MỤC LỤC:
Trang.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ. 2
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. 2
1. Khái niệm nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng,
người tham gia tố tụng.
2
2. Cơ sở của nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng,
người tham gia tố tụng.
3
2.1. Cơ sở thực tiễn 3
2.2. Cơ sở pháp lí. 3
3. Ý nghĩa nguyên tắc đảm bảo sự vô sự của người tiến hành tố tụng,
người tham gia tố tụng.
4
4. Nội dung của nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng,
người tham gia tố tụng.
4
4.1. Đối với người tiến hành tố tụng. 4
4.2. Đối với người tham gia tố tụng. 5
5.Việc đảm bảo thực hiện nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của những người
tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng.
6
6. Về thực trạng thực hiện nguyên tắc đảm bảo sự vô tư cũng người tiến
hành tố tụng, người tham gia tố tụng và một số giải pháp.
7
III. KẾT LUẬN.
8
1
I. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Khi xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật ngoài quan tâm tới sự phù
2
của những người tham gia tố tụng. Chánh án Tào án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân
dân, Thư ký Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, người phiên dịch,
người giám định không được tiến hành hoặc tham gia tốt tụng, nếu có lý do xác
đáng để cho rằng họ có thể không có sự vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn của mình”.
2. Cơ sở của nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng,
người tham gia tố tụng.
2.1. Cơ sở thực tiễn
Đây là một nguyên tắc xuất phát từ đòi hỏi đảm bảo lợi ích giữa các đương
sự tham gia trong quá trình xử lí các vụ việc dân sự, đảm bảo sự công bằng và sự
thật khách quan của vụ việc, bởi lẽ không phải lúc nào thì những người tham gia tố
tụng, ngươi tiến hành tố tụng cũng thực sự vô tư. Như trong trường hợp họ là
người nhà của nhau, vợ chồng của nhau, họăc họ có mối thân tình với nhau …
những trường hợp này sẽ làm cho những người tham gia tố tụng, người tiến hành
tố tụng có sự thiên vị hay định kiến tạo nên sự không công bằng đối với một trong
hai bên điều này ảnh hưởng tới việc thực thi pháp luật một cách nghiêm minh, làm
giảm lòng tin của người dân đối với việc thực thi pháp luật và ngay cả trong trường
hợp người tiến hành tốt tụng người tham gia tố tụng có thực sự công tâm thì những
người xung quanh cũng không có sự tin tưởng một cách tuyệt đối với sự tham gia
của họ vào quá trình giải quyết vụ việc. Chính vì những lí do trên
mà nguyên tắc được đặt ra.
2.2. Cơ sở pháp lí.
Nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng được xuất phát từ nguyên tắc pháp chế. Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi trong
mọi mặt của đời sống xã hội pháp luật được tuân thủ một cách triệt để, pháp luật là
tối thượng. Để thực hiện được điều này cần thiết phải đặt ra nguyên tắc đảm bảo sự
vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, bởi lẽ chỉ khi nào mà
người tiến hành tố tụng ngưởi tham gia tố tụng thực sự vô tư, thực sự tôn trọng sự
thật, sự khách quan trong quá trình xét xử, giải quyết vụ án thì pháp luật mới được
đòi hỏi những người này phải thật sự vô tư, khách quan trong khi làm nhiệm vụ.
Để đảm bảo sự vô tư của những người tham gia tố tụng thì theo quy định tại Điều
46 Bộ luật tốt tụng dân sự thì người tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng
hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau:
“1. Họ đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đương sự.
2. Họ đã tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong cùng vụ án
đó.
3. Có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.”
Như vậy khi có căn cứ chứng minh người tiến hành tố tụng có thể không vô
4
tư hay thậm chí chỉ là có khả năng cho rằng những người tiến hành tố tụng không
vô tư trong việc tham gia tố tụng thì lập tức họ sẽ bị thay đổi. Việc này đảm bảo
cho việc xem xét các chứng cứ, việc quyết định, xét sử, giám sát việc xét sử các vụ
việc dân sự được diễn ra một cách vô tư, chính xác nhất không làm ảnh hưởng tới
sự công bằng, bình đẳng giữa các đương sự trong các vụ việc dân sự. Việc thay đổi
người tiến hành tố tụng được quy định tại các Điều 47, 48, 49 Bộ luật tố tụng dân
sự, thẩm quyền và thủ tục tiến hành được quy định tại các Điều 50, 51.
4.2. Đối với người tham gia tố tụng.
Người tham gia tố tụng là: “Những người tham gia vào việc giải quyết vụ
việc dân sự và thi hành án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay
của người khác hoặc hỗ trợ tòa án, cơ quan thi hành án trong việc giải quyết vụ
việc dân sự và thi hành án dân sự”. Để đảm bảo cho sự vô tư của những người
tham gia tố tụng thì theo quy định tại các Điều 68, 70 đối với người tham phiên
dịch người giám định là người không có các quyền và lợi ích pháp lí liên quan đến
vụ án mà hộ tham gia tố tụng nhằm góp phần vào việc xác định sự thật của vụ án,
pháp luật cũng đòi hỏi sự vô tư của họ khi tham gia vào tố tụng hình sự vụ việc này
được quy định cụ thể như sau:
Khoản 3 Điều 68 quy định “ Người giám định phải từ chối hoặc bị thay đổi
trong những trường hợp sau đây: