Thực trạng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn Nhân lực trong công ty Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam - Pdf 23

LỜI NÓI ĐẦU
Chúng ta đang bước vào Thế kỷ XXI với những biến đổi nhanh chóng về
khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Điều này đòi hỏi chúng ta phải thay đổi tư duy
kịp thời, nhất là cách nhìn và tầm nhìn sao cho phù hợp với yêu cầu cao của thời
đại, đồng thời tạo ra được sự thích nghi tốt. Đây cũng là bài toán vận mệnh cho
mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, bằng truyền thống và năng lực nội sinh của mình,
phải tạo ra được những bước đi đúng đắn nhất để có thể nhanh chóng tiếp cận và
hoà nhập vào trào lưu chung đó.
Trong một thế giới đầy sáng tạo và biến động cực kỳ nhanh chóng, con
người muốn tồn tại và phát triển thì điều đầu tiên là cần phải biết cách thích
nghi, chủ động thích nghi. Tuy nhiên, trong quá trình thích nghi phải biết phát
huy sở trường, bản lĩnh của mình để chủ động tham gia sáng tạo. Quan điểm
đúng đắn ngày nay là kết hợp giữa thích nghi và sáng tạo. Thực ra con người
biết cách thích nghi tối ưu với xã hội cũng là con người có phẩm chất sáng tạo.
Nói đến hoạt động của con người với cộng đồng và xã hội là phải nói tới sản
phẩm và hiệu quả, có vậy mới tồn tại và phát triển được. Để đạt được các ý
tưởng và nguyện vọng này, chúng ta không có con đường nào ưu việt hơn là
phát triển và quản lý nguồn Nhân lực- một đầu vào quan trọng nhất trong mọi
hoạt động của xã hội loài người, một cách hiệu quả và bền vững nhất.
Đối với nước ta, thế kỉ XXI là cơ hội to lớn để phát triển và từng bước
hoà nhập, sánh vai với các cường quốc trên thế giới. Nhưng đồng thời đây cũng
là thách thức vô cùng khó khăn, khốc liệt, đòi hỏi dân tộc ta phải cố gắng và
cải tiến không ngừng, cùng với nghị lực phi thường và tài năng sáng tạo để
đi tới thành công.
Một tư duy lý luận ngang tầm thời đại là yêu cầu cấp thiết đối với dân tộc
ta, bởi lẽ “Một dân tộc muốn phát triển phải có một tư duy lý luận phát triển”.
Dân tộc ta đã phải trải qua hàng trăm năm chiến đấu chống giặc ngoại xâm để
bảo vệ đất nước và giành độc lập chủ quyền. Đến nay, khi bước vào kỷ nguyên
mới, tiếp tục dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng, chúng ta hoàn toàn
hy vọng và đặt trọn niềm tin rằng đất nước và con người Việt nam sẽ vững bước
trong công cuộc đấu tranh chống nghèo nàn, lạc hậu và xây dựng một nước Việt

nguồn Nhân lực đáp ứng các chiến lược phát triển kinh doanh trước mắt cũng
như lâu dài của của công ty.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đây là đề tài thuộc nhóm ngành Khoa học Xã hội, nghiên cứu các hoạt động
đào tạo và phát triển nguồn Nhân lực tại một công ty Bảo hiểm của nước ngoài
hoạt động tại Việt Nam. Vậy đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là công
tác đào tạo và phát triển nguồn Nhân lực tại công ty Bảo hiểm Nhân thọ
Prudential Việt Nam bắt đầu từ năm 1995.
3. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản như: phương pháp duy
vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp điều tra chọn mẫu các đối tượng
liên quan, phân tích, tổng hợp thống kê và so sánh. Trong quá trình nghiên cứu,
các phương pháp này được sử dụng một cách linh hoạt, hoặc kết hợp hoặc riêng
lẻ để giải quyết các vấn đề được tốt nhất.
Nội dung của khoá luận:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, đề tài được kết
cấu thành 3 phần như sau:
Chương một: Cơ sở lý luận của đề tài.
Chương hai: Thực trạng về công tác đào tạo và phát triển nguồn Nhân lực tại
công ty Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam.
Chương ba: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển
nguồn Nhân lực tại công ty Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam.
Chương một
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1. MỘT SỐ TƯ TƯỞNG KINH ĐIỂN CỦA MÁC, ANGHEN VÀ LÊNIN
VỀ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
Khái quát chung:
Từ thời xa xưa con người đã nhận thức được một cách sâu sắc rằng chỉ có
lao động mới tạo ra được của cải vật chất, và chỉ có lao động con người mới tồn
tại và phát triển trong xã hội. Thông qua lao động nhu cầu sinh học của con

1.1. Nội dung Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất:
1.1.1. Lực lượng sản xuất:
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa người với giới tự nhiên.
Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của loài
người. Đó là kết quả hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình tác động
vào giới tự nhiên để tạo ra của cải vật chất, bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển
của chính mình.
Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và người lao động. Trong đó,
tư liệu sản xuất bao gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động. Nếu như đối
tượng lao động là một phần của giới tự nhiên được con người chuyển hoá và
sáng tạo nhằm không ngừng mở rộng khả năng sản xuất thì tư liệu lao động
trong đó công cụ lao động được coi là "Hệ thống xương cốt và bắp thịt của sản
xuất"
(2)
là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của loài người. Tuy nhiên, tư
liệu lao động chỉ trở thành lực lượng tích cực cải biến đối tượng lao động khi
chúng kết hợp với lao động sống. Chính con người với trí tuệ và năng lực của
mình đã chế tạo ra tư liệu lao động và sử dụng nó để thực hiện sản xuất. V. I.
LêNin từng viết: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công
nhân, là người lao động”
(2)
.
Trong các yếu tố của lực lượng sản xuất có sự tác động biện chứng. Sự
hoạt động của tư liệu lao động phụ thuộc vào trí tuệ, sự hiểu biết và kinh nghiệm
(2)
Trích V.I Lênin to n tà ập, trang 38
của con người. Ngược lại, con người cùng với tri thức khoa học không ngừng
sáng tạo ra các tư liệu lao động mới nhằm hoàn thiện kỹ thuật và phương pháp
sản xuất. Như vậy, sự phát triển của lực lượng sản xuất là sự phát triển của tư

Cũng như lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất thuộc lĩnh vực đời sống vật chất
của xã hội. Tính vật chất của quan hệ sản xuất được thể hiện ở chỗ chúng tồn tại
khách quan, độc lập với ý thức của con người. Quan hệ sản xuất bao gồm những
mặt cơ bản sau:
- Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất.
- Quan hệ tổ chức quản lý.
- Quan hệ phân phối sản phẩm lao động.
Ba mặt trên có quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó quan hệ sở hữu về tư
liệu sản xuất có ý nghĩa quyết định đối với tất cả những quan hệ khác. Bởi lẽ
bản chất của bất kỳ quan hệ sản xuất nào cũng đều phụ thuộc vào vấn đề những
tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội được giải quyết và phân bố như thế nào.
Các hệ thống quan hệ sản xuất ở mỗi giai đoạn lịch sử đều tồn tại trong
một phương thức sản xuất nhất định. Hệ thống quan hệ sản xuất thống trị trong
mỗi hình thái kinh tế- xã hội quyết định tính chất và bộ mặt hình thái kinh tế- xã
hội ấy. Vì vậy, khi nghiên cứu, xem xét tính chất của một hình thái xã hội nào
thì không chỉ nhìn ở trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mà còn phải xét
đến tính chất của quan hệ sản xuất.
1.1.3. Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ
của lực lượng sản xuất:
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản
xuất tồn tại không tách rời nhau mà tác động biện chứng lẫn nhau hình thành
quy luật xã hội. Quy luật này vạch rõ tính chất phụ thuộc khách quan của quan
hệ sản xuất vào sự phát triển của lực lượng sản xuất. Đến lượt nó quan hệ sản
xuất tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất.
* Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất:
Tính chất của lực lượng sản xuất do tính chất của tư liệu sản xuất và của
lao động quyết định. Tính chất cá nhân thể hiện ở sự kết hợp giữa sử dụng công
cụ thủ công với hoạt động riêng lẻ của con người, trong khi tính chất xã hội lại
là sự hợp tác của nhiều người cùng với các thiết bị máy móc để hoàn thành một
sản phẩm.

nó quy định mục đích của sản xuất, hệ thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý
xã hội, quy định phương thức phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà người
lao động được hưởng. Do đó nó tác động trực tiếp vào đúng nhu cầu kinh tế của
người lao động- lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội; nó tạo ra những điều
kiện hoặc kích thích hoặc hạn chế việc cải tiến công cụ lao động, học tập nâng
cao trình độ chuyên môn, hợp tác và phân công lao động. Tuy nhiên, không nên
hiểu quan hệ sản xuất chỉ là vai trò của những hình thức sở hữu. Mỗi kiểu quan
hệ sản xuất là một hệ thống, một chỉnh thể hữu cơ gồm cả 3 mặt: quan hệ sở
hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối. Chỉ trong chỉnh thể đó quan hệ quan
hệ sản xuất mới trở thành động lực thúc đẩy con người hành động nhằm phát
triển sản xuất.
Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của
lực lượng sản xuất là quy luật chung nhất của sự phát triển xã hội. Sự tác động
của quy luật này đã đưa xã hội loài người trải qua các phương thức sản xuất:
Công xã nguyên thủy, Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, Tư bản chủ nghĩa và Xã
hội Chủ nghĩa.
1.2. Nội dung về mối quan hệ giữa con người và xã hội:
Trong lịch sử tư tưởng triết học có rất nhiều quan điểm khác nhau về con
người. Quan điểm duy tâm giải thích con người từ sự sáng tạo của thần thánh
hoặc ý niệm trừu tượng siêu nhiên, quan điểm duy vật siêu hình lại có khuynh
hướng tìm hiểu con người từ góc độ tộc loại sinh học với những ham muốn bản
năng. Tuy nhiên những quan niệm trên đều là những cách nhìn phiến diện về
con người, không phản ánh được con người như nó đang thể hiện. Chỉ có quan
điểm duy vật lịch sử cho rằng con người là một thực thể thống nhất của sinh học
và xã hội là đưa ra tầm nhìn khái quát nhất về con người.
1.2.1. Con người là một thực thể sinh học:
Nói đến yếu tố sinh học ở đây là ta muốn nói đến các yếu tố hữu sinh, hữu
cơ, cái làm cho con người hình thành và hoạt động như một cá thể sống. Nói
cách khác đó chính là cơ thể con người với bản chất tâm sinh lý, ý thức khác
biệt hẳn so với giới động vật.

(5)
thì Lênin cũng thừa nhận yếu tố xã hội là cái thường xuyên tác động và có ảnh
hưởng lớn đến bản chất và sự phát triển của con người. Lênin không tán thành
quan điểm cho rằng mọi người đều giống nhau về mặt sinh học, có chăng chỉ là
bình đẳng xã hội. Bởi lẽ: “Thực hiện một sự bình đẳng về sức lực và tài năng
của con người thì đó là một điều ngu xuẩn. Nói tới bình đẳng thì đó là sự bình
đẳng xã hội chứ quyết không phải là sự bình đẳng về thể lực và trí lực cá
nhân”
(6)
.
Con người là một hệ thống hoàn chỉnh trong đó mối tương tác qua lại
giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội được thể hiện rõ. Con người phải lao động
để duy trì sự tồn tại và thoả mãn các nhu cầu sinh học (nhu cầu tự nhiên) của
mình, đồng thời không ngừng hoàn thiện mình trước sự phát triển của xã hội
nhằm đáp ứng nhu cầu sinh học ngày càng tăng. Chính vì vậy, bản chất của con
người cũng không phải là cái đã sinh ra một lần là xong mà nó là quá trình con
người tự hoàn thiện mình để thích nghi và cải thiện xã hội. Một sự ngưng trệ
trong nhận thức, cũng như quan điểm bảo thủ cứng nhắc của con người trước sự
thay đổi chóng mặt của giới tự nhiên sẽ chỉ làm cho con người bị đào thải và
loại bỏ khỏi xã hội đó. Việc nhận thức đúng đắn chiến lược giáo dục, đào tạo
con người trong thời đại mới có ý nghĩa tích cực cho cuộc sống của con người
và cho sự tiến bộ xã hội.
2. QUAN ĐIỂM, ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ CHỦ
TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO VÀ PHÁT
TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC:
Tuy có sự khác nhau về mặt địa lý, trình độ phát triển nhưng các nước
trên thế giới ngày nay đang bị cuốn hút vào cuộc cách mạng Khoa học và Công
(4)
C. Mác v Ph. à Ănggen: To n tà ập, NXB chính trị quốc gia H Nà ội, tập20, trang 646
(5)

nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”
(8)
và để đạt được mục tiêu đó thì
“Cùng với Khoa học và Công nghệ, Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu
nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”
(8)
.
(7)
V.I. Lênin: To n tà ập, tập 38, trang 464
(8)
Nghị quyết TW lần thứ 4, khoá VII
Thực tiễn sản xuất ở nước ta trong những năm vừa qua còn nhiều yếu kém
là do chưa làm chủ được bí quyết công nghệ, trình độ công nhân còn chưa cao
và vì vậy tuy có thiết bị hiện đại, có dây chuyền tiên tiến nhập về, nhưng sản
phẩm làm ra vẫn không đạt yêu cầu chất lượng như mong muốn, công suất thiết
bị máy móc sử dụng ở mức còn quá thấp, chưa tận dụng được mọi tính năng. Để
làm ra những sản phẩm được thị trường chấp nhận, có sức cạnh tranh ngày một
cao, thì việc trang bị dây chuyền thiết bị tốt thôi chưa đủ mà còn phải có những
kỹ sư, công nhân có tay nghề cao, nắm được bí quyết công nghệ. Đồng thời phải
có một bộ máy quản lý năng động đủ sức nắm bắt nhu cầu biến động của thị
trường, có khả năng nhanh chóng tổ chức lại dây chuyền sản xuất linh hoạt, phù
hợp với yêu cầu khách hàng để chế tạo ra những sản phẩm mới. Điều này đặc
biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay, khi mà công nghệ đã thực sự trở thành
nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước
và thế giới.
Trong điều kiện cách mạng công nghệ hiện nay, sự đẩy nhanh về số lượng
của nguồn lao động đơn giản hoặc tay nghề thấp sẽ ngày càng mất dần ý nghĩa
của nó và lợi thế sẽ thuộc về những quốc gia nào có nguồn Nhân lực trí tuệ cao,
có kỹ năng vững vàng, có khả năng sáng tạo theo kịp sự phát triển của Khoa học
Công nghệ hiện đại. Vì vậy, trong các kỳ Đại hội, Đảng và Nhà nước ta luôn

Bản. Đội ngũ cán bộ quản lý thiếu kinh nghiệm, non kém về trình độ. Chính vì
nhận thức rõ tầm quan trọng của nguồn Nhân lực trong thời kỳ chuyển đổi nền
kinh tế thị trường, Đảng và Nhà nước ta luôn coi “Vốn con người” là yếu tố
quyết định nhất của sự phát triển.
Trong báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII tại Đại hội
Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã xác định rõ mục tiêu của chiến lược
phát triển Kinh tế - Xã hội 10 năm 2001-2010 là “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng
kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo
nền tảng để đến năm 2010 nước ta cơ bản trở thành một nước Công nghiệp theo
hướng hiện đại”. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu này, chúng ta sẽ tiến theo con
(9)
Nguồn dự án hỗ trợ kỹ thuật kế hoạch tổng thể phát triển giáo dục bậc trung học
đường Công nghiệp hoá rút ngắn, trên cơ sở kết hợp linh hoạt và hợp lý những
bước đi tuần tự với những bước đi nhảy vọt, đặc biệt chú trọng những ngành
mũi nhọn như Công nghệ Thông tin, Công nghệ Sinh học, Công nghệ Vật liệu
mới. Tuy nhiên, nếu không có nguồn Nhân lực tương xứng thì nước ta sẽ tự biến
mình thành bãi thải công nghệ của các nước phát triển và ngay cả những thiết bị
công nghệ tối tân nhất cũng không thể phát huy hết tác dụng. Do vậy, để đảm
bảo cho đất nước ta phát triển nhanh và bền vững theo định hướng Xã hội Chủ
nghĩa, các Văn kiện của Đại hội lần thứ IX đã khẳng định: “Phát triển Giáo dục
và Đào tạo được coi là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp
Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người-
yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, phát
triển Khoa học công nghệ cùng với phát triển Giáo dục đào tạo là quốc sách
hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy mạnh Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá
đất nước”. Đặc biệt, việc “Tạo bước chuyển mạnh về phát triển nguồn Nhân lực,
trọng tâm là Giáo dục và đào tạo, Khoa học và công nghệ” đã được xác định là
một trong ba khâu đột phá then chốt để làm chuyển động toàn bộ tình hình nền
Kinh tế- Xã hội Việt Nam. và là một bứt phá quan trọng để đi vào thực hiện
chiến lược 2001-2010.

Tóm lại, nguồn Nhân lực đóng vai trò quan trọng nhất trong hoạt động
kinh doanh của mọi tổ chức và doanh nghiệp
3.2. Giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn Nhân lực:
3.2.1. Khái niệm giáo dục đào tạo và phát triển nguồn Nhân lực:
Ngày nay có nhiều quan niệm khác nhau về đào tạo và phát triển nguồn
Nhân lực, tuy nhiên tất cả đều thống nhất rằng đó là một hoạt động có tổ chức
được tiến hành trong một thời gian xác định nhằm đem đến sự thay đổi về trình
độ, kỹ năng và thái độ của người lao động đối với công việc của họ, nhằm giúp
người lao động thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của mình.
- Giáo dục nguồn Nhân lực là quá trình cung cấp cho người lao động
những kỹ năng cần thiết giúp họ hoàn thiện những mặt yếu kém trong công việc.
Nói cách khác, giáo dục là quá trình tích lũy tri thức, vốn sống để chuẩn bị con
người cho tương lai.
- Đào tạo nguồn Nhân lực là tạo ra một môi trường, tại đó cá nhân có thể
học kiến thức, kỹ năng, khả năng, thái độ và hành vi cụ thể liên quan đến công
việc, nhằm giúp người lao động thực hiện có hiệu quả hơn chức năng và nhiệm
vụ của mình.
- Phát triển nguồn Nhân lực là quá trình học tập nhằm mở ra cho cá nhân
những công việc mới, khả năng mới dựa trên cơ sở định hướng tương lai của tổ
chức.
Lĩnh vực phát triển nguồn Nhân lực được coi là ở cấp độ đào tạo nhân
viên cao hơn so với các lĩnh vực khác. Mục đích của giáo dục đào tạo là cần
những sự tiến bộ nhanh chóng trong công việc của người lao động trong khi đó
mục đích của phát triển nguồn Nhân lực lại tạo ra một nguồn lao động đủ khả
năng cho công việc, tổ chức trong tương lai. Sự khác biệt này sẽ được thể hiện
dưới dạng bảng sau:
Giáo dục, đào tạo Phát triển
Tập trung Công việc hiện tại. Công việc hiện tại và tương
lai.
Phạm vi Cá nhân người lao động. Tổ chức theo nhóm.

Hiệu quả đào tạo = Động cơ của nhân viên x Khả năng.
(10)
(10)
Sánh quản lý nguồn Nhân lực ở Australia của các tác giả Schuler, Dowling, Smart v Huberà
3.3. Những nhân tố ảnh hưởng tới công tác đào tạo và phát triển nguồn
Nhân lực:
Mọi sự vật, hiện tượng trong quá trình phát sinh, tồn tại và phát triển đều
gắn với một môi trường cụ thể và chịu sự tác động từ các yếu tố của môi trường
đó. Con người là một cơ thể sống và vì vậy luôn có sự trao đổi chất và chịu sự
chi phối từ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Trong khi đó doanh
nghiệp được coi là tế bào kinh tế của xã hội thì chịu sự chi phối của các tác nhân
cả bên ngoài và bên trong doanh nghiệp như: những tiến bộ khoa học kỹ thuật,
bối cảnh kinh tế, thị trường sức lao động, khách hàng, các đối thủ cạnh tranh;
mục tiêu sứ mạng, văn hóa và nguồn Nhân lực trong doanh nghiệp. Những tác
nhân này, vì vậy, cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình đào tạo và phát
triển nguồn Nhân lực trong doanh nghiệp.
3.3.1. Môi trường bên ngoài:
Môi trường bên ngoài là những nhân tố chi phối mọi hoạt động của doanh
nghiệp nói chung đồng thời chi phối cách thức và nội dung của hoạt động quản
trị Nhân lực nói riêng. Một vài nhân tố đặc trưng của môi trường bên ngoài ảnh
hưởng tới công tác đào tạo và phát triển nguồn Nhân lực:
- Bối cảnh kinh tế: Thực trạng nền kinh tế thường biến động. Nền kinh tế
ổn định, phát triển hay đang trì trệ, suy thoái đều có tác động đến hầu hết các tổ
chức sản xuất kinh doanh, đến mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp. Vì vậy, nó
cũng ảnh hưởng lớn đến công tác đào tạo và phát triển nhân viên. Khi nền kinh
tế suy thoái, các doanh nghiệp có xu hướng thu hẹp dần sản xuất bằng việc giảm
nhân công lao động, giảm chi phí tiền lương. Lúc này tổ chức các khóa huấn
luyện, đào tạo và phát triển nhân viên sẽ gặp nhiều khó khăn đặc biệt là vấn đề
kinh phí và chiến lược đào tạo. Ngược lại, khi nền kinh tế ổn định và đang phát
triển tốt thì nhu cầu mở rộng kiến thức, nâng cao tay nghề của người lao động là

sẽ có được một đội ngũ nhân viên thích ứng nhanh nhạy với mọi biến động của
thị trường.
Ngoài ra, còn có các yếu tố khác như đặc điểm công nghệ sản xuất, kinh
phí dành cho đào tạo, các chính sách, chiến lược của công ty v…v…
Việc nghiên cứu ảnh hưởng của từng nhân tố trên sẽ giúp nhà Quản trị
Nhân lực hoạch định chính xác các kế hoạch đào tạo để không những thích hợp
với nguyện vọng, nhu cầu của nhân viên mà còn đáp ứng được yêu cầu trong
tương lai của doanh nghiệp.
3.4. Tiến trình đào tạo và phát triển nguồn Nhân lực:
Để có thể thực hiện được các khóa đào tạo và phát triển nhân viên phù
hợp với quy mô hoạt động cũng như loại hình tổ chức, mỗi doanh nghiệp đều tự
hoạch định cho mình một chương trình huấn luyện, đào tạo nhân viên riêng biệt.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp này đều tuân theo một chu trình đào tạo và phát
triển chung. Sau đây là sơ đồ tiến trình đào tạo và phát triển nguồn Nhân lực
mang tính chất tổng quát:
SƠ ĐỒ TIẾN TRÌNH ĐÀO TẠO
VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
Định rõ nhu cầu đào tạo và
phát triển NNL
Xác định các mục
tiêu cụ thể
Lựa chọn phương
pháp ĐT- PT thích
Lựa chọn giáo viên và
các phương tiện thích
Dự tính chi phí cho
đ o tà ạo v phát trià ển
Thực hiện các
chương trình đ o tà ạo
Đánh giá chương

mức độ thực hiện công việc mong muốn và mức độ hoàn thành công việc thực tế
của nhân viên.
* Biến số công việc hay nhiệm vụ: Phân tích công việc hoặc nhiệm vụ để
xem công việc đó đáp ứng những nhu cầu gì của nhân viên hay nhân viên cần có
những kỹ năng gì để hoàn thành tốt công việc. Loại phân tích này thường được
áp dụng trong việc đào tạo nhân viên mới hoặc khi phát triển một loại hình công
việc mới. Thông qua thông tin ở bản mô tả chi tiết công việc và kiến thức thực tế
của nhân viên, nhà Quản trị Nhân sự sẽ xác định được kiến thức còn thiếu của
nhân viên để từ đó đưa ra các chương trình đào tạo và phát triển phù hợp.
3.4.2. Xác định mục tiêu cụ thể để xây dựng chương trình đào tạo và phát triển
nguồn Nhân lực:
Mục tiêu chính của một chương trình đào tạo và phát triển nhân viên là sử
dụng tối đa nguồn Nhân lực. Đào tạo người lao động là để chuẩn bị cho họ thực
hiện các chức năng, nhiệm vụ một cách tự giác và tốt hơn đồng thời giúp họ am
hiểu hơn về công việc hiện tại. Mục tiêu cuối cùng của phát triển nguồn Nhân
lực là đạt được hiệu quả cao nhất về tổ chức. Vì vậy, phát triển và đào tạo nguồn
Nhân lực phải luôn gắn liền với quá trình phát triển và chiến lược của doanh
nghiệp. Đó là:
- Nâng cao thành tích của doanh nghiệp, thông qua những chỉ tiêu như sự
tăng nhanh về lợi nhuận, quay vòng vốn, thị trường chiếm lĩnh được.
- Tăng sự thích nghi của tổ chức với mọi hoàn cảnh; đương đầu với mọi
khó khăn và tìm ra những giải pháp sáng tạo, phù hợp để giải quyết những khó
khăn đó một cách có hiệu quả nhất.
- Hoàn thiện sự hiệp tác và các mối quan hệ giữa cá nhân và phòng ban
với nhau đồng thời tạo sự tự tin trong việc tham gia xây dựng chiến lược của
doanh nghiệp.
3.4.3. Lựa chọn phương pháp đào tạo và phát triển:

Trích đoạn Khuyến khớch bằng việc thưởng điểm Flexiben: Những khú khăn, thuận lợi trong vấn đề tổ chức đào tạo và phỏt triển nguồn Nhõn lực tại cụng ty BHNT Prudential Việt Nam: Nhận xột, đỏnh giỏ của bản thõn về cụng tỏc đào tạo và phỏt triển nhõn viờn tại cụng ty BHNT Prudential Việt Nam: MỤC TIấU PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CễNG TÁC TỔ CHỨC ĐÀO TẠO, PHÁT TRIỂN NHÂN Đối với cỏc khoỏ học trong chương trỡnh của Hiệp hội Bảo hiểm Hoa Kỡ:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status