Mở b ià
Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng giúp tòa
án làm rõ các vấn đề của vụ việc dân sự có trách nhiệm thực thi công lý
;nếu họ không vô tư trong việc tiến hành tố tụng hoặc tham gia tố tụng thì
việc giải quyết vụ việc dân sự sẽ bị thiên lệch.Do vậy,bảo đảm sự vô tư của
những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được pháp luật quy
định là một nguyên tắc của luật tố tụng dân sự.
Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia
tố tụng có nội dung chủ yếu được xác định là phải tiến hành những biện
pháp cần thiết để bảo đảm sự vô tư trong việc tiến hành tố tụng hoặc tham
gia tố tụng của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng;
trường hợp có căn cứ cho thấy họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ
thì phải thay đổi.
Nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia
tố tụng và việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc này
I:Khái niệm người tiến hành tố tụng:
Người tiến hành tố tụng dân sự là người thực hiện nhiệm vụ,quyền
hạn trong việc giải quyết vụ việc dân sự, thi hành án dân sự hoặc kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự.
Những người tiến hành tố tụng đều là các công chức nhà nước,được
thay mặt các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện việc giải quyết vụ việc dân
sự,thi hành án dân sự va kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tố
tụng.Hoạt đông tố tụng của họ có ý nghĩa quyết định đối với việc giải quyêt
vụ việc dân sự và thi hành án dân sự.
II:Khái niệm người tham gia tố tụng:
Người tham gia tố tụng dân sự là người tham gia vào việc giải quyết
vụ việc dân sự và thi hành án dân sự để bảo vệ quyền,lợi ích hợp pháp của
mình hay của người khác hoặc hỗ trợ tòa án,cơ quan thi hành án trong việc
giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự.
Việc tham gia tố tụng của những người tham gia tố tụng có ý nghĩa rất
xuyên như thẩm phán nhưng có vai trò rất lớn trong việc giải quyết vụ án
dân sự. Để bảo đảm hiệu quả hoạt động xét xử của hội thẩm nhân dân, các
quyền và nghĩa vụ của họ đã được pháp luật quy định cụ thể tại các điều
11,12,42,222 và 236 BLTTDS.
Thư kí tòa án có nhiệm vụ chủ yếu là lập các biên bản về tố tụng,
ngoài ra thư kí toàn án cũng thực hiện các nhiệm vụ khác được giao, nhiệm
vụ, quyền hạn của họ: Lập các biên bản tố tụng như biên bản hòa giải, biên
bản lấy lời khai, biên bản phiên tòa,…Thực hiên các công việc theo ủy
quyền của thẩm phán như xác minh, thu thập chứng cứ khi đương sự yêu
cầu: Những nhiệm vụ, quyền hạn đó của thư kí tòa án trong tố tụng dân sự
hiện nay đã được quy định cụ thể tại các điều 43,148,186,211 BLTTDS.
Viện trưởng viện kiểm sát là người chịu trách nhiệm về việc thực
hiện nhiêm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát về kiểm sát việc tuân theo pháp
luật của các hoạt động nên viện trưởng việ kiểm sát có các nhiệm vụ, quyền
hạn là: Tổ chức,chỉ đạo thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật
của các hoạt động tố tụng dân sự như quyết định phân công kiểm sát viện
kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các hoạt động tố tụng dân sự, tham gia
phiên tòa xét xử vụ án dân sự,…kiểm tra hoạt động kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự của kiểm sát viên,…Nhiệm vụ
quyền hạn của viện trưởng việ kiểm sát được BLTTDS quy định cụ thể tại
các điều 44,51,285,307,395 và một số điều luật khác.
Kiểm sát viên là người tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các hoạt động tố tụng, trong tố
tụng dân sự kiểm sát viên có các nhiệm vụ, quyền hạn là kiểm sát việc tuân
theo pháp luật của tòa án trong việc giải quyết vụ việc dân sự như lập hồ sơ,
hòa giải vụ việc dân sự, ra bản án,…tham gia phiên tòa xét sử vụ án dân sự,
phiên họp giải quyết việc dân sự,…hoạt động kiểm sát của kiểm sát viên có
ý nghĩa bảo đảm việc giải quyết đúng các vụ việc dân sự. Để phát huy được
vai trò của kiểm sát viên trong tố tụng dân sự, BLTTDS đã quy định cụ thể
các nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm sát viên trong tố tụng tại các điều