QUY HOẠCH ĐÔ THỊ - Pdf 25

TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG
KHOA XÂY DỰNG DÂN DỤNG VÀ CÔNG NGHIỆP
(((
Tiểu luận môn học
Cơ sở quy hoạch và
kiến trúc
QUY HOẠCH
ĐÔ THỊ
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Đăng
Mã sinh viên: 444553
Lớp: 53XD5
Quy hoạch vùng ven
đô có mật độ dân cư
thấp ở Cincinnati,
Hoa Kỳ.
LỜI NÓI ĐẦU

Quy hoạch đô thị là bộ môn khoa học kỹ thuật, xã hội, nhân văn, là nghệ thuật về
tổ chức không gian sống cho các đô thị và các khu vực đô thị. Nó là nghệ thuật sắp
xếp tổ chức các không gian chức năng, khống chế hình thái kiến trúc trong đô thị
trên cơ sở các điều tra, dự báo, tính toán sự phát triển, đặc điểm, vai trò, nhu cầu và
nguồn lực của đô thị, nhằm cụ thể hóa chính sách phát triển, giảm thiểu các tác động
có hại phát sinh trong quá trình đô thị hoá, tận dụng tối đa mọi nguồn lực và hướng
tới sự phát triển bền vững. Các không gian đô thị, công trình hạ tầng kỹ thuật, công
trình hạ tầng xã hội đô thị đô thị cần được quy hoạch phù hợp với phát triển tổng thể
kinh tế - xã hội – môi trường. Vì vậy việc nghiên cứu về bộ môn kiến trúc và quy
hoạch này rất có ích trong thời buổi hiện nay, đặc biệt là đối với sinh viên ngành xây
dựng dân dụng và công nghiệp.
CHƯƠNG I: QUY HOẠCH ĐÔ THỊ . CÁC LOẠI HÌNH QUY HOẠCH ĐÔ THỊ
MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CỦA CÁC ĐÔ THỊ CỔ
I.Quy hoạch đô thị

nguyên môi trường
3.Mục tiêu và nhiệm vụ cơ bản của công tác quy hoạch đô thị và xây dựng đô thị.
3.1. Mục tiêu
- Công tác quy hoạch đô thị nhằm cụ thể hoá chiến lược phát triển kinh tế, xã hội
của quốc gia, trước tiên là cụ thể hoá chiến lược phát triển của đô thị đối với nền
kinh tế quốc dân.
- Tất cả các đô thị đều phải có quy hoạch: quy hoạch cải tạo và quy hoạch xây
dựng phát triển đô thị. Các đồ án quy hoạch được duyệt là cơ sở pháp lý để quản lý
xây dựng đô thị, tiến hành công tác chuẩn bị đầu tư xây dựng cơ bản. Ở Việt Nam
theo quy định của Bộ xây dựng thì đồ án quy hoạch xây dựng đô thị bao gồm các
giai đoạn sau:
Quy hoạch vùng lãnh thổ -> Quy hoạch chi tiết đô thị -> Quy hoạch chi tiết cụm
công trình -> Thiết kế xây dựng công trình
3.2 Nhiệm vụ
a. Tổ chức sản xuất:
- Quy hoạch đô thị phải đảm bảo hợp lý các khu vực sản xuất, trước tiên là các khu
công nghiệp tập trung, các xí nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ, các cơ sở thủ công
nghiệp và các loại hình đặc trưng khác. Phải giải quyết các mối quan hệ giữa các
khu công nghiệp với khu dân cư như với các khu hoạt động khác.
b. Tổ chức đời sống:
- Quy hoạch đô thị có nhiệm vụ tổ chức tốt đời sống và mọi hoạt động khác của
người dân đô thị, tạo cơ cấu hợp lý trong việc phân bố dân cư và sử dụng đất đai đô
thị nhất là trong việc tổ chức các khu ở, các khu công cộng, phúc lợi xã hội, các khu
cây xanh, khu vui chơi giải trí…
c. Tổ chức không gian kiến trúc và cảnh quan, môi trường đô thị:
- Đây là nhiệm vụ rất quan trọng của công tác quy hoạch đô thị nhằm cụ thể hoá
công tác xây dựng đô thị, tạo cho mỗi đô thị một đặc trưng riêng về bộ mặt kiến trúc,
hài hoà với khung cảnh thiên nhiên và địa hình. Cho nên quy hoạch đô thị cần xác
định hướng bố cục không gian kiến trúc, xác định vị trí và hình khối của các công
trình mang tính chủ đạo của đô thị.

III. Một số đặc trưng của các đô thị cổ
Khoảng 200.000 năm trước ở thời đồ đá cũ, những tổ tiên của loài người đã sử
dụng những công cụ đơn giản trong hàng nghìn năm nhưng cùng với thời gian các
công cụ đó trở nên tinh xảo và phức tạp hơn. Con người ở thời này sống theo kiểu
săn bắt – hái lượm, cuối cùng đa số các xã hội săn bắt – hái lượm đã phát triển, hay
buộc phải hấp thu vào những tổ chức xã hội nông nghiệp lớn hơn. Một sự thay đổi
lớn, được miêu tả như là một “ cuộc cách mạng” đã diễn ra khoảng thiên niên kỷ 19
TCN với việc hình thành nghề nông. Nông nghiệp đã tạo cơ hội cho các xã hội phức
tạp hơn, cũng được gọi là những nền văn minh. Các vùng lưu vực ven sông trở thành
những cái nôi của những nền văn minh đầu tiên như lưu vực sông Hoàng Hà ở
Trung Quốc, sông Nin ở Ai Cập, và lưu vực sông Ấn ở Pakistan.
Nông nghiệp dẫn tới nhiều thay đổi lớn, nó cho phép một xã hội đông đúc hơn
rất nhiều, và nó tự tổ chức mình vào trong những quốc gia. Nông nghiệp cũng tạo
nên và cho phép sự tích trữ lương thực thặng dư có thể dùng để cung cấp cho những
người không dính dáng trực tiếp tới việc sản xuất lương thực. Sự phát triển của nông
nghiệp cho phép sự xuất hiện của những thành phố đầu tiên. Dần dần các thành phố
xuất hiện ngày càng nhiều trên mỗi quốc gia, bắt đầu hình thành lên những đô thị
như là Ai Cập, La mã, Hy Lạp …
1. Đô thị cổ Ai Cập
- Nhà nước Ai Cập cổ đại là một trong những nhà nước ra đời sớm nhất ở lưu vực
sông Nin vùng đông bắc châu Phi. Nền văn minh Ai Cập cổ đại là một trong những
nền văn minh cổ xưa nhất và rực rỡ nhất của nhân loại.
- Đặc điểm của kiến trúc Ai Cập là công trình có quy mô lớn, kích thước đồ sộ,
nặng nề và thần bí. Trước khi nhắc đến sự phát triển của nghệ thuật kiến trúc Ai Cập
cổ đại, phải nói đến sự khéo tay trong nghề làm đá của những người thợ giỏi trong
xã hội Ai Cập cổ đại. Vật liệu đá trong xã hội Ai Cập có nhiều loại: đá vôi, đá sa
thạch, đá đen, đá thạch anh, đá hoa cương, đá minh ngọc. Đặc trưng kiến trúc Ai
Cập cổ thể hiện sự khan hiếm vật liệu gỗ, nên người Ai Cập cổ sử dụng vật liệu
trong xây dựng chủ yếu là gạch chưa nung, đá các loại. Trong suốt các triều đại Ai
Cập cổ, vật liệu đá được dùng hầu hết cho các công trình như lăng mộ và đền đài.

- Đô thị cổ đại Ai Cập ở hạ lưu sông Nin thường là hình chữ nhật,xây dựng vào
khoảng 3500 năm trước CN.Thành phố Kahan là một ví dụ:Thành phố có mật độ
xây dựng cao,cơ cấu thành phố phân rõ khu chủ nô và nô lệ.Khu ở cho người giàu là
nhà ở có vườn với diện tích mỗi lô 600m2.Nhà ở cho người nghèo là những khu ở
thấp tầng,đặc biệt có hệ thống tưới nước cho cây,các đường phố đã được trồng
cây,cây xanh được coi là một yếu tố quan trọng trong cấu trúc đô thị
2.Đô thị cổ Hy Lạp:
- Hy Lạp cổ đại ra đời và hình thành trên một vùng đất đai rộng lớn, bao gồm
miền Nam bán đảo Balkans, các đảo nhỏ ở vùng biển Aegaeum (Αιγαίον, Aigaion),
khu vực Tiểu Á, vùng ven Hắc Hải, Ý, Sicilia, Pháp, Tây Ban Nha và Ai Cập. Ở nơi
đây, người ta thường tổ chức các lễ hội, tiến hành thi đấu thể dục thể thao, bình luận
văn chương, diễn thuyết, ngâm thơ và biểu diễn kịch, ngoài ra còn có thể trao đổi,
mua bán. Do đó, về sau người ta đã xây thêm xung quanh các quần thể này những
sân bãi thi đấu, quán trọ, hội trường, các hành lang cột và các loại đền đài.
- Thành phố bàn cờ của Hyppodamus là điểm đặc trưng của quy hoạch Hy Lạp cổ
đại.Bố cục mặt bằng của thành phố được chia thành các lô phố theo hệ thống đường
ô cờ với hai đường chính Nam Bắc và Đông Tây;khoảng cách giữa các đường nói
chung khoảng từ 30 đến 50 m.
- Thành phố Mile của Hyppodamus có kích thước các lô phố là 47,2 .
25,4m.Tuyến đường chính Đông Tây rộng 7,5m đi qua trung tâm có thể đi xe,còn
tuyến Bắc Nam rộng từ 3-4 m có độ dốc lớn nên chủ yếu dành cho đi bộ.
+Các thành phố đều có các trung tâm và quảng trường chính là Acropolis và Agora.
Acropolis là khu vực trung tâm của thành phố,nơi tập trung các đền thờ mang tính
tâm linh và nhà ở của các quan tòa cao cấp.Agora thực chất là một quảng trường ở
trung tâm,nơi tập trung các sinh hoạt về thương mại và hành chính của thành phố


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status