ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
ÚNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO VIỆC
DẠY ịiọc MÔN Cơ sơ VĂN HOÁ VIỆT NAM
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ- ĐHQG HÀ NỘI
MÃ SỐ: QN .02,02
CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC
CHỦ NHIỆM ĐẾ TÀI:
TS. CHU THỊ THANH TÂM ị
Bộ môn Ngôn ngữ & Vãn hoá Việt nam
. f M ( l!l!
D r / 2 4 - f
PHỐI HỢP THỰC HIỆN:
ThS. B ÙI N G Ọ C O ÁN H , Đ H N N - Đ H Q G H À N Ộ I
ThS. TR Ầ N T H Ư Ý A N H , Đ H K H X H & N V - ĐH Q G H À N Ộ I
Hà Nội 5- 2004
MỤC LỤC
Trang
PHẦN M Ở ĐẦU
I. Tính cấp thiết cùa đề tài 1
II. Lịch sử vấn đề 4
III. Mục đích của đề tài 5
IV. Nhiệm vụ chính của đề tài
-7
6
V. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
VI. Ý nshĩa của đề tài 8
VII. Phương pháp nghiên cứu 9
Các khái niệm cơ bản về văn hoá
Bo. Nhập môn 28
B l. Định nghĩa về văn hoá 29
B2. Đặc trưng và chức năng của văn hoá 35
B3. Cấu trúc văn hoá 36
Thành lố văn hoá
BI6. Văn hoá nshệ thuật 37
Tiểu kết 42
Chương II: Bài 2Íảng điện tử (57 trang)
Chương IU: Kết quả hướng dẫn học tập với sự hỗ trợ của công
nghệ thông tin (360 trang)
PHẤN KẾT LUẬN
43
TÀI LIỆU THAM K HẢO 45
PHẦN MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TÀI
Bước sans thế kỉ 21, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật hiện
đại bên cạnh việc đem lại cho nhân loại ngày càng nhiều cơ hội phát triển văn
minh vật chất song cũng làm cho các nước trên thế giới, nhất là với những
nước còn đan2 nghèo nàn lạc hậu với biết bao sự thách thức nghiêm trọng.
Nước ta có theo kịp bước tiến của toàn_c_ầu hoá kinh tế, có giành được thế chủ
động trong cạnh tranh xã hội quyết liệt hay không, trên một ý nghĩa nào đó,
được quyết định bởi sự cạnh tranh về nhân tài. Nhưng làm thế nào để có được
nsuồn nhân tài. điều đó là mối quan tâm hàng đẩu trong giáo dục đại học. Bài
phát biếu của GS. Triệu Ngọc Lan- Đại học Bắc Kinh tại Hội thảo Đôn? Á của
bốn trường Đại học Quốc gia tổ chức vào ngày 24-25 tháng 10 nãm 2001 ở Hà
Nội đã đề cập:
“Trước hết cần khẳng định ràng, giáo dục đạo đức với nội dung là vãn
hoá truyền thốna dân tộc ưu tú phương Đôn° là một bộ phận cấu thành hết sức
quan trọng trons việc tiến hành giáo dục tố chất học sinh Nhân tài kiểu mới
của Phòng Quản lý khoa học và Bồi dưỡnơ đã khơi dậy và thúc đẩy sự tiên
phons đôỉ mới trong tất cả các môn học, trong đó có những môn dạy ở Hội
trường bằng tiếng Việt ( những lớp có số lượng sinh viên trên 100 ).
ứng dụn2 CNTT vào giảng dạy một môn học là việc làm tất yếu trong
hệ đề tài nghiên cứu đổi mới phương pháp giảng dạy tại các trườns Đại học
hiện nay ở Việt Nam mà trường ĐHNN là nơi có điểu kiên để thực hiện.
hình 2Ìáo dục đại học, tận dụng đúng mức thôns tin mạng, kết hợp một cách
hữu cơ giáo dục trí lực và giáo dục đạo đức
Tư tưởng chỉ đạo của Đại học Quốc gia Hà Nội là một ví dụ: Sự hiểu
biết về Công nghệ thông tin là một trong những tiêu chuẩn quan trọng đánh
giá trình độ của aiảng viên đại học hiện nay.
Từ cách nhìn nhận mới về khoa học xã hội, GS. Trần Quốc Vượng cũng
khẳng định: “Với thời đại tin học, gọi sử là “Science de Mémoire” là sai, ra đề
thi bát sinh viên không được aiở sách tham khảo là dở. Vấn đề là đề thế nào
để sinh viên phát huy ý thức độc lập sáng tạo, say mê, tự tin”- Văn hoá tronơ
việc dạy. việc học và làm bài thi ở bậc đại học, Tạp chí Khoa học và Tổ Quốc
số 13 (147)5-7-2000
Vào ngàv 25 và 26 tháng 3 năm 2004 đã diễn ra Hội nghị quốc tế lần
thứ hai tại 11 Lẽ Hồng Phong, Hà Nội với chủ đề Hội thảo/ Triển lãm ứng
dụng Công nghệ thông tin trons eiáo dục. Ông Patrick j. McGovern. Nhà sáng
lập và Chủ tịch Tập đoàn dữ liệu Quốc tế- IDG cho biết Thị trường CNTT
trong 2Íáo dục ờ nước ta đã lấy được 900 triệu USD từ ngân sách nhà nước
trong năm 2004. Và ông cho rằng con số đó không dừng lại ở những năm tiếp
theo.
Trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam, ĐHNN- ĐHQG là một
trườna sóm có nhất phòng Multimedia với mục đích ban đầu chuyên dùnơ để
dạy và học ngoại ngữ, nay lại có thêm 4 phòna truy cập Internet. Sự cấp tiến
của lãnh đạo nhà trường cũng như sự nhiệt tình, tràn đầy sức trẻ và sáng tạo
của Phòns Quản lý khoa học và Bổi dưỡno đã khơi dậy và thúc đẩy sự tiên
phong đôỉ mới trona tất cả các môn học, trong đó có những môn dạy ở Hội
Sự hỗ trợ của Cônơ nghệ thông tin kết họp với cách dạy truyền thống sẽ đem
lại hiệu quả cao cho người học trons thời đại hiện nay. Riêng với trường
Ngoại ngữ có rất nhiều thuận lợi để thực hiện học tập theo hướng này vì hầu
hết sinh viên đẻu biết tiếng Anh, bên cạnh những ngoại ngữ khác theo chuyên
ngành của họ
Trong niên luận của mình, sinh viên Phạm Thị Lan Hương PI K37
Ngoại ngữ đã đưa ra nhận xét về vai trò của CNTT đối với dạy và học: “ Với
vai trò như vậy, những trường học có ứng dụng CNTT vào việc dạy và học
luôn được sinh viên đánh giá cao, 97% sinh viên có nhu cầu học tại trường
này. Bời theo họ, chất lượng đào tạo ở trường này cao hơn trường khác, tạo
điều kiện tốt nhất cho họ học tập và bắt kịp với xu hướng của thời đại.”
_ Với tất cả những lý do trên, chúng tôi quyết tâm chọn đề tài nghiên cứu
“ứng dụng Công nghệ thông tin vào việc dạy học môn Cơ sở Văn hoá Việt
Nam tại trườn2 Đại học Ngoại ngữ- ĐHQG Hà Nội” với mong muốn không
ngừns nâng cao chất lượng giảng dạy, đem lại hiệu quả cho chương trình đào
tạo cử nhân nsoại ngữ chất lượng cao của nhà trường.
II. LỊCH SỬ VÃN ĐỂ
ứng dụns CNTT trong giáo dục trên thế giới, đối với các nước tiên tiến
là điều quá quen thuộc, với ngay như một số nước Đôns iNam Á cũn? khá phát
triển. Hai nước mạnh nhất về CNTT trên thế giới hiện nay là MT và Ân Độ.
Ảnh hưởng đầu tiên trên thị tnrờno phục vụ giảng dạy và học tập ở Việt Nam
là máv tính và các phần mềm CD ROM. Sau đó là thiết bị dùng cho văn
phòno. hội thảo, giảng dạy, học tập của nhiều Công ty và Tập đoàn khác nhau
như đã triển lãm trong Hội nghị Quốc tế lần thứ hai về ứng dụng CNTT trong
siáo dục.
Cũng trons Hội nohị đó, chúns tôi đã được xem một số nhà giáo giới
thiệu về việc ứns dụns; CNTT vào một bài giảng cụ thể đối với các môn lịch
sử, toán học, ám nhạc Nói chung, họ được trực tiếp, chủ động điều khiển các
thiết bị ở đó, khôns như cách đây 2 năm chúnơ tôi trình diễn 2 tiết dạy môn
4
+Chírc năng máy tính
+ Phần mềm:
+ Mạng Internet
+ Các thiết bị phụ trợ
- Về nội dung ứng dụng để giảno dạy:
+Soạn toàn bộ bài giảng trong máy tính, thể hiện bằng Overhead
+Soạn trong PowerPoint toàn bộ đề cươna bài giảng
+ Hướng dẫn học tập có sự hỗ trợ của CNTT
+ Soạn giảng mẫu sử dụns Projector cho 6 tiết ứng với 2 buổi
theo lịch trình.
Khâu kiểm tra đánh giá học tập cùa sinh viên cũng rất quan trọng. Có
thể nói nó chính là một trong nhữns thước đo kết quả việc giảng dạy của
2Ìản° viên. Đây là tiêu điểm quan tâm của nhiều nsười trong quy trình đào tạo
ớ trirờns ta. Nhưng phạm vi hạn hẹp của đề tài không cho phép tiến hành
nghiên cứii ngay. Chúng tôi hi vọns sẽ được nghiên cứu riêng vấn đề này
trong một dịp khác.
VI. Ý NGHĨA CỨA ĐỂ TÀI
1. Về lí luận:
Bước đầu hình thành cơ sờ lý thuyết khoa học của việc tư duy
một vấn đề thuộc khoa học xã hội và nhân văn có sự hỗ trợ của côns nghệ
thông tin - một bước đột phá so với cách tri nhận kiến thức cổ điển cũns như
xử lý một vấn đề theo phươns pháp cũ (truvền miệns: phiến diện, chủ quan,
thiếu dẫn chứna cụ thể, sinh động )
2. Về thực tiễn:
- Đóns góp thiết thực cho một môn học chưa có bề dày trong
nghiên cứu và siảng dạy, đang tồn tại nhiều cách tiếp cận khác nhau về giáo
trình, về kiến thức vãn hoá.
rong
8
- Đổi mới phương pháp giảng dạy. Bài giảng trờ nên sinh độns,
chung
6. Thiết kế bài giảng mẫu cùng với nhữns giải trình
7. Sử dụng những thiết bị bổ trợ cho quá trình nshiên cứu như chụp ảnh,
quay camera, in ấn, photocopy
VIII. BỐ CỤC CỦA ĐỂ TÀI
Ngoài phần mờ đầu và kết luận, nội dung đề tài 2ồm các phần sau:
*Chươns 1: Vai trò của công nghệ thông tin trong giáo dục đại học
và khả năng ứng dụng trong giảng dạy môn Cơ sở vãn hoá Việt Nam ở
trường Ngoại ngữ
*Chưưn2 2: Bài giảng điện tử
*Chươn2 3: Kết quả hướng dân học tập với sự hỗ trợ của còng nghệ
thõng tin
*Phụ lục: Bài giảng minh hoạ ghi trong USB
*Tài liệu tham khảo.
10
PHẨ N NỘI DUNG
CHƯƠNG I
VAI TRÒ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
VÀ KHẢ NĂNG ỎNG DỤNG TRONG GIẢNG DẠY
MÔN c ơ SỞ VÃN HOÁ VIỆT NAM ở TRƯỜNG NGOẠI NGỮ
I. Vai trò của còng nghệ thông tin trong giáo dục đại học
1.1. S ự ra đời và p hát triển của công nghệ thông tin
Vào những năm giữa thế kỷ XX, nhân loại đã chứng kiến sự ra đời một
côns nshệ mới mẻ và vào thời kỳ đó bản thán nó cũng chưa hình dung ra được
những ứng dụng kỳ diệu của nó trong xã hội hiện đại. Đó chính là công nshệ
thông tin.
Chiếc máy tính điện tử đầu tiên của kỷ nguyên mà chúng ta đans Sốn2
là chiếc máy điện tử ENIAC được thiết kế vào năm 1948. Từ đó đến nay.
nhiều thế hệ máy tính đã ra đời và nơày một hoàn thiện hon. Máy tính hiện
nay đã có thể thực hiện được hàng tỉ phép tính trong một giây. Hiệu quả sử
một hỗ trợ quan trọng đáp ứns thoả đáng đòi hỏi cấp thiết của ne ười giáo viên.
Chính sự hỏ trợ ngày càns hiệu quả của máy tính cá nhãn đã giải thích
12
vì sao số lượns các máy tính được sử dụng trong các 2Ìa đình trên thế oiới
trong một chục năm qua lại tăng nhanh đến thế. Ngay ở Việt Nam số lượn°
máy vi tính được đưa vào sử dụng từ mấy năm nay cũnơ tăns một cách đáng
kể. Bên cạnh K do vì nhu cầu cấp thiết của công việc, nhặn thức về tính hữu
ích của máy tính ngày một nâng cao mà còn cần phải kê đến việc giá máy tính
mấy năm qua ớ nước ta cũng giảm đáns kể (ước tính mỗi tháng truna bình
giảm 5%). Giá thành một chiếc máy tính hiện đã nằm ở tầm mà nhiều sia đình
Việt nam đã có thể mua sắm được. Thực tế số lượng các 2Ìa đình ở thành phố
đã trang bị máv tính là không nhỏ. Số lượna các gia đình ở nông thôn có máv
tính cũng đane tãng trong thời gian gần đây. Hầu hết các trường học hiện nay
đều có trang bị máy tính và môn tin học đã được đưa vào giảng dạy tại tất cả
các trường. Bẽn cạnh bộ môn tin học, các bộ môn khác cũng đều nghiên cứu
khai thác nhữns khả nâng hồ trợ của côns nghệ thông tin cho quy trình siảns
dạy bộ môn mình. Giảns dạy có máy vi tính hỗ trợ đã trở thành một thực tế
thu hút sự chú ý cùa nhiều giáo viên đặc biệt là nhữns
2Íáo viên bậc đại học.
Thậm chí có thế hình dung ràng giảng dạy đại học là mỏi trường có thể tận
dụng hết sức hữu hiệu công nghệ thông tin. đặc biệt là côno nghệ Multimedia
thườns được £ỌÌ là côns nshệ đa phươns tiện, một côns nshệ có thể thoả mãn
được những Yéu cầu rất đa dạns của giáo dục đại học.
1.2. Công nghệ Multimedia
1.2.1. Khái niệm Multimedia (Đa pììương tiện)
Cho "den nay Multimedia được hiểu như là sự kết hợp của 4 phương tiện
chính:
• Phương tiện kỹ thuật truyền vãn bản
• Phương tiện kỹ thuật truyền àm thanh
• Phương tiện kỹ thuật truyền hình ảnh, video và hoạt hình
Một đĩa CD ROM có thê’ chứa dims được 2ấn 200 ca khúc có nahĩa là khoảna
200 lài liệu âm thanh mà mỗi tài liệu có đô dài khoánc ba phút nrỡi.
14
Gần đây, một loại đĩa nữa mới ra đời với một kỹ thuật nén hình ành đặc biệt
cho phép tăn2 khả năng lưu trữ cùa một đĩa lớn 2ấp khoáns 7 lần so với đĩa CD
ROM mặc dù kích cỡ của đĩa không thav đổi. Đó chính là đĩa DVD. Cả một cuốn
phim dài với hình ảnh, âm thanh chất lượng cao có thể đặt trọn trons một đến hai đĩa
loại này.
• Multimedia trên mạng
Từ chục năm nay, người ta thấy khắp nơi nhữna bài báo, những chươno trình
truyền hình nói tới một phát minh khoa học mới: Internet.
Internet là một mạng thông tin được tạo nên bời sự liên kết rất nhiều mạng
thông tin trên toàn cầu có cùn2 một chuẩn truyền, nhân thôna tin. Nó được ví như là
một thư viện và một vãn phòng làrrTviệc ảo. Nó là sự qui tụ cùa Côn2 nghệ thông tin
và viễn thông. Nhờ Internet người ta có thể trao đổi thông tin một cách nhanh chóng
với những miền xa xôi, hẻo lánh. Internet giúp chúns ta xoá bỏ khoảng cách, chỉ
trong vài giây ta đã có thể kết nối với nhữns nguồn thông tin nằm khắp nơi trên trái
đất này. Có thế nói thư viện của toàn thế giới nằm naay trong tầm các bàn phím vi
tính. Các dịch vụ trên Internet hữu hiệu đến mức mà số lượng người sử dụng nó tãns
không ngừng.
• Nsôn ngữ được dụng để tạo nên trana mạng trên Internet cho đến nay thường là
ngôn ngữ siêu văn bản HTML (hypertext Mark Up Language). Naôn naữ siêu vãn
bán cho chúns ta một kỹ thuật đọc hoặc viết một vãn bán có nhữns mối liên kết đa
dạns với các văn bản khác. Nó siúp chúns ta tổ chức các thôna tin không chì còn
theo tuyến tính như trước đây mà còn tạo ra được nhữns mối liên kết đa chiều giữa
nhữns thôna tin có cùng chủ điểm, cùng ngữ cánh. Tại một văn bán-đans hiện trên
màn hình máy tính, khi ta đưa con trỏ đến từ hoặc nhóm từ hay một hình ánh đã
được thiết lập mối liên kết siêu văn bản thì con trỏ sẽ biến thành hình bàn tay với
ngón trỏ; kích lén đó, ta có thể thâm nhập vào một trana mans mới, xem một tài liêu
mới có thể nằm tại một máy chủ ở một nước xa xôi nào khác mà có những thông tin
hoạ màu. Chưa kê nhữns phức tạp của những tài liệu ám thanh, hình ảnh động gãy
khó khăn khi muốn đưa nó vào trong giáo trình. Nếu cuốn sách giáo khoa nào cũng
có độ dày ít ra là 500 đến 600 trang thì người dạy và naười học gập nhiều phiền toái.
Tinh hình đó buộc na ười biên soạn phải chuẩn bị bài rất cô đọns. không thể đưa vào
16
nhiều bài báo, tạp chí, tài liệu tham khảo, mờ rộng, trong khi đó người học lại mong
muốn có được những tài liệu phản ánh những khái niệm cung như thực tế cùa mọi
khu vực, dãn tộc trên thế giới. Trình bày, giới thiệu các nội dụng phản ánh những
hoàn cảnh, tình huống và những lĩnh vực khác nhau trong đời sống’xã hội vốn rất đa
dạng, phong phú một cách tường tận, cụ thể, chi tiết đang là một vấn đề nan giải đối
với người giáo viên khi trong tay chỉ có những phương tiện, thiết bị truyền thống.
Ngay cả việc để lấp các chỗ thiếu hụt, người giáo viên có cho học sinh danh mục
sách tham khảo thì các cuốn sách đó vẫn luôn bị hạn chế bời vấn đề in ấn, trọng
lượng
Một chiếc máy tính cá nhân với ổ đĩa cứng hiện nay thường là một vài chục GB
đã có thể chứa được một lượng thông-ún khổng lồ. Một ổ đọc đĩa CD ROM cho
phép ta khai thác đĩa CD ROM có đường kính chì 12 cm với dung lượng thường là
650 đến 700 MB đã có thể chứa trên nó khoảng 250.000 trang văn bản khổ A4.
Với khả nãna lưu trữ to lớn như vậy, người học ngoài các bài học chính khoá
còn có thể tham khảo các tài liệu hỗ trợ phong phú đa dạng, các từ điển bách khoa
toàn thư multimedia trên ổ cứng, trên đĩa CD ROM hoặc trên Internet.
Nhờ khả nãn2 cung cấp tư liệu đặc biệt của công nghệ multimedia, CD ROM có
thể cho phép nsười giáo viên cũng như học viên tổ chức hoạt động dạy - học theo
những phương thức mới chủ độnơ hơn, phong phú hơn, tích cực hơn.
1.3.2- Với công nghệ multimedia giáo viên và học viên có thể tạo ra những tài liệu
âm thanh chất lượng cao, dễ dàng lưu trữ và khai thác chúng
Trong các chương trình dạy - học không có sự hỗ trợ của công nghệ multimedia
người ta có thể liệt kê ra được một số thiết bị hỗ trợ về âm thanh sau đây: băng từ
với máy ghi âm, bãng hình với đầu phát hình, phim nhựa với máy chiếu phim. Một
thời kỳ khá dài các thiết bị này hỗ trợ đắc lực cho một số hoạt động dạy - học: một
xử lý thông tin với một tốc độ hết sức nhanh chóng. Chỉ với một động tác kích
chuột, học viên gần như tìm thấy ngay thông tin mình muốn. Kể cả những thông tin
còn đang nằm ờ một máy chủ nào đó trên thế giới thì thời gian cũng chỉ tính bằng
phút thậm chí là giây thôi. Truy cập thông tin dễ dàng, nhanh chóng giúp cho người
học hào hứng, tiết kiệm thời gian và như vậy hiệu suất học tập nâng cao hơn.
1.3.4- Với thiết bị tin học multimedia, người học có thể chủ động lựa chọn cấp độ
và liến độ học tập cho riêng mình
Trên thực tế thật khó có được một lớp học mà tất cả học sinh có trình độ đồng
18
đều và khả năng tiếp thu như nhau. Đây là một khó khăn đối với các giáo viên khi
giảng dạy trên lớp theo phương pháp truyền thống. Các phần mềm dạy - học với
công nghệ tin học Multimedia cho phép khắc phục được khó khăn này. Khi n°ười
học mắc quá nhiều lỗi trong khi làm một bài tập, máy tính sẽ khuỳến cáo và đưa ra
cho học sinh những bài tập có cùng nội dung nhưng dễ hơn và ngược lại. Với khả
năng độc lập làm việc, học sinh có thể tự chọn cho mình một nhịp độ làm việc thích
ứng riêng cho mình. Trong nhiều phần mềm dạy - học người ta còn đưa vào đồng hổ
đếm thời gian cho phép học sinh theo dõi được tốc độ làm bài hoặc để khống chế
thời gian làm bài. Nhờ kỹ thuật này người học có thể định lượng được những tiến bộ
của mình trong quá trình học tập.
1.3.5- Công nghệ tin học Multimedia cho phép người học chủ động lựa chọn thời
gian liọc tập thích hợp nhất cho mình
Tận dụng sự tích hợp nhiều phương tiện trên cùng một máy vi tính, nhiều nhà
giáo học pháp - lập trình đã thiết kế những chương trình dạy - học với nhiều hoạt
động phong phú theo nguyên tắc hoạt động độc lập, tự học. Với khả nãns lường
trước được những khó khăn học sinh gặp phải khi tiến hành các hoạt động lĩnh hội
kiến thức và luyện tập kỹ năng, các phần mềm đã đưa ra những lời giải thích, chỉ ra
nguyên nhân mắc lỗi, đưa vào những phần hỗ trợ lý thuyết, các bài tập bổ trợ, cho
phép siảm đến mức tối thiểu sự can thiệp trực tiếp của người giáo viên. Do vậy, quá
trình học tập cùa một người học sinh không còn hoàn toàn bị lệ thuộc vào sự hiện
diện bắt buộc cùa người giáo viên như trong các phương pháp truyền thống. Tính ưu
Đặc biệt với khả năng phong phú phát triển những kiến thức vãn hoá , đất nước
học, các phần mềm dạy-học có thể đáp ứng được nhiều đối tượng với những nhu cầu
rất khác nhau.
1.3.91- Các phần mềm dạy - học luôn tận dụng một đặc tính quan trọng của công
nghệ tin học đó là tính chính xác
ỏ các phương pháp truyền thống, việc chấm nhiều bài làm của học sinh thường
bị coi là một cõng việc cực nhọc và mất nhiều thời gian. Giáo viên dễ dàng bỏ sót
lỗi của học sinh khi chấm bài. Máy tính có thể giúp giáo viên khắc phục được những
hạn chế này. Máy luôn cho ra những lời nhận xét chính xác và máy sẽ chẳng "mệt
mỏi" khi phải chấm nhiều bài. Tất nhiên, ưu điếm này chỉ phát huy được mạnh mẽ
20
đối với những loại hình bài tập có thể định lượng cũng như định tính một cách chính
xác.
1.3.10-Đặc tínli tương tác người - máy trong các phần mềm dạy - học là một điểm
mạnh của cóng nghệ tin học
Học sinh mỏi khi gặp khó khăn đều có thê dễ dàng yêu cầu máy đưa ra những
chương trình trợ giúp. Mỗi khi thấy người học không vượt qua được một số trờ ngại
để đạt được kết quả tốt, máy có thể đề xuất những giải pháp giúp người học tiến bộ.
"Úng xử" của máy với người học hết sức "kiên nhẫn", không làm cho người học
hoang mang và luôn đưa ra những lời khuyên mỗi khi người học phạm sai lầm.
1.3.11- Dạy - học với sự trợ giúp của công nghệ tin học Multimedia cho phép giải
rod được tám lý ức chế, tụ ti, rụt rè của người học
Trong các lớp học người ta vẫn thường gập phải một số học sinh có tâm lý tự ti,
rụt rè. Những học sinh này thường tiến bộ chậm chạp, kết quả học tập thấp hơn so
với những học sinh khác. Các học sinh này thường sợ mắc lỗi trước đông người.
Máy tính với các phần mềm dạy - học giúp họ dần dần tự tin hơn khắc phục tâm lý
tự ti, rụt rè tronọ học tập.
Do có thể tổ chức được nhiều hoạt động học tập độc lập không cần có sự
hiện diện thường trực của giáo viên cộns thêm khả năng tương tác giữa người
và máy, người học sẽ không cảm thấy xấu hổ, khôn? bị mặc cảm mỗi khi làm
hiệu quả cho học tập trên lớp. Điều này cần sự hướng dẫn, chỉ bảo dưới
hình thức giao nhiệm vụ của giáo viên cho sinh viên tìm kiếm thông tin
và hệ thống hoá các thông tin tìm kiếm được.
2.3. Phẩn mềm phục vụ dạy học môn Cơ sở Vãn hoá Việt Nam
Có hai nhóm chương trình: Các chương trình đã được biên soạn đặt trẽn các
CDROM, DVD hoặc lưu hành trên mạng. Hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều
chương trình mang tính tư liệu có thể phục vụ cho bài giảng trên lớp. Những chương
trình này thườns có tính chuyên nghiệp, chất lượng âm thanh, hình ảnh cao. Tuy
nhiên nhiều chương trình không đáp ứns nội dung hoặc mục tiêu cùa bài giảng.
Trong trường hợp này giảng viên cần lựa chọn và xem xét cũng như xác định mục
đích sử dụng cụ thể cho từna chương trình cũns từng phần trích dẫn.
25
• Việc khai thác, sử dụng các phần mềm công cụ cùa đội ngũ giáo viên
sinh viên để xây dựng bài giảng, bài học ngày một phát triển rộng rãi. Điều đó
chứng tỏ xu hướng sử dụng công nghệ multimedia trong nhà trường đang tiến dần
đến mức trở thành một nhu cầu cấp thiết.
• Trung tâm Multimedia với đội ngũ nghiên cứu viên chuyên sâu đã tích
luỹ được nhũng lý luận cũng như kinh nghiệm ứng dụng công nghệ thông tin trong
giáo dục đã trờ thành trung tâm tư vấn cũng như tham mưu chủ trương đẩy mạnh sử
dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.
Với những điều kiện cần thiết từng bước hội tụ trong trường ĐHNN-ĐHQG
HN, chúng tôi thấy rằng trường ĐHNN-ĐHQG HN đã có đủ những điều kiện cơ sở
để ứng dụng công nghệ thông tin nói chung và công nghệ multimedia vào giảng dạy
môn cơ sở văn hoá Việt Nam.
4. ứ n g d ụ n g cô n g n g h ệ th ô n g tin v à o 6 b à i g iả n g m ả u
Theo chương trình 45 tiết và lịch trình môn học 15 tuần, các bài trong
bảng sau được lựa chọn làm bài giảng mẫu:
THỨ Tự
TUẦN LỄ
SÕ TIẼT