Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Thủy Q7N2
Lời nói đầu
Lời nói đầu
Chúng ta đang bớc vào Thế kỷ XXI với những biến đổi
nhanh chóng về khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Điều này đòi
hỏi chúng ta phải thay đổi t duy kịp thời, nhất là cách nhìn và tầm
nhìn sao cho phù hợp với yêu cầu cao của thời đại, đồng thời tạo
ra đợc sự thích nghi tốt. Đây cũng là bài toán vận mệnh cho mỗi
quốc gia, mỗi dân tộc, bằng truyền thống và năng lực nội sinh
của mình, phải tạo ra đợc những bớc đi đúng đắn nhất để có thể
nhanh chóng tiếp cận và hoà nhập vào trào lu chung đó.
Trong một thế giới đầy sáng tạo và biến động cực kỳ nhanh
chóng, con ngời muốn tồn tại và phát triển thì điều đầu tiên là cần
phải biết cách thích nghi, chủ động thích nghi. Tuy nhiên, trong
quá trình thích nghi phải biết phát huy sở trờng, bản lĩnh của
mình để chủ động tham gia sáng tạo. Quan điểm đúng đắn ngày
nay là kết hợp giữa thích nghi và sáng tạo. Thực ra con ngời biết
cách thích nghi tối u với xã hội cũng là con ngời có phẩm chất
sáng tạo. Nói đến hoạt động của con ngời với cộng đồng và xã hội
là phải nói tới sản phẩm và hiệu quả, có vậy mới tồn tại và phát
triển đợc. Để đạt đợc các ý tởng và nguyện vọng này, chúng ta
không có con đờng nào u việt hơn là phát triển và quản lý nguồn
Nhân lực- một đầu vào quan trọng nhất trong mọi hoạt động của
xã hội loài ngời, một cách hiệu quả và bền vững nhất.
Đối với nớc ta, thế kỉ XXI là cơ hội to lớn để phát triển và
từng bớc hoà nhập, sánh vai với các cờng quốc trên thế giới. Nh-
ng đồng thời đây cũng là thách thức vô cùng khó khăn, khốc
liệt, đòi hỏi dân tộc ta phải cố gắng và cải tiến không ngừng,
cùng với nghị lực phi thờng và tài năng sáng tạo để đi tới
thành công.
1
Nếu bạn lập kế hoạch cho 20 năm, hãy trồng rừng
2
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Thủy Q7N2
Nếu bạn lập kế hoạch cho hàng thế kỷ, hãy đầu t vào con ngời"
(Trích Ngạn ngữ Trung Quốc)
Nhận thức đợc tình hình trên và với mong muốn đợc có cơ
hội hiểu rõ hơn về thực trạng công tác đào tạo và phát triển
nguồn Nhân lực tại doanh nghiệp, em đã chọn đề tài: Thực trạng
và một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo và phát
triển nguồn Nhân lực trong công ty Bảo hiểm Nhân thọ Prudential
Việt Nam làm khoá luận tốt nghiệp của mình.
1. Mục đích nghiên cứu đề tài:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích và đánh giá thực
trạng nguồn Nhân lực hiện có của công ty Bảo hiểm Nhân thọ
Prudential Việt Nam. Trên cơ sở đó đề ra những biện pháp và kế
hoạch thích hợp nhằm đào tạo và phát triển nguồn Nhân lực đáp
ứng các chiến lợc phát triển kinh doanh trớc mắt cũng nh lâu dài
của của công ty.
2. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:
Đây là đề tài thuộc nhóm ngành Khoa học Xã hội, nghiên cứu
các hoạt động đào tạo và phát triển nguồn Nhân lực tại một công
ty Bảo hiểm của nớc ngoài hoạt động tại Việt Nam. Vậy đối tợng
và phạm vi nghiên cứu của đề tài là công tác đào tạo và phát
triển nguồn Nhân lực tại công ty Bảo hiểm Nhân thọ Prudential
Việt Nam bắt đầu từ năm 1995.
3. Phơng pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng các phơng pháp nghiên cứu cơ bản nh: phơng
pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phơng pháp điều tra
chọn mẫu các đối tợng liên quan, phân tích, tổng hợp thống kê và
so sánh. Trong quá trình nghiên cứu, các phơng pháp này đợc sử
(1)
, thì Mác
chứng minh rằng chính lao động Sáng tạo nên con ngời và toàn bộ lịch sử
loài ngời
(1)
.
Mặt khác, xã hội cũng là nhân tố chính tác động không nhỏ đến sự
hình thành ý thức của con ngời. Xã hội là điều kiện, là môi trờng, là phơng
thức để lợi ích cá nhân đợc thực hiện. Xã hội càng phát triển thì quan hệ lợi
ích giữa cá nhân và xã hội càng đa dạng, phức tạp và phong phú. Nói nh vậy
để thấy rằng bản chất của con ngời không phải là Cái sinh ra một lần là
xong , mà nó là quá trình con ngời không ngừng tự hoàn thiện mình nhằm
chứng minh sự tồn tại trớc các lực lợng tự phát của thiên nhiên.
Con ngời là đại diện chính cho lực lợng sản xuất vật chất và lĩnh vực
kinh tế và vì vậy nó là động lực chủ yếu của tiến bộ xã hội. Mặc dù khoa học
cùng với những thành tựu công nghệ, những t tởng tiên tiến cũng đóng một
vai trò quan trọng, tác động mạnh đến sự phát triển xã hội nhng xét đến cùng
mọi thành tựu đó cũng đều do con ngời sáng tạo mà thành. Bởi lẽ, thông qua
hoạt động thực tiễn của con ngời, thông qua sự tác động của nó đến quá trình
sản xuất và thông qua trình độ hiểu biết khoa học của ngời lao động thì các
tiến bộ khoa học kỹ thuật mới đợc đa vào thực tiễn. Bởi vì lợi ích kinh tế luôn
là động lực phát triển quan hệ sản xuất nên lực lợng sản xuất theo đó cũng
phải có những thay đổi tích cực về mặt nhận thức để thúc đẩy xã hội phát
triển.
(1)
Bản thảo triết học kinh tế năm 1844 của Mác
5
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Thủy Q7N2
Nói về quan hệ giữa trình độ lao động với sự phát triển xã hội ta phải
kể đến quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực
khoa học, kỹ thuật của mình.
Năng suất lao động xã hội là thớc đo trình độ phát triển của lực lợng
sản xuất. Đồng thời, xét đến cùng nó là nhân tố quan trọng nhất cho mọi sự
thắng lợi của một trật tự xã hội mới.
Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại đã tạo ra bớc
nhảy vọt lớn trong lực lợng sản xuất. Khoa học thực sự trở thành một lực lợng
sản xuất trực tiếp, đóng vai trò quan trọng. Thực chất của cuộc cách mạng
(2)
Trích V.I Lênin toàn tập, trang 38
6
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Thủy Q7N2
này là mở ra một kỷ nguyên mới của sản xuất tự động hoá với việc phát triển
và ứng dụng điều khiển học tự động và vô tuyến điện tử. Khoa học trở thành
điểm xuất phát cho những biến đổi to lớn trong kỹ thuật sản xuất, tạo ra
những ngành sản xuất mới, kết hợp với khoa học thành một thể thống nhất, đ-
a đến những phơng pháp công nghệ tiên tiến đem lại hiệu quả cao. Việc phát
hiện, khai thác và chế tạo các nguồn năng lợng mới nh năng lợng nguyên tử,
năng lợng mặt trời, hay nh sự thay thế dần ngời lao động trong sản xuất bằng
tự động hóa và ngời máy (rôbốt) đã tạo ra sự biến đổi lớn trong chức năng
của ngời sản xuất. Dần dần con ngời không còn phải thao tác trực tiếp trong
hệ thống kỹ thuật mà chủ yếu là sáng tạo và điều khiển quá trình đó một cách
chủ động: tri thức khoa học trở thành một tất yếu trong hoạt động của ngời
sản xuất thay cho thói quen và kinh nghiệm thông thờng. Tri thức khoa học
đợc vật chất hoá, đợc kết tinh vào mọi nhân tố của lực lợng sản xuất từ đối t-
ợng lao động, t liệu lao động đến kỹ thuật, phơng pháp công nghệ và nó đợc
gọi là "Khoa học hoá trong sản xuất".
Do khoa học trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp mà cấu thành lực l-
ợng sản xuất cũng thay đổi. Lực lợng lao động không chỉ bao gồm lao động
chân tay, mà còn bao gồm cả kỹ thuật viên, kỹ s và những cán bộ khoa học.
Để đạt mục tiêu kinh tế nhất và sự tiến bộ xã hội thì việc nâng cao dần trình
* Tính chất và trình độ của lực l ợng sản xuất :
Tính chất của lực lợng sản xuất do tính chất của t liệu sản xuất và của
lao động quyết định. Tính chất cá nhân thể hiện ở sự kết hợp giữa sử dụng
công cụ thủ công với hoạt động riêng lẻ của con ngời, trong khi tính chất xã
hội lại là sự hợp tác của nhiều ngời cùng với các thiết bị máy móc để hoàn
thành một sản phẩm.
Trình độ của lực lợng sản xuất là trình độ phát triển của công cụ lao
động, của kỹ năng lao động, công nghệ sản xuất, trình độ phân công lao động
xã hội. Ngày nay, trình độ của lực lợng sản xuất đợc thể hiện rõ ràng nhất
qua trình độ phát triển của phân công lao động.
* Quan hệ sản xuất hình thành, biến đổi, phát triển đ ợc quyết định bởi lực
l ợng sản xuất :
Trong quá trình sản xuất, con ngời không ngừng sáng tạo và cải thiện
công cụ lao động cũng nh điều kiện sản xuất để giảm thiểu chi phí sản xuất
và tối đa hóa lợi nhuận. Cùng với sự biến đổi này thì kinh nghiệm sản xuất,
kỹ năng sản xuất và kiến thức khoa học của con ngời cũng tiến bộ theo. Lực
lợng sản xuất trở thành yếu tố hoạt động nhất, cách mạng nhất trong khi đó
thì quan hệ sản xuất lại tơng đối ổn định, có khuynh hớng bảo thủ hơn. Lực l-
ợng sản xuất là nội dung của phơng thức sản xuất còn quan hệ sản xuất là
hình thức xã hội của nó. Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thì
nội dung quyết định hình thức; hình thức phụ thuộc vào nội dung; nội dung
8
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Thủy Q7N2
thay đổi trớc sau đó hình thức mới biến đổi theo. Tất nhiên trong quan hệ với
nội dung, hình thức không phải là mặt thụ động mà nó cũng có tác động trở
lại đối với sự phát triển của nội dung.
Cùng với sự phát triển của lực lợng sản xuất, quan hệ sản xuất cũng
hình thành và biến đổi sao cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng
sản xuất. Tuy vậy, tất yếu mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản
xuất sẽ nảy sinh. Bởi lẽ khi lực lợng sản xuất phát triển lên một trình độ
9
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Thủy Q7N2
con ngời, không phản ánh đợc con ngời nh nó đang thể hiện. Chỉ có quan
điểm duy vật lịch sử cho rằng con ngời là một thực thể thống nhất của sinh
học và xã hội là đa ra tầm nhìn khái quát nhất về con ngời.
1.2.1. Con ngời là một thực thể sinh học:
Nói đến yếu tố sinh học ở đây là ta muốn nói đến các yếu tố hữu sinh,
hữu cơ, cái làm cho con ngời hình thành và hoạt động nh một cá thể sống.
Nói cách khác đó chính là cơ thể con ngời với bản chất tâm sinh lý, ý thức
khác biệt hẳn so với giới động vật.
1.2.2. Con ngời là một thực thể xã hội:
Yếu tố xã hội là tất cả những mối quan hệ, những quy định xã hội tạo
nên cá nhân con ngời. Sự hình thành bản chất xã hội của con ngời chính là
thông qua lao động sản xuất. Các Mác từng nói: Bản thân con ngời bắt đầu
bằng sự phân biệt với súc vật ngay khi con ngời bắt đầu sản xuất ra những t
liệu sinh hoạt của mình
(3)
.Bởi vì:
- Lao động là nguồn gốc của nền văn minh vật chất và tinh thần.
- Lao động là nguồn gốc trực tiếp của sự hình thành ý thức.
- Trong lao động con ngời quan hệ với nhau trong lĩnh vực sản xuất,
phân công và phân phối sản phẩm.
Nói nh vậy để thấy rằng, xã hội không phải là thực thể tồn tại độc lập
bên ngoài cái bản tính sinh học của con ngời mà xã hội là phơng thức (hình
thức) cho con ngời thỏa mãn những nhu cầu sinh học.
1.2.3. Quan hệ biện chứng giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội:
Angghen là ngời đầu tiên đã chỉ ra mối quan hệ giữa yếu tố sinh học
và yếu tố xã hội trong con ngời. Ông viết: Bàn tay không chỉ là khí quan
dùng để lao động mà còn là sản phẩm của lao động
(4)
mình, đồng thời không ngừng hoàn thiện mình trớc sự phát triển của xã hội
nhằm đáp ứng nhu cầu sinh học ngày càng tăng. Chính vì vậy, bản chất của
con ngời cũng không phải là cái đã sinh ra một lần là xong mà nó là quá trình
con ngời tự hoàn thiện mình để thích nghi và cải thiện xã hội. Một sự ngng
trệ trong nhận thức, cũng nh quan điểm bảo thủ cứng nhắc của con ngời trớc
sự thay đổi chóng mặt của giới tự nhiên sẽ chỉ làm cho con ngời bị đào thải
và loại bỏ khỏi xã hội đó. Việc nhận thức đúng đắn chiến lợc giáo dục, đào
tạo con ngời trong thời đại mới có ý nghĩa tích cực cho cuộc sống của con
ngời và cho sự tiến bộ xã hội.
2. Quan điểm, đờng lối, chính sách của Đảng và Chủ
tịch Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục, đào tạo và
phát triển nguồn nhân lực:
Tuy có sự khác nhau về mặt địa lý, trình độ phát triển nhng các nớc
trên thế giới ngày nay đang bị cuốn hút vào cuộc cách mạng Khoa học và
Công nghệ hiện đại. Tri thức khoa học xâm nhập vào mọi mặt của đời sống
xã hội và trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp. Hàm lợng chất xám trong sản
phẩm lao động ngày càng cao, khoa học trở thành nguồn tăng trởng kinh tế,
nền sản xuất vật chất và đời sống xã hội đang trong quá trình quốc tế hoá sâu
sắc. Tình hình đó vừa tạo ra thời cơ để rút ngắn quá trình phát triển, vừa đặt
ra những thách thức gay gắt đối với những quốc gia đang còn lạc hậu về kinh
tế. Với đặc điểm nớc ta là một nớc nông nghiệp lạc hậu tiến lên Chủ nghĩa
Xã hội bỏ qua chế độ T bản Chủ nghĩa, nên ngay từ đầu chúng ta đã gặp rất
nhiều khó khăn. Nh V.I.Lênin viết: Cần phải có một thời kỳ quá độ khá lâu
dài từ CNTB lên CNXH vì cải tổ sản xuất là việc khó khăn, vì cần phải có
thời gian mới thực hiện đợc những thay đổi căn bản trong mọi lĩnh vực của
(6)
V.I. Lênin: Toàn tập, NXB Tiến Bộ Mátxcơva 1986, tập 24, trang 440
11
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Thủy Q7N2
cuộc sống, và vì phải trải qua một cuộc sống đấu tranh quyết liệt, lâu dài mới
phải có những kỹ s, công nhân có tay nghề cao, nắm đợc bí quyết công nghệ.
Đồng thời phải có một bộ máy quản lý năng động đủ sức nắm bắt nhu cầu
biến động của thị trờng, có khả năng nhanh chóng tổ chức lại dây chuyền sản
xuất linh hoạt, phù hợp với yêu cầu khách hàng để chế tạo ra những sản
phẩm mới. Điều này đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay, khi mà
công nghệ đã thực sự trở thành nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của
sản phẩm trên thị trờng trong nớc và thế giới.
(7)
V.I. Lênin: Toàn tập, tập 38, trang 464
(8)
Nghị quyết TW lần thứ 4, khoá VII
12
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Thủy Q7N2
Trong điều kiện cách mạng công nghệ hiện nay, sự đẩy nhanh về số l-
ợng của nguồn lao động đơn giản hoặc tay nghề thấp sẽ ngày càng mất dần ý
nghĩa của nó và lợi thế sẽ thuộc về những quốc gia nào có nguồn Nhân lực trí
tuệ cao, có kỹ năng vững vàng, có khả năng sáng tạo theo kịp sự phát triển
của Khoa học Công nghệ hiện đại. Vì vậy, trong các kỳ Đại hội, Đảng và
Nhà nớc ta luôn coi Giáo dục, Đào tạo và Phát triển nguồn Nhân lực là
khâu then chốt, là điều kiện cần để đa nớc ta thoát khỏi đói nghèo và vững
mạnh trên con đờng Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nớc.
Một trong những u thế của Việt Nam là nguồn Nhân lực dồi dào, tỷ lệ
lao động nhóm trẻ cao (tỷ lệ lao động từ 18-34 tuổi chiếm khoảng 25% lực l-
ợng lao động). Tuy là nớc có mức thu nhập Quốc dân bình quân đầu ngời
thấp (400 USD) nhng trình độ học vấn và dân trí của Việt Nam lại khá cao.
Hiện nay, tỷ lệ dân số biết chữ chiếm khoảng 94%, tỷ lệ lao động biết chữ
khoảng 97%, số năm đi học trung bình là 7,3; lao động Việt Nam có truyền
thống cần cù, sáng tạo và đang từng bớc đợc giải phóng; giá công lao động
lại khá thấp. Tuy nhiên, nguồn Nhân lực Việt Nam nhìn chung sức khỏe còn
hạn chế, đa số lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật dẫn đến năng
tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2010 nớc ta cơ bản trở thành một nớc
Công nghiệp theo hớng hiện đại. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu này, chúng
ta sẽ tiến theo con đờng Công nghiệp hoá rút ngắn, trên cơ sở kết hợp linh
hoạt và hợp lý những bớc đi tuần tự với những bớc đi nhảy vọt, đặc biệt chú
trọng những ngành mũi nhọn nh Công nghệ Thông tin, Công nghệ Sinh học,
Công nghệ Vật liệu mới. Tuy nhiên, nếu không có nguồn Nhân lực tơng xứng
thì nớc ta sẽ tự biến mình thành bãi thải công nghệ của các nớc phát triển và
ngay cả những thiết bị công nghệ tối tân nhất cũng không thể phát huy hết
tác dụng. Do vậy, để đảm bảo cho đất nớc ta phát triển nhanh và bền vững
theo định hớng Xã hội Chủ nghĩa, các Văn kiện của Đại hội lần thứ IX đã
khẳng định: Phát triển Giáo dục và Đào tạo đợc coi là một trong những
động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá, là
điều kiện để phát huy nguồn lực con ngời- yếu tố cơ bản để phát triển xã hội,
tăng trởng kinh tế nhanh và bền vững, phát triển Khoa học công nghệ cùng
với phát triển Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động
lực thúc đẩy mạnh Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nớc. Đặc biệt, việc
Tạo bớc chuyển mạnh về phát triển nguồn Nhân lực, trọng tâm là Giáo dục
và đào tạo, Khoa học và công nghệ đã đợc xác định là một trong ba khâu
đột phá then chốt để làm chuyển động toàn bộ tình hình nền Kinh tế- Xã hội
Việt Nam. và là một bứt phá quan trọng để đi vào thực hiện chiến lợc 2001-
2010.
3. Quan điểm về giáo dục, đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực:
3.1. Nguồn nhân lực và quản trị nguồn nhân lực:
14
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Thủy Q7N2
3.1.1. Khái niệm về nguồn Nhân lực:
- Nguồn Nhân lực là nguồn lực của mỗi con ngời. Nó bao gồm thể lực,
trí lực, khả năng của các giác quan và khí quan.
15
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Thủy Q7N2
Ngày nay có nhiều quan niệm khác nhau về đào tạo và phát triển
nguồn Nhân lực, tuy nhiên tất cả đều thống nhất rằng đó là một hoạt động có
tổ chức đợc tiến hành trong một thời gian xác định nhằm đem đến sự thay đổi
về trình độ, kỹ năng và thái độ của ngời lao động đối với công việc của họ,
nhằm giúp ngời lao động thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của
mình.
- Giáo dục nguồn Nhân lực là quá trình cung cấp cho ngời lao động
những kỹ năng cần thiết giúp họ hoàn thiện những mặt yếu kém trong công
việc. Nói cách khác, giáo dục là quá trình tích lũy tri thức, vốn sống để chuẩn
bị con ngời cho tơng lai.
- Đào tạo nguồn Nhân lực là tạo ra một môi trờng, tại đó cá nhân có
thể học kiến thức, kỹ năng, khả năng, thái độ và hành vi cụ thể liên quan đến
công việc, nhằm giúp ngời lao động thực hiện có hiệu quả hơn chức năng và
nhiệm vụ của mình.
- Phát triển nguồn Nhân lực là quá trình học tập nhằm mở ra cho cá
nhân những công việc mới, khả năng mới dựa trên cơ sở định hớng tơng lai
của tổ chức.
Lĩnh vực phát triển nguồn Nhân lực đợc coi là ở cấp độ đào tạo nhân
viên cao hơn so với các lĩnh vực khác. Mục đích của giáo dục đào tạo là cần
những sự tiến bộ nhanh chóng trong công việc của ngời lao động trong khi đó
mục đích của phát triển nguồn Nhân lực lại tạo ra một nguồn lao động đủ khả
năng cho công việc, tổ chức trong tơng lai. Sự khác biệt này sẽ đợc thể hiện
dới dạng bảng sau:
Giáo dục, đào tạo Phát triển
Tập trung Công việc hiện tại. Công việc hiện tại và tơng lai.
Phạm vi Cá nhân ngời lao động. Tổ chức theo nhóm.
Thời gian Ngắn, ngay lập tức. Trong khoảng thời gian dài
Mục đích Bổ sung các kỹ năng còn
Hiệu quả đào tạo = Động cơ của nhân viên x Khả năng.
(10)
3.3. Những nhân tố ảnh hởng tới công tác đào tạo và phát triển nguồn
Nhân lực:
Mọi sự vật, hiện tợng trong quá trình phát sinh, tồn tại và phát triển
đều gắn với một môi trờng cụ thể và chịu sự tác động từ các yếu tố của môi
trờng đó. Con ngời là một cơ thể sống và vì vậy luôn có sự trao đổi chất và
chịu sự chi phối từ môi trờng tự nhiên và môi trờng xã hội. Trong khi đó
doanh nghiệp đợc coi là tế bào kinh tế của xã hội thì chịu sự chi phối của các
(10)
Sánh quản lý nguồn Nhân lực ở Australia của các tác giả Schuler, Dowling, Smart và Huber
17
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Thủy Q7N2
tác nhân cả bên ngoài và bên trong doanh nghiệp nh: những tiến bộ khoa học
kỹ thuật, bối cảnh kinh tế, thị trờng sức lao động, khách hàng, các đối thủ
cạnh tranh; mục tiêu sứ mạng, văn hóa và nguồn Nhân lực trong doanh
nghiệp. Những tác nhân này, vì vậy, cũng có ảnh hởng không nhỏ tới quá
trình đào tạo và phát triển nguồn Nhân lực trong doanh nghiệp.
3.3.1. Môi trờng bên ngoài:
Môi trờng bên ngoài là những nhân tố chi phối mọi hoạt động của
doanh nghiệp nói chung đồng thời chi phối cách thức và nội dung của hoạt
động quản trị Nhân lực nói riêng. Một vài nhân tố đặc trng của môi trờng bên
ngoài ảnh hởng tới công tác đào tạo và phát triển nguồn Nhân lực:
- Bối cảnh kinh tế: Thực trạng nền kinh tế thờng biến động. Nền kinh
tế ổn định, phát triển hay đang trì trệ, suy thoái đều có tác động đến hầu hết
các tổ chức sản xuất kinh doanh, đến mục tiêu chiến lợc của doanh nghiệp.
Vì vậy, nó cũng ảnh hởng lớn đến công tác đào tạo và phát triển nhân viên.
Khi nền kinh tế suy thoái, các doanh nghiệp có xu hớng thu hẹp dần sản xuất
bằng việc giảm nhân công lao động, giảm chi phí tiền lơng. Lúc này tổ chức
các khóa huấn luyện, đào tạo và phát triển nhân viên sẽ gặp nhiều khó khăn
góp phần tạo nên sự thành công của doanh nghiệp đó.
- Bầu không khí văn hóa: chủ yếu đợc hình thành và phát triển từ tấm
gơng của các cấp quản trị. Một nhà lãnh đạo tạo ra bầu không khí học tập
bằng việc khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân viên nâng cao
kiến thức, sẽ có đợc một đội ngũ nhân viên thích ứng nhanh nhạy với mọi
biến động của thị trờng.
Ngoài ra, còn có các yếu tố khác nh đặc điểm công nghệ sản xuất,
kinh phí dành cho đào tạo, các chính sách, chiến lợc của công ty vv
Việc nghiên cứu ảnh hởng của từng nhân tố trên sẽ giúp nhà Quản trị
Nhân lực hoạch định chính xác các kế hoạch đào tạo để không những thích
hợp với nguyện vọng, nhu cầu của nhân viên mà còn đáp ứng đợc yêu cầu
trong tơng lai của doanh nghiệp.
3.4. Tiến trình đào tạo và phát triển nguồn Nhân lực:
Để có thể thực hiện đợc các khóa đào tạo và phát triển nhân viên phù
hợp với quy mô hoạt động cũng nh loại hình tổ chức, mỗi doanh nghiệp đều
tự hoạch định cho mình một chơng trình huấn luyện, đào tạo nhân viên riêng
biệt. Tuy nhiên, các doanh nghiệp này đều tuân theo một chu trình đào tạo và
phát triển chung. Sau đây là sơ đồ tiến trình đào tạo và phát triển nguồn Nhân
lực mang tính chất tổng quát:
19
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Thủy Q7N2
Sơ đồ tiến trình đào tạo
và phát triển nguồn nhân lựC
20
Định rõ nhu cầu đào tạo và
phát triển NNL
Xác định các mục tiêu cụ
thể
Lựa chọn phơng pháp ĐT-
PT thích hợp
doanh, đào tạo đội ngũ kế cận cho doanh nghiệp.
* Biến số con ng ời : Bớc phân tích này nhằm kiểm tra các vấn đề xoay
quanh thực trạng nguồn Nhân lực. Nó bao gồm việc xem xét khối lợng và
chất lợng nguồn nhân lực cần thiết để đáp ứng các yêu cầu thực hiện công
việc ở hiện tại và tơng lai. Trong đó việc đánh giá chất lợng nguồn Nhân lực
chủ yếu liên quan tới mức độ hoàn thành công việc hay năng suất của nhân
viên. Qua quá trình đó ta có thể xác định cụ thể ai cần đào tạo và họ cần có
những kỹ năng, tri thức gì. Quá trình phân tích con ngời cũng nhằm tìm ra
khoảng trống giữa mức độ thực hiện công việc mong muốn và mức độ hoàn
thành công việc thực tế của nhân viên.
21
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Thủy Q7N2
* Biến số công việc hay nhiệm vụ: Phân tích công việc hoặc nhiệm vụ
để xem công việc đó đáp ứng những nhu cầu gì của nhân viên hay nhân viên
cần có những kỹ năng gì để hoàn thành tốt công việc. Loại phân tích này th-
ờng đợc áp dụng trong việc đào tạo nhân viên mới hoặc khi phát triển một
loại hình công việc mới. Thông qua thông tin ở bản mô tả chi tiết công việc
và kiến thức thực tế của nhân viên, nhà Quản trị Nhân sự sẽ xác định đợc
kiến thức còn thiếu của nhân viên để từ đó đa ra các chơng trình đào tạo và
phát triển phù hợp.
3.4.2. Xác định mục tiêu cụ thể để xây dựng chơng trình đào tạo và phát
triển nguồn Nhân lực:
Mục tiêu chính của một chơng trình đào tạo và phát triển nhân viên là
sử dụng tối đa nguồn Nhân lực. Đào tạo ngời lao động là để chuẩn bị cho họ
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ một cách tự giác và tốt hơn đồng thời giúp
họ am hiểu hơn về công việc hiện tại. Mục tiêu cuối cùng của phát triển
nguồn Nhân lực là đạt đợc hiệu quả cao nhất về tổ chức. Vì vậy, phát triển và
đào tạo nguồn Nhân lực phải luôn gắn liền với quá trình phát triển và chiến l-
ợc của doanh nghiệp. Đó là:
- Nâng cao thành tích của doanh nghiệp, thông qua những chỉ tiêu nh
ngời lao động.
- Không khí, môi trờng học thoải
mái, nhẹ nhàng.
- Có thể kiểm tra lý thuyết và ý tởng
trong môi trờng ít rủi ro (trao đổi
kiến thức và kinh nghiệm).
Nh ợc điểm .
- Rủi ro cao đối với máy móc, thiết
bị... tăng phế liệu do thiếu kinh
nghiệm làm việc.
- Thiếu thời gian do áp lực sản xuất,
kinh doanh.
- Ap lực tâm lý đè nặng lên ngời lao
động khi phải bộc lộ mình trớc
những nhân viên có kinh nghiệm.
Nh ợc điểm:
- Chí phí dành cho đào tạo và phát
triển nhân viên cao.
- Môi trờng không sát thực tế do vậy
khó ứng dụng những kiến thức đã
học vào công việc hiện tại.
- Thời gian sản xuất, kinh doanh bị
thu hẹp .
- Thiếu nguồn Nhân lực trong kinh
doanh.
3.4.4. Lựa chọn giáo viên và phơng tiện để đào tạo và phát triển nguồn
Nhân lực:
Việc xác định giáo viên nhận nhiêm vụ giảng dạy cũng là một khâu
quan trọng trong tiến trình đào tạo, phát triển nhân viên. Giáo viên có thể là
lãnh đạo cấp cao hoặc những ngời có trình độ, tay nghề ổn định trong doanh
Nh vậy tổng chi phí dành cho đào tạo và phát triển nguồn Nhân lực là:
K = A1 + A2 + A3
Trong đó:
K : Tổng chi phí dành cho đào tạo.
A1: Chi phí bên trong.
A2: Chi phí cơ hội.
A3: Chí phí bên ngoài.
3.4.6. Tổ chức thực hiện các chơng trình đào tạo và phát triển nguồn
Nhân lực:
Sau khi đã phân tích và lựa chọn đợc cách thức đào tạo thích hợp cho
nhân viên trong doanh nghiệp, nhà Quản trị Nhân sự tiến hành tổ chức các
khoá đào tạo và phát triển nhân viên. Cách thức tổ chức này bao gồm: cung
24
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Thủy Q7N2
cấp thời gian biểu, phổ biến những kiến thức tổng quát về yêu cầu và ích lợi
của các khoá học, đa ra các kích thích về vật chất (Nh tiền hay phần thởng),
kích thích về tinh thần (nh việc thăng tiến trong tơng lai) nhằm động viên,
khuyến khích nhân viên hăng say học tập. Bên cạnh đó, cũng cần đa ra các
nội quy thích hợp để có thể kiểm soát chặt chẽ quá trình đào tạo và phát triển
nhân viên.
3.4.7. Đánh giá giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn Nhân lực:
Sau khi tiến hành đào tạo và phát triển nguồn Nhân lực thì khâu đánh
giá kết quả là cần thiết. Vì qua đó ta có thể biết chơng trình thành công hay
không so với chỉ tiêu đã đề ra. Mặt khác đánh giá còn cung cấp thông tin
phản hồi cho quá trình đào tạo, từ đó giúp nhà Quản trị Nhân sự xây dựng, tổ
chức những khoá học phù hợp hơn với nhân viên, với chiến lợc và mục tiêu
của doanh nghiệp.
Việc đánh giá cần phải đợc thực hiện thờng xuyên, ngay cả trong quá
trình đào tạo để có thể điều chỉnh kịp thời những yếu kém hay sai xót sao cho
quá trình giáo dục, đào tạo đạt kết quả tốt nhất.