PHẦN I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VIỆN QUY HOẠCH VÀ THIẾT KẾ
NÔNG NGHIỆP
I. Quá trình hình thành và phát triển của Viện Quy hoạch và thiết kế
nông nghiệp
1. Sự ra đời của Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp
Những năm 60 của thế kỷ XX cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã tác
động sâu sắc tới mọi mặt dời sống kinh tế xã hội của thế giới. Trong thời gian đó
ở Việt Nam nền kinh tế còn lạc hậu, nghèo nàn. Hai miền Nam- Bắc bị chia cắt.
Miền Bắc đang tiến hành công cuộc cải tạo Chủ nghĩa xã hội, xây dựng miền
Bắc vững mạnh đồng thời chi viện cho miền Nam để miền Nam thực hiện thành
công cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, tiến tới thống nhất đất nước.
Đứng trước nhiệm vụ nặng nề đó và xuất phát từ đặc điểm kinh tế nước ta
vốn là một nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên Chủ nghĩa xã hội không kinh qua
giai đoạn phát triển Tư bản chủ nghĩa, cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn, nông
nghiệp độc canh là chủ yếu Đảng và Nhà nước đã xác định phát triển kinh tế
Việt Nam trước hết là phát triển ngành nông nghiệp. Coi nông nghiệp là mặt
trận hàng đầu, chú trọng xây dựng một nền nông nghiệp vững mạnh, từng bước
cơ giới hoá, năng suất cao để đáp ứng đủ nhu cầu lương thực cho nhân dân.
Để từng bước ứng dụng kỹ thuật sản xuất tiến bộ, khoa học vào sản xuất
nông nghiệp cũng như quy hoạch một cách hợp lý các vùng sản xuất trong cả
nước, chuyển từ nền nông nghiệp độc canh sang nền nông nghiệp sản xuất lớn
Xã hội chủ nghĩa, Bộ Nông trường Việt Nam quyết định thành lập một cơ quan
để thực hiện những nhiệm vụ đó.
Ngày 29 tháng 9 năm 1961 Cục quy hoạch (tiền thân của Viện Quy hoạch
và thiết kế nông nghiệp) ra đời với nhiệm vụ chủ yếu là khảo sát xây dựng dự án
quy hoạch các nông trường quốc doanh, đo đạc bản đồ địa hình tỷ lệ lớn, khảo
sát lập bản đồ đất các nông trường đó. Trong hơn 40 năm hoạt động, được sự
cộng tác của nhiều Viện nghiên cứu, nhiều trường đại học và các nhà khoa học
trong và ngoài nước, hàng ngàn công trình nghiên cứu, điều tra khảo sát, quy
1
hoạch và thiết kế phục vụ cho phát triển nông nghiệp, nông thôn và nhiều dự án
chia thành các giai đoạn như sau:
2.1. Giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1970
Giai đoạn này Cục Quy hoạch (trực thuộc Bộ Nông trường) thành lập có
nhiệm vụ chủ yếu là khảo sát xây dựng các dự án quy hoạch các nông trường
quốc doanh. Vì thời kỳ này miền Bắc đang đi vào xây dựng nền nông nghiệp sản
xuất lớn, nền kinh tế chủ yếu chỉ có hai thành phần kinh tế là kinh tế Nhà nước
và và kinh tế tập thể.
Ban đầu khi mới thành lập Cục Quy hoạch có 1.157 người chủ yếu là sĩ
quan quân đội chuyển sang. Cả đơn vị chỉ có 6 kỹ sư nông nghiệp, 8 trung cấp
đo đạc, thổ nhưỡng còn lại là công nhân kỹ thuật.
Từ đầu những năm 60 công tác phân vùng quy hoạch nông nghiệp đã
được nhấn mạnh trong các nghị quyết Đại hội Đảng III, IV, V, được coi như một
trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đưa nông nghiệp đi lên sản xuất lớn
Xã hội chủ nghĩa. Trong suốt quá trình triển khai, nhiều đồng chí lãnh đạo cao
cấp của Đảng, của Chính phủ và Bộ Nông nghiệp đã thường xuyên quan tâm
theo dõi trực tiếp chỉ đạo công tác này.
Từ 1961 đến 1970, Viện đã trực tiếp khảo sát quy hoạch cho trên 100
nông trường quốc doanh ở miền Bắc. Ban đầu có sự hướng dẫn của chuyên gia
Liên Xô, Trung Quốc nhưng chủ yếu vẫn là lực lượng cán bộ quy hoạch Việt
Nam tự đảm nhiệm. Sự hình thành và phát triển hệ thống nông trường quốc
doanh miền Bắc thời kỳ đó đánh dấu bước đi đầu tiên của nền nông nghiệp Xã
hội chủ nghĩa, là niềm tự hào của nhiều thế hệ cán bộ quy hoạch trong suốt quá
trình xây dựng và trưởng thành.
2.2. Giai đoạn 1971- 1975
Tới năm 1971, Bộ Nông trường hợp nhất với Bộ Nông nghiệp thành Uỷ
ban Nông nghiệp Trung ương. Cục quy hoạch thu nhận thêm Tổ Quy hoạch
thuộc Vụ Quản lý ruộng đất (thuộc Bộ Nông nghiệp) và đổi tên thành Ban phân
vùng quy hoạch nông nghiệp, trực thuộc Uỷ ban Nông nghiệp Trung ương.
3
Viện đã quy hoạch cho hầu hết các vùng chuyên canh cây lương thực, cao su, cà
phê, chè, mía đường, bò sữa , bông, dâu tơ tằm đồng thời quy hoạch triển khai
các nông trường vùng lúa đồng bằng sông Cửu Long, lập luận chứng kinh tế kỹ
thuật các vùng hợp tác với Liên xô, Đức, phát triển cà phê Tây Nguyên, cao su
Đông nam bộ và các vùng khác.
Từ 1986 đến nayViện đã phối hợp các ngành quy hoạch phát triển kinh tế
xã hội 7 vùng kinh tế, quy hoạch vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ, miền trung và
nam bộ. Nghiên cứu bổ sung chỉnh lý chiến lược phát triển nông nghiệp đến
năm 2010, xây dựng tổng quan phát triển cây con chính, rà soát quy hoạch nông
nghiệp hàng hoá, quy hoạch chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp các vùng, rà soát
quy hoạch nông nghiệp nông thôn các tỉnh, quy hoạch tái định cư vùng di dân
xây dựng các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện, quy hoạch các mô hình phát triển
nông thôn mới.
Triển khai các chương trình điều tra cơ bản, trọng tâm là khảo sát trên 20
triệu ha đất nông nghiệp và đất trống chưa sử dụng, tiếp cận phương pháp phân
tích đánh giá đất quốc tế, bổ sung chỉnh lý bản đồ đất các huyện tỷ lệ 1/25.000 ,
tổng hợp bản đồ đất 7 vùng kinh tế tỷ lệ 1/1.000.000, đo đạc bản
đồ địa hình tỷ lệ 1/10.000 phục vụ khảo sát quy hoạch nông trường Cà phê Tây
nguyên, cao su Đông nam bộ, vùng bông Ninh thuận, vùng chè trung du miền
núi và một số vùng khác.
Hơn 40 năm qua đặc biệt có trên 10 năm đổi mới theo tinh thần Nghị
quyết đại hội Đảng làn thứ VI, VII và VIII, công tác quy hoạch nông nghiệp đã
thực sự vươn lên tiếp cận với nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá, nhiều chương
trình dự án quy hoạch đã và đang triển khai, góp phần vào sự nghiệp phát triển
kinh tế xã hội đất nước, trên cơ sở xác định lợi thế cạnh tranh để lựa chọn các
sản phẩm hàng hoá xuất khẩu, quy hoạch phát triển nông thôn gắn với các
chương trình phát triển cơ sở hạ tầng, xoá đói giảm nghèo, định canh định cư
xây dựng vùng kinh tế mới, quy hoạch bố trí đất đai trên quan điểm phát triển
bền vững đi đôi với bảo vệ tài nguyên môi trường, phục vự sự nghiệp phát triển
kinh tế xã hội giữ an ninh quốc phòng.
giao tiến bộ kỹ thuật.
2. Hệ thống tổ chức của Viện
7
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC VIỆN QUY HOẠCH VÀ THIẾT KẾ NÔNG
NGHIỆPLƯ
8
Đứng đầu hệ thống tổ chức của Viện là ban lãnh đạo Viện, tiếp đến là bộ
phận quản lý và phục vụ; bộ phận quản lý kỹ thuật và nghiên cứu; các trung tâm
nghiên cứu; các phân viện và xí nghiệp. Mỗi bộ phận đều có những chức năng
và nhiệm vụ riêng của mình
III. Lực lượng lao động và trang thiết bị
1. Về tổ chức lực lượng
Khi mới thành lập, Cục quy hoạch có tới 1.157 người, phần lớn là bộ đội
chuyển ngành, chỉ có 6 kỹ sư nông nghiệp và 8 trung cấp đo đạc, thổ nhưỡng.
Hiện nay, tổng số cán bộ công nhân viên của Viện là 511 người, trong đó
340 người trong biên chế và 171 lao động hợp đồng. Số cán bộ nghiên cứu trực
tiếp có 303 người, trong đó 79 người(26%) có trình độ trên đại học, gồm 30 tiến
sỹ khoa học, tiến sỹ(2 được phong hàm giáo sư, 6 phó giáo sư), 49 thạc sỹ.
Ngoài ra, có 6 người đang chuẩn bị bảo vệ luận án tiến sỹ và 10 người đang học
cao học. Trên 50 cán bộ(15%) có thể làm việc trực tiếp với chuyên gia nước
ngoài, chủ yếu sử dụng tiếng Anh, số ít sử dụng tiếng Nga, Pháp, Trung Quốc,
Đức
Viện được tổ chức thành 20 đơn vị trực thuộc, bao gồm:
- 2 Phân viên(Phân viện miền nam ở Thành phố Hồ Chí Minh và phân
viện miền trung ở Nha Trang).
- 2 Xí nghiệp đo đạc bản đồ nông nghiệp (một ở Hà Nội, một ở Phan Rí,
Bình Thuận).
- 8 Phòng (Phân vùng, đo đạc, thổ nhưỡng, phân tích đất và môi trường,
khoa học, kế hoạch, tài vụ, hành chính).
- 5 Trung tâm (Hàng trắc, viễn thám, phát triển nông thôn, tài nguyên-
(theo giá trị hiện tại) để xây dựng trụ sở; mua sắm phương tiện, máy móc trang
thiết bị và được cấp kinh phí hoạt động hàng năm.
Những năm trước, 100% chi phí hoạt động hàng năm của Viện là được
Nhà nước cấp. Nguồn vốn này chủ yếu chi cho các hoạt động nghiên cứu, khảo
sát quy hoạch và để thay thế máy móc thiết bị cũ.
Những năm gần đây, 90% nguồn vốn hoạt động của Viện do Nhà nước
cấp, 10% còn lại do Viện tự tích luỹ. Vì theo Nghị định 10/CP của Thủ tướng
Chính Phủ, Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp là đơn vị sự nghiệp có thu
tự đảm bảo 100% chi phí thường xuyên. Nhờ các hoạt động mà Viện gọi là
“Dịch vụ khoa học” (hợp đồng với các địa phương, các doanh nghiệp lập các
báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc hợp đồng với các tổ chức khoa học khác tiến
hành một công trình nghiên cứu), hàng năm Viện thu khoảng 8- 9 tỷ đồng. Phần
lớn số tiền này là để tăng thu nhập cho cán bộ của Viện. Phần còn lại bổ sung
vào nguồn vốn đầu tư hàng năm cùng với kinh phí Nhà nước cấp (khoảng 14- 16
tỷ/năm) Viện dùng để đầu tư cho trang thiết bị, vật tư kỹ thuật, các chương trình
dự án quốc gia, các đề tài nghiên cứu khoa học.
1.2. Phân bổ vốn đầu tư cho các hoạt động
Cơ sơ vật chất kỹ thuật của Viện đã được đầu tư trong thời gian trước
nhưng chưa đầy đủ, đồng bộ. Trong quá trình hoạt động Viện đã thường xuyên
đầu tư để đổi mới cơ sở vật chất: trụ sở làm việc, máy móc, thiết bị (chiếm đại
bộ phận nguồn vốn đầu tư cho tài sản cố định).
Hàng năm với số tiền khoảng 14- 16 tỷ đồng Viện dành khoảng 60% cho
các công trình nghiên cứu và quy hoạch (khoảng 10 tỷ). 20% đầu tư mua sắm
11
thiết bị chuyên ngành và các phần mềm (chiếm khoảng 3 tỷ đồng trong tổng số
tiền hoạt động của Viện), 15% cho việc đào tạo cán bộ công nhân viên của Viện
(cả trong nước và nước ngoài). 5% cho các chi phí khác liên quan.
Riêng năm 2003 kinh phí Nhà nước cấp được phân bổ như sau:
- Điều tra cơ bản: 12 dự án (6 dự án chuyển tiếp, 6 dự án mới) tổng kinh
phí 6 tỷ đồng.
4. Quy hoạch phát triển nông nghiệp
nông thôn theo hướng CNH- HĐH
huyện Ômôn, tỉnh Cần Thơ thời kỳ
2001- 2010
2001 Phân viện miền Nam
5. Dự án chăn nuôi lợn xuất khẩu
đồng bằng sông Hồng
2001 Đoàn Quy hoạch II
6. Dự án quy hoạch phát triển cây
điều vùng Duyên Hải Nam Trung
Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ
2001 Phân viện miền Trung
7. Rà soát, bổ xung quy hoạch phát
triển nông nghiệp nông thôn tỉnh
Kon Tum đến năm 2010
2002 Trung tâm phát triển
nông thôn
8. Dự án quy hoạch vùng mía
nguyên liệu công nghiệp
2002- 2003 Bộ môn Phân vùng
9. Dự án quy hoạch sản xuất cà phê
cả nước đến năm 2005- 2010
2002 Phân viện miền Trung
10. Xây dựng giải pháp thúc đẩy quá
trình CNH- HĐH nông nghiệp nông
thôn vùng đồng bằng sông Hồng và
ĐBSCL
2002 Phân viện miền Nam
II. Đánh giá các hoạt động của Viện
1. Các thành tựu đạt được
định các chiến lược phát triển kinh tế xã hội dài hạn.
Rà soát, bổ sung quy hoạch phát triển nông nghiệp đến năm 2010 của các
tỉnh thành (hiện đã làm xong 12 tỉnh thành). Đây là những tài liệu căn bản giúp
các tỉnh, thành xây dựng kế hoạch phát triển nông nghiệp dài hạn.
Tập trung sức nghiên cứu, xây dựng những dự án phát triển các ngành
hàng trọng yếu ở các vùng trọng điểm có tiềm năng xuất khẩu lớn như lúa đồng
bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng, cao su Đông nam bộ, cà phê Tây
Nguyên và vùng núi phía Bắc, điều ở Đông Nam Bộ và duyên hải Nam Trung
Bộ, chè ở trung du- miền núi Bắc Bộ. Sự tập trung nỗ lực này được thể hiện
bằng số lượng công trình nghiên cứu dành cho những cây, con trọng yếu: 87
14
công trình dành cho cây lương thực (lúa, ngô, ), 20 công trình dành cho cây cà
phê, 17 cho cao su, 13 cho chè, 11 cho cây điều, 28 cho một số loại vật nuôi, 32
cho cây hoa màu. Những công trình trên đã được thực thi ở mức độ khác nhau
và đã góp phần hình thành, phát triển các vùng nông nghiệp sản xuất hàng hoá,
nhất là cho xuất khẩu.
1.2. Về điều tra cơ bản
Những nghiên cứu chủ yếu về lĩnh vực này là điều kiện sinh thái (đất,
nước, khí hậu) ,hiện trạng kinh tế xã hội (cấp hộ gia đình, xã, huyện, tỉnh và cả
nước), động thái chyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất qua các thời kỳ.
Thông thường, đó là các đề tài khoa học được giao (cấp Nhà nước,cấp Ngành,
cấp Viện), một số là đề tài hợp tác với các cơ quan chức năng. Những công trình
chính là:
- Đánh giá hiện trạng và đề xuất sử dụng đất hợp lý trên quan điểm sinh
thái và phát triển bền vững ở 7 vùng kinh tế nông nghiệp .
- Điều tra, đánh giá đất trống đồi núi trọc toàn quốc.
- Điều tra, đánh giá khả năng mở rộng 1,5 triệu ha đất nông nghiệp .
- Xây dựng bản đồ đất Tây Nguyên tỷ lệ 1/250.000.
- Xác định các nhân tố hạn chế và thuận lợi của một số loại đất (phù sa
ngọt, mặn, phèn) ở đồng bằng sông Cửu Long đối với một số loại cây trồng.
Sách xuất bản tại Nhà xuất bản Nông nghiệp bao gồm:
- Cây cà phê Việt Nam
- Tổng quan phát triển ngành cao su Việt Nam.
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển
lâu bền.
Luận cứ khoa học cho phát triển kinh tế- xã hội các tỉnh Tây Nguyên.
- Một số kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật 1980- 1990.
- Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật thơi kỳ 1986- 1996.
- Nông nghiệp trung du và miền núi- thực trạng và triển vọng.
- Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật 1991- 1993.
- Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật 1993
16
- Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật 1994.
- Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật 1995.
- Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật 1996.
- Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật 1997.
- Tài nguyên đất Đông Nam Bộ - hiện trạng và giải pháp.
- Bộ quy trình.
- v.v
Có được những kết quả trên là do viện đã luôn chấp hành nghiêm túc
những chỉ thị của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ, ra sức xây dựng cơ sở
vật chất kỹ thuật và đào tạo cán bộ, tận dụng mọi cơ hội để tăng cường hợp tác
quốc tế, giữ vững sự đoàn kết nội bộ, tranh thủ sự giúp đỡ của các cơ quan chức
năng có liên quan.Nhà nước đã thưởng Huân chương Lao động Hạng ba (1981),
Hạng hai (1985), Hạng nhất (1994) cho Viện và Huân chương Lao động Hạng
Hai cho Phân viện miền Nam, ngoài ra Tổng Liên đoàn Lao động, Thủ tướng
Chính phủ, Bộ trưởng Nông nghiệp đã tặng rất nhiều bằng khen cho tập thể và
cá nhân xuất sắc.
2. Những vấn đề còn tồn tại
Ở Việt Nam nông nghiệp luôn là ngành sản xuất được coi trọng, là cơ sở
bị, kinh phí, đặc biệt là còn thiếu cán bộ đủ năng lực chủ trì dự án, chủ nhiệm
công trình cả kế hoạch A và B.
Hiện nay các quy định về quản lý công trình quy hoạch nông nghiệp chưa
được đầy đủ, như quy định về lập, trình duyệt đề cương, dự toán, nghiệm thu
thanh quyết toán công trình, phạm vi áp dụng các định mức, chế độ chi tiêu
chuyên ngành (đối với kế hoạch A), định mức, đơn giá áp dụng đối với quy
hoạch chi tiết, dự án đầu tư (để ký hợp đồng) là những khó khăn khi ký kết
thanh lý và quyết toán hợp đồng kinh tế.
Từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp chuyển sang
nền kinh tế thị trường có rất nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế, xã hội
chưa được giải quyết. Điều đó ảnh hưởng trực tiếp tới nhữnh căn cứ, những cơ
sở lý luận và thực tiễn để lập dự án quy hoạch. Vì vậy Viên cần có những cán bộ
18
nghiên cứu giỏi về kinh tế thị trường, cần chú trọng nhiều trong sưu tầm, cập
nhật thông tin kinh tế- kỹ thuật trong và ngoài nước.
Cơ sở vật chất kỹ thuật của Viện còn thiếu thốn, cơ quan không đủ diện
tích làm việc, trang thiết bị máy móc phần lớn đã cũ và không đồng bộ, chỉ có
khoảng 20% số thiết bị còn tốt, thiếu một số thiết bị chuyên ngành hiện đại,
phương tiện khảo sát thiếu thốn, 70% đầu xe đã hết thời hạn sử dụng gây khó
khăn cho quá trình đi lại và vận chuyển của cán bộ Viện.
Nguồn vốn đầu tư cho Viện còn hạn chế, chưa đủ đáp ứng nhu cầu đổi
mới công nghệ và trang bị kỹ thuật hiện đại. Hiện nay ngoài nguồn kinh phí do
Nhà nước cấp và một phần do Viện tích luỹ thì Viện không còn nguồn tài trợ
nào khác cho các chương trình nghiên cứu.
19
PHẦN III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CỦA VIỆN
QUY HOẠCH VÀ THIẾT KẾ NÔNG NGHIỆP TRONG TƯƠNG LAI
I. Mục tiêu của Viện trong thời gian tới
Trong thời gian tới, công tác quy hoạch và thiết kế nông nghiệp của Viện
phải đạt được các mục tiêu sau:
- Khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên nước, khí hậu, sinh vật.
- Nghiên cứu định hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn theo
hướng sản xuất hàng hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá.Tiếp tục đẩy nhanh tốc
độ chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn theo hướng sản
xuất hàng hoá nông sảncó chất lượng và hiệu quả nhằm đạt chỉ tiêu tăng giá trị
sản xuất ngành nông nghiệp là 4- 4.5%.
- Mở rộng hoạt động chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, hướng dẫn bà con
nông dân ứng dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nhằm nâng cao năng
suất và chất lượng của sản phẩm. Mặt khác không ngừng tiếp thu những tiến bộ
công nghệ mới của thế giới.
III. Một số giải pháp chính
Trong 10 năm tới, chủ chương của Nhà nước ta là “Xây dựng một nền
nông nghiệp mạnh, phát triển bền vững, được áp dụng công nghệ cao, công nghệ
mới, từng bước được hiện đại hoá, vươn lên trở thành một nền nông nghiệp với
những ngành sản xuất hàng hoá lớn, có sức cạnh tranh ngày càng cao trong quá
trình hội nhập quốc tế, có năng suất và thu nhập cao trên một đơn vị diện tích,
đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm cho nhân dân, nguyên liệu cho công
nghiệp, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu và bảo vệ môi trường sinh thái, góp
phần nâng cao đời sống nông dân, ổn định kinh tế xã hội và đất nước”. Để thực
hiện đúng chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, Viện quy hoạch và
thiết kế nông nghiệp cần đổi mới và nâng cao năng lực để đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ mới. Vì vậy Viện cần tiến hành một số giải pháp chủ yếu sau:
1. Giải pháp trước mắt
- Nhằm đạtđược những mục tiêu và kế hoạch năm 2004, toàn thể cán bộ
công nhân viên Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp cần nhận thức, quán
21
triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội Đảng IX, xác định quy hoạch là biện pháp quan
trọng hàng đầu đưa nông nghiệp nông thôn nước ta đi lên công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, đem lại hiệu quả cao…vì vậy quy hoạch phải có cơ sở khoa học và tính
thực tiễn.
cao trình độ chuyên môn của cán bộ Viện. Mặt khác, phải thường xuyên chăm
lo đến đời sống vật chất tinh thần của cán bộ công nhân viên. Cán bộ lãnh đạo
đoàn kết nhất trí phát huy tính dân chủ, chủ động sáng tạo trong tìm thêm việc
làm và thu nhập cho cán bộ công nhân viên, thực hiện tốt chế độ chính sách của
Nhà nước. Chúng ta đang sống trong thế kỷ của tri thức và khoa học do đó con
người có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia.
Thứ hai: Đầu tư mua sắm máy móc thiết bị, đặc biệt là các thiết bị chuyên
ngành (máy tính và các phần mềm hữu ích, máy đo đạc điện tử…), phương tiện
vận chuyển tạo nên động lực cho Viện phát triển. Đó cũng là quá trình cải tạo cơ
sở vật chất, trang bị máy móc hiện đại để nâng cao chất lượng trong công việc,
rút ngắn thời gian và chi phí cho các quá trình nghiên cứu lập dự án, quy hoạch
và thiết kế nông nghiệp nông thôn vùng, ngành, địa phương. Có những biện
pháp khấu hao nhanh tài sản cố định để có kinh phí đổi mới trang thiết bị của
Viện, tăng cường máy móc thiết bị hiện đại hơn giúp nâng cao tính khả thi của
mỗi dự án và các đề tài nghiên cứu khoa học.
Thứ ba: Tạo nguồn vốn từ các hoạt động dịch vụ khoa học để tăng thu
nhập cho Viện. Với vai trò một nhà tư vấn lập các báo cáo nghiên cứu khả thi
trong lĩnh vực đầu tư phát triển nông nghiệp cho Bộ, các địa phương, các đơn vị
kinh tế hàng năm Viện đã có được nguồn thu không nhỏ để bổ xung cho nguồn
vốn hoạt động của Viện. Trên tổng số tiền thu được, Viện đã trích một phần để
tăng tiền lương, thưởng cho cán bộ công nhân viên của Viện giúp cải thiện đời
sống, tăng thu nhập, tạo động lực vật chất cho mọi thành viên. Từ đó khuyến
khích các hoạt động nghiên cứu, phát huy khả năng của mọi người. Phần còn lại
Viện sử dụng để đầu tư mua sắm trang thiết bị, tăng cường năng lực khoa học
công nghệ cho Viện.
23
Thứ tư : Sắp xếp lại bộ máy tổ chức để phù hợp với cơ chế quản lý mới.
Viện đã có đề án xin chuyển giao 2 xí nghiệp in bản đồ nông nghiệp ở Hà Nội
và thành phố Hồ Chí Minh về Bộ quản lý, chuyển xí nghiệp đo đạc bản đồ nông
nghiệp I sang doanh nghiệp nhà nước, chuyển một số đội quy hoạch tăng cường