹ BHXH”
Với những căn cứ như trên, tổ chức BHXH đủ điều kiện là nguyên đơn
khởi kiện doanh nghiệp vi phạm pháp luật về BHXH ra Toà án để bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người lao động cũng như lợi ích công
cộng, lợi ích của Nhà nước trong việc thực hiện an sinh xã hội.
* Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn
nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ Luật Tố tụng Dân sự
quy định khởi kiện
để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp
pháp của người đó bị xâm phạm. Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định
2
Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của một người là khả năng của người đó được mang quyền và gánh chịu nghĩa vụ tố
tụng dân sự theo luật định. Chỉ đối với cá nhân mới có sự xác định riêng biệt năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố
tụng dân sự. Còn đối với các tổ chức, cơ quan thì hai yếu tố đó phát sinh đồng thời.
Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng của chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự một cách trực tiếp
bằng chính hành vi của chủ thể đó hoặc uỷ quyền cho người khác.
Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của cá nhân phát sinh từ thời điểm người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết.
Còn nă
ng lực hành vi tố tụng của cá nhân phát sinh khi người đó đạt 18 tuổi. Việc bảo vệ tại Toà án quyền và lợi ích hợp
pháp của người chưa đủ mười lăm tuổi và người mất năng lực hành vi dân sự do người đại diện hợp pháp của họ thực
hiện. 19
khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích
của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn.
Là một trong các bên đương sự, nguyên đơn có đầy đủ các quyền,
nghĩa vụ của đương sự khi tham gia tố tụng. Cụ thể:
- Cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình;
- Yêu cầu cá nhân, c
ơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứ
cung cấp chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Toà án;
- Đề nghị Toà án xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án mà tự mình
không thể thực hiện được hoặc đề nghị Toà án triệu tập người làm chứng,
- Chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực
pháp luật;
- Các quyền, nghĩa vụ khác mà pháp luật có quy định.
Ngoài ra, theo quy định của điều 59 Bộ Luật Tố tụng dân sự, nguyên
đơn còn có các quyền và nghĩa vụ sau:
- Rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện; thay đổi nội dung yêu
cầu khởi kiện;
- Đề nghị Toà án đưa người có quyền lợi, nghĩa v
ụ liên quan tham gia
tố tụng;
- Đề nghị Toà án tạm đình chỉ giải quyết vụ án.
Nguyên đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn
vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện.
* Thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân
Để thực hiện chức năng xét xử, Toà án được giao một khối lượng
thẩm quyền nhất đị
nh. Ở mỗi nước, thẩm quyền của Toà án được xây dựng
theo những nguyên tắc phù hợp với hình thức tổ chức hệ thống toà án và đảm
bảo đáp ứng các mục tiêu của pháp luật quốc gia. Song theo cách hiểu chung,
thẩm quyền của Toà án đều bao gồm quyền xem xét giải quyết các vụ việc
thuộc phạm vi pháp luật quy định và quyền ra quyết định khi giải quyết các
vụ việc đ
ó.Thẩm quyền dân sự của Toà án được hiểu là quyền xem xét giải
quyết các vụ việc và quyền ra quyết định khi xem xét giải quyết các vụ việc
đó theo thủ tục tố tụng dân sự của Toà án.
21
Theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, thẩm quyền dân sự của Toà án
được căn cứ vào ba tiêu chí: thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền theo cấp
xét xử và theo lãnh thổ
u về lao
động trừ các yêu cầu về giải quyết đình công. 22
thẩm quyền giải quyết sơ thẩm các yêu cầu về kinh doanh, thương mại và lao
động (trong đó có BHXH) (Điều 30, 32 Bộ Luật Tố tụng Dân sự)
4
.
Thẩm quyền dân sự của Toà án cấp tỉnh:
Theo quy định tại Điều 34 Bộ Luật Tố tụng dân sự, Toà án cấp tỉnh có
thẩm quyền giải quyết đối với:
- Tất cả các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,
thương mại, lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án, trừ những
tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án c
ấp huyện.
- Các yêu cầu về lao động;
Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ:
Thẩm quyền dân sự của Toà án theo lãnh thổ là thẩm quyền của Toà
án trong việc giải quyết các vụ việc dân sự trên địa bàn. Về thực chất đây là
sự phân định thẩm quyền giữa các Toà án cùng cấp trong việc giải quyết vụ
việc theo thủ tục sơ thẩm.
Để tạo điề
u kiện cho nguyên đơn, người yêu cầu được thuận lợi tham
gia tố tụng, Điều 36 Bộ Luật Tố tụng Dân sự quy định trong trường hợp có
nhiều Toà án đều có điều kiện giải quyết một vụ việc dân sự thì nguyên đơn,
người yêu cầu có quyền lựa chọn một trong các Toà án có điều kiện để giải
quyết vụ việc.
1.3.1.2. Tiến hành khởi kiệ
n
Việc ủy quyền hợp pháp cho người khác khởi kiện vụ án dân sự tại Toà
có được chấp nhận. Người đại diện hợp pháp được cơ quan, tổ chức uỷ quyền
có thể là những cá nhân hoặc tổ chức khác có khả năng thực hiện việc khởi
kiện như luật sư, trung tâm tư vấn pháp luật hay những tổ chức khác có đủ
khả
năng thực hiện việc khởi kiện. Theo quy định của Bộ Luật Tố tụng Dân
sự và Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán thì hình
thức đơn khởi kiện vụ án như sau: nếu người khởi kiện là cá nhân phải ký tên
hoặc điểm chỉ; nếu cơ quan, tổ chức khởi kiện thì đại diện hợp pháp của cơ
quan, tổ ch
ức đó phải ký tên, đóng dấu (Điều 163k2 Bộ Luật Tố tụng Dân sự).
Các nội dung trong đơn khởi kiện được quy định tại Điều 164 Bộ Luật
Tố tụng Dân sự, cụ thể:
- Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện
- Tên Toà án nhận đơn khởi kiện
- Tên, địa chỉ của người khởi kiện và của người bị kiện
- Tên, địa chỉ
của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, của người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, của người làm chứng (nếu có)
24
- Những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết đối với bị đơn, người
có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan;
- Liệt kê các tài liệu và chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là
ó căn cứ và hợp pháp, cũng như các thông tin cần thiết khác.
Kèm theo đơn khởi kiện là các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu
cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Các chứng cứ hay tài liệu đượ
c gửi
đến Toà án gắn với nội dung của yêu cầu trong từng vụ việc cụ thể. Việc gửi
đơn khởi kiện và các chứng cứ, tài liệu kèm theo đến Toà án có thẩm quyền