THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO GIẢNG DẠY CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG THPT TẠI CẦN THƠ - Pdf 25


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Trần Lê Duy Khiêm
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ
VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
VÀO GIẢNG DẠY CỦA HIỆU TRƯỞNG
TRƯỜNG THPT TẠI CẦN THƠ

Chuyên ngành: Quản Lý Giáo dục
Mã số: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGÔ ĐÌNH QUA

DANH DỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
1 CBQL : Cán bộ quản lý
2 CNTT : Công nghệ thông tin
3 CSVC : Cơ sở vật chất
4 ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
5 GV : Giáo viên
6 HS : Học sinh
7 HT : Hiệu trưởng
8 NXB : Nhà xuất bản
9 PHT : Phó hiệu trưởng
10 PPDH : Phương pháp dạy học
11 TBDH : Thiết bị dạy học
12 THPT : Trung học phổ thông
13 TT : Tổ trưởng

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ những năm cuối của thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, cục diện thế giới có nhiều thay
đổi, cách mạng khoa học và công nghệ thế giới tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao,
thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hoá nền sản xuất và đời sống
xã hội. Sự bùng nổ của công nghệ thông tin (CNTT) nói riêng và khoa học công nghệ nói
chung đang tác động mạnh mẽ vào sự phát triển của tất cả các ngành trong đời sống xã hội.
Việc ứng dụng CNTT trong dạy học và công tác quản lý đang là một xu thế tất yếu của
nhiều quốc gia trong thế kỷ 21- kỷ nguyên của thông tin và tri thức.
Đất nước ta đang chuyển sang thời kỳ thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội
nhập quốc tế. Văn kiện Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VIII đã nhấn mạnh: “Nâng
cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể
Công tác quản lý trường THPT của hiệu trưởng tại thành phố Cần Thơ. 3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Thực trạng quản lý việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy của hiệu trưởng trường
THPT tại Cần Thơ.
- Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc ứng dụng CNTT vào
giảng dạy của Hiệu trưởng trường THPT tại thành phố Cần Thơ.
4. Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy ở một số trường THPT tại thành
phố Cần Thơ của các chủ thể quản lý có thể có nhiều ưu điểm như: các chủ thể quản lý đã
nhận thức được tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT, đã xây dựng kế hoạch ứng dụng
công nghệ thông tin vào giảng dạy, đã tổ chức chỉ đạo việc soạn bài giảng có ứng dụng
CNTT, đã tổ chức kiểm tra việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy... Nhờ vậy, việc tiếp thu kiến
thức và hình thành kỹ năng của học sinh được thuận lợi hơn, hiệu quả hơn việc giảng dạy
không có ứng dụng CNTT. Tuy nhiên, công tác quản lý việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy
ở một số trường vẫn còn một số hạn chế ở những công việc như: việc tổ chức thực hiện bồi
dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin cho giáo viên; việc tổ chức các hoạt động
chuyên đề, thảo luận trao đổi kinh nghiệm về ứng dụng công nghệ thông tin; công tác quản
lý phương tiện, thiết bị.
Có được những thành tựu trên là nhờ đội ngũ cán bộ quản lý (CBQL) quan tâm đến
việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy, có biện pháp quản lý phù hợp, có đội ngũ GV tích cực.
Những tồn tại hạn chế trên có thể do:
- Nhận thức về những nội dung quản lý việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy và sự tác
động qua lại của những nội dung đó ở CBQL của một số trường còn hạn chế.
- Biện pháp quản lý việc ứng dụng CNTT ở một số trường còn thiếu tính khoa học.
- Những khó khăn về đội ngũ GV (số lượng, chất lượng) và phương tiện hỗ trợ.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân loại và hệ thống hóa các lý thuyết có liên quan.
6.2.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.2.1. Phương pháp điều tra viết
+ Mục đích điều tra: Thu thập số liệu, tư liệu về thực trạng quản lý việc ứng dụng
CNTT vào giảng dạy và các biện pháp quản lý ở trường THPT nhằm chứng minh cho giả
thuyết khoa học của đề tài.
+ Nội dung điều tra
- Thực trạng quản lý việc ứng dụng CNTT ở một số trường THPT tại thành phố Cần
Thơ, những ưu điểm và hạn chế.
- Nguyên nhân của thực trạng.
+ Mẫu nghiên cứu
Trong tổng số 24 trường THPT tại thành phố Cần Thơ, chúng tôi chọn ngẫu nhiên 12
trường THPT (trong đó có 08 trường công lập; 03 trường bán công, 01 trường dân lập). Ở
mỗi trường, chúng tôi chọn ngẫu nhiên 05 CBQL, 25 GV, 30 HS.
+ Sử dụng hệ thống các câu hỏi và phiếu điều tra phục vụ cho đề tài.
6.2.2.2. Phương pháp quan sát
Phương pháp này được sử dụng để quan sát những hoạt động quản lý việc ứng dụng
CNTT vào giảng dạy.
6.2.2.3. Phương pháp phỏng vấn
+ Đối tượng phỏng vấn là hiệu trưởng (HT), phó hiệu trưởng (PHT), tổ trưởng (TT) và
các GV có kinh nghiệm.
+ Nội dung phỏng vấn là thực trạng và các biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy tại
trường THPT ở Cần Thơ.
6.2.3. Phương pháp toán thống kê
Phương pháp này được sử dụng để xử lý các số liệu điều tra. Các phép toán thống kê
được sử dụng trong đề tài là trung bình, tỉ lệ phần trăm và một số phép kiểm nghiệm thống
kê thông dụng của phần mềm SPSS.

viên đại học” [16].
Nghị quyết Trung Ương 2, khóa VIII nêu trên đã được cụ thể hóa bằng Chỉ thị 58-
CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị. Nội dung Chỉ thị có đoạn: “Đẩy mạnh ứng dụng
CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học. Phát triển các
hình thức đào tạo từ xa phục vụ nhu cầu học của toàn xã hội” [18].
Bên cạnh đó, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã có Chỉ thị 29/CT - bộ
gd&ĐT về Tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành GD - ĐT giai
đoạn 2001 - 2005. Nội dung Chỉ thị có đoạn: “Những thành tựu mới của khoa học và công
nghệ nửa cuối thế kỷ 20 đang làm thay đổi hình thức và nội dung các hoạt động kinh tế, văn
hoá và xã hội của loài người. Một số quốc gia phát triển đã bắt đầu chuyển từ văn minh công
nghiệp sang văn minh thông tin. Các Quốc gia đang phát triển tích cực áp dụng những tiến
bộ mới của khoa học và công nghệ, đặc biệt là CNTT, để phát triển và hội nhập” [7].
Đối với giáo dục và đào tạo, CNTT có tác dụng mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung,
phương pháp, phương thức dạy và học. CNTT là phương tiện để tiến tới một "xã hội học
tập". Mặt khác, giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng bậc nhất thúc đẩy sự phát triển
của CNTT thông qua việc cung cấp nguồn nhân lực cho CNTT.
Như vậy, ứng dụng CNTT vào giáo dục là một xu thế mới của nền giáo dục Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai lâu dài.
Đảng ta coi giáo dục là quốc sách hàng đầu trong chính sách phát triển đất nước trên
quan điểm con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội. Chính vì thế
mà kể từ Hội nghị Trung ương 4 khoá VII, Đảng ta đã ra nhiều nghị quyết, chỉ thị về phát
triển giáo dục.
Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII đã nêu: “Giáo dục và đào tạo hiện nay phải có một
bước chuyển nhanh chóng về chất lượng và hiệu quả đào tạo, về số lượng và qui mô đào tạo,
nhất là chất lượng dạy học trong các nhà trường nhằm nhanh chóng đưa giáo dục và đào tạo
đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước” [16].
Trong văn kiện Đại hội Đảng IX, Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra chủ trương “Tiếp
tục đổi mới, tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và
công nghệ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với cơ cấu hợp lý; triển khai thực hiện
chương trình phổ cập trung học cơ sở; ứng dụng nhanh các công nghệ tiên tiến, hiện đại”

việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy là một đề tài có thể chưa được nghiên cứu nhiều.
Từ năm 2003 đến 2005 dưới sự chủ trì của Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục,
PGS. TS. Đào Thái Lai đã làm chủ nhiệm đề tài: “Ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường
phổ thông Việt Nam”. Sau thời gian thực hiện đề tài tác giả đã thu được những kết quả nhất
định và kết quả đó là tài liệu tham khảo quý báu cho chúng tôi. Đề tài đã đưa ra được những
nguyên tắc chung và phương pháp ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy học một số
môn học. Những kết quả nghiên cứu của đề tài đã được triển khai thực nghiệm ở một số
trường phổ thông và đã thu được kết quả khả quan.
Kể từ khi CNTT được ứng dụng vào giảng dạy cho đến nay, theo các tài liệu mà chúng
tôi có được thì ở thành phố Cần Thơ chưa có tác giả nào nghiên cứu về vấn đề này. Vì vậy,
trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi muốn dựa trên cơ sở lý luận công tác quản lý của
HT, để tìm hiểu thực trạng công tác quản lý việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy ở một số
trường THPT tại thành phố Cần Thơ, từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động này
nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong trường THPT đáp ứng được yêu cầu đổi
mới của giáo dục hiện nay.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Khái niệm quản lý
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý nhưng có thể khẳng định quản lý là hoạt
động gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là quá trình lựa chọn những
tác động lên khách thể quản lý nhằm đảm bảo cho một hoạt động chung nào đó có kết quả
mong muốn. Chủ thể quản lý cần biết sắp xếp và thể hiện hợp lý các tác động lên đối tượng
bị quản lý, sao cho đảm bảo sự cân đối cả hai mặt ổn định và phát triển bộ máy.
Quản lý là một hoạt động lao động tất yếu trong quá trình phát triển của xã hội loài
người, nó được bắt nguồn và gắn chặt với sự phân công và hợp tác lao động, nó là một thuộc
tính bất biến, nội tại của mọi quá trình lao động xã hội. Sự cần thiết của hoạt động quản lý đã
được Mác khẳng định bằng ý tưởng độc đáo và đầy sức thuyết phục: “Một người độc tấu vĩ
cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [29,
tr.480].
Trong quá trình hình thành và phát triển của lý luận quản lý, tùy theo cách tiếp cận mà
khái niệm quản lý đã được các nhà nghiên cứu định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.

Việt Nam, bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới” [42,
tr.75].
M. I. Kôn-đa-cốp thì cho rằng: “Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp tổ chức cán
bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ
quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng
cũng như chất lượng” [34, tr.22].
Tác giả Trần Kiểm đưa ra hai định nghĩa:
- Một là ở cấp vĩ mô (hệ thống giáo dục): "Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của
chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, quan sát… một cách có hiệu
quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo
dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội” [33, tr.37].
- Hai là ở cấp vi mô (nhà trường): “Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của
chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể GV và học sinh, với sự hỗ
trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành phát triển toàn diện nhân cách học
sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường” [33, tr.38].
Theo tác giả Hồ Văn Liên thì “Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục có tổ chức, có
định hướng, của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên đối tượng giáo dục
và khách thể quản lý giáo dục về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, ... bằng một hệ
thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp, các biện pháp cụ thể
nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [35].
Từ những cách định nghĩa trên, chúng tôi hiểu quản lý giáo dục là
sự tác động có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể và đối tượng quản lý, nhằm huy
động các khách thể và đối tượng ấy cùng phối hợp tham gia vào các hoạt động giáo dục để
đạt được mục tiêu đã đề ra.
1.2.3. Quản lý dạy học
Quản lý hoạt động giảng dạy là hệ thống những tác động có mục đích của chủ thể quản
lý đến đối tượng quản lý trong nhà trường, nhằm khai thác và tận dụng tốt nhất năng lực của
giáo viên và các điều kiện, làm cho hoạt động giảng dạy trong nhà trường có chất lượng, góp
phần thực hiện mục tiêu giáo dục.
Hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm làm nên đặc thù của trường học trong đó

Hơn nữa, dạy học là một trong những hoạt động xã hội cho nên nó có các thành tố cấu
trúc hoạt động như: chủ thể, khách thể, mục đích, phương tiện, kiểm tra, kết quả. Các
phương tiện - điều kiện xã hội là những yếu tố khách quan của chủ thể hoạt động. Đó là:
- Các quy chế giáo dục và đào tạo đối với dạy học.
- Bộ máy tổ chức nhân lực: cách thức sắp xếp cơ cấu và cơ chế hoạt động của mỗi bộ
phận, mỗi thành viên trong tổ chức do chủ thể quản lý ấn định.
- Nguồn tài lực - vật lực: là tài chính, cơ sở vật chất và thiết bị… được sử dụng cho
hoạt động dạy học.
- Hệ thống thông tin cung cấp những hiểu biết cần thiết cho chủ thể quản lý và chủ thể
dạy học về mục đích, nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức, thành tựu
khoa học, công nghệ, những yếu tố kinh tế - xã hội, kể cả những phản ánh của người học,
người dạy, cộng đồng, xã hội về kết quả dạy học để quản lý dạy học; để dạy và để học.
- Môi trường dạy học: là môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và cả môi trường sư
phạm tác động tới hoạt động dạy học.
Như vậy, quản lý dạy học về mặt tổng thể là quá trình quản lý gồm năm lĩnh vực chủ
yếu sau:
- Quản lý việc thực hiện luật pháp, chính sách, điều lệ và quy chế dạy học.
- Quản lý bộ máy tổ chức và nhân lực dạy học.
- Huy động và sử dụng nguồn tài lực và vật lực dạy học.
- Quản lý hoạt động dạy học.
- Quản lý hệ thống thông tin dạy học.
Tóm lại: Quản lý dạy học là quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên, hoạt động học
tập của HS và quản lý các phương tiện, điều kiện CSVC trang thiết bị, nguồn nhân lực phục
vụ cho dạy học theo đúng luật pháp, chính sách, điều lệ và quy chế dạy học.
1.3. Một số lý luận liên quan đến công tác quản lý trường THPT của HT
Hai nội dung được chúng tôi trình bày trong phần này là “Nhà trường trung học phổ
thông - Nội dung quản lý của Hiệu trưởng” và “Chức năng quản lý nhà trường của người
HT”.
1.3.1. Nhà trường trung học phổ thông và nội dung quản lý của Hiệu trưởng
1.3.1.1. Vị trí, mục tiêu đào tạo của trường THPT

trường đào tạo nghề, vừa chuẩn bị học sinh vào đời. Do đó, trong nhà trường THPT ngoài
trang bị kiến thức còn phải hình thành được cho học sinh một số năng lực chủ yếu như: Năng
lực thích ứng với mọi thay đổi của thực tiễn để chủ động, tự chủ trong lao động, trong cuộc
sống và hòa nhập vào môi trường nghề nghiệp.
1.3.1.2. Đặc điểm của trường THPT
Cấp THPT là cấp học nối tiếp cấp trung học cơ sở và có trách nhiệm hoàn thành việc
đào tạo thế hệ học sinh đã qua các cấp học, bậc học trước đó của nhà trường phổ thông. Đây
là cấp học quan trọng trực tiếp tạo nguồn cho bậc cao đẳng, đại học, vừa góp phần đào tạo
nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Ở cấp học này ngoài việc
chuẩn bị cho học sinh những tri thức và kỹ năng về khoa học xã hội, nhân văn, toán học,
khoa học tự nhiên, kỹ thuật để họ có thể tiếp tục được đào tạo ở bậc học tiếp theo, cần phải
hình thành và phát triển cho họ những hiểu biết về những nghề phổ thông cần thiết cho cuộc
sống, để họ tham gia lao động sản xuất, xây dựng xã hội và khi có điều kiện tiếp tục học lên.
Từ nền tảng đó mà phát triển các phẩm chất, năng lực cần thiết đáp ứng nhu cầu xây dựng
đất nước trong giai đoạn mới.
Chủ trương đổi mới giáo dục trung học hiện nay là các trường tiến hành dạy học phân
hoá, vì đặc điểm phát triển tâm sinh lý của học sinh với khả năng, nguyện vọng đa dạng. Tuy
nhiên phân hoá theo hướng nào và với mức nào cũng phải bảo đảm tính phổ thông với nội
dung giáo dục mang tính chất nền tảng, làm cơ sở cho sự phát triển hài hoà, toàn diện nhân
cách.
1.3.1.3. Nội dung quản lý của Hiệu trưởng
Nghị quyết số 40/2000/QH 10 về “Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông” đã xác
định: “Đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học phải được
thực hiện đồng bộ với việc nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học, tổ chức đánh giá, thi
cử, chuẩn hoá trường sở, đào tạo, bồi dưỡng GV và công tác quản lý giáo dục” [43].
Chỉ thị số 14/2001/CT-TTG của Thủ tướng chính phủ đã chỉ rõ: “Thực hiện đồng bộ
với việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học với việc đổi mới
phương pháp đánh giá, thi cử, đổi mới đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ GV; đổi mới công tác
quản lý giáo dục, nâng cấp cơ sở vật chất của nhà trường theo hướng chuẩn hoá, đảm bảo
trang thiết bị và đồ dùng dạy học” [11].

i) Chịu trách nhiệm trước cấp trên về toàn bộ các nhiệm vụ được quy định trong khoản
1 Điều này.
Như vậy đối tượng quản lý của HT là GV và HS, khách thể quản lý là toàn bộ các hoạt
động giáo dục trong nhà trường, còn nội dung cụ thể của công tác quản lý trường THPT của
HT bao gồm:
- Quản lý công tác giáo dục học sinh nói chung và dạy học nói riêng trong và ngoài giờ
lên lớp.
- Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học hỗ trợ hoạt động giáo dục trong nhà trường.
- Quản lý hoạt động thi đua khen thưởng.
- Quản lý các hoạt động khác như quản lý nhân sự, quản lý tài chánh, công tác xã hội
hóa giáo dục.
1.3.2. Chức năng quản lý nhà trường của người HT
Theo Giáo trình khoa học quản lý của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thì
“Chức năng quản lý là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thể quản lý nảy
sinh từ sự phân công, chuyên môn hóa trong hoạt động quản lý nhằm thực hiện mục tiêu”
[25, tr.20].
Bất kỳ một hoạt động quản lý nào cũng đều thực hiện nhiều chức năng quản lý khác
nhau, từng chức năng có tính độc lập tương đối nhưng chúng lại được liên kết hữu cơ trong
một hệ thống nhất. Chức năng quản lý bao gồm chức năng cơ bản và chức năng cụ thể.
- Chức năng quản lý cơ bản: là chức năng mà bất kỳ dạng hoạt động quản lý nào cũng
đều phải thực hiện. Chức năng quản lý cơ bản phản ánh nội dung của quá trình quản lý tức là
các giai đoạn kế tiếp nhau từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc một chu kỳ quản lý. Tùy theo cách
tiếp cận mà có nhiều cách phân định các chức năng cơ bản của quản lý nhưng tựu trung có
thể chỉ ra được 4 chức năng cơ bản được xem là các chức năng công cụ của quá trình quản
lý, đó là: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
- Chức năng quản lý cụ thể: là chức năng được quy định bởi sự phản ánh các nhiệm vụ
cụ thể của đối tượng quản lý, nó do các chức năng hoạt động cụ thể tạo ra. Chức năng cụ thể
của quản lý nhà trường được tác giả Hà Thế Ngữ xác định: “Mỗi chức năng của quản lý giáo
dục là sự kết hợp giữa một chức năng quản lý với một thành tố của hệ thống giáo dục nhà
trường. Khi xây dựng bốn chức năng cơ bản của quản lý đồng thời cũng xây dựng những

phải được thảo luận, đóng góp ý kiến và có sự thống nhất của đội ngũ GV trong Hội nghị
Công nhân viên chức đầu năm học. Làm được điều này thì hy vọng kế hoạch nhà trường sẽ
được thực hiện.
Đối với trường THPT, việc lập kế hoạch sẽ được tiến hành thông qua hai giai đoạn:
- Giai đoạn thứ nhất: chuẩn bị cho việc lập kế hoạch bao gồm: xác định trạng thái xuất
phát của nhà trường trước khi bước vào một năm học mới, đây cũng chính là trạng thái của
nhà trường khi kết thúc năm học trước; phân tích sư phạm về các số liệu của trạng thái xuất
phát cùng các nguyên nhân; xác định hướng phát triển cơ bản, đề xuất hệ thống các vấn đề sẽ
đưa vào kế hoạch; phác thảo hệ thống mục tiêu, hệ thống các biện pháp lớn, sơ thảo bản kế
hoạch “thô” để lấy ý kiến trong lãnh đạo và cốt cán đồng thời xin ý kiến cấp trên về những
vấn đề chiến lược.
- Giai đoạn thứ hai: lập kế hoạch năm học bao gồm các bước: dự báo hệ thống mục
tiêu đã được phác thảo ở giai đoạn trước, phân loại ưu tiên, lập cây mục tiêu, định chuẩn
đánh giá; lựa chọn hệ thống biện pháp tối ưu nhằm huy động toàn bộ nguồn lực trong nhà
trường; mô hình hóa quá trình phát triển của hệ thống quản lý từ trạng thái xuất phát qua các
trạng thái trung gian đến trạng thái kết thúc như mong đợi; chương trình hóa hành động của
hệ trong suốt năm học, tức là đưa lịch thời gian cùng các bộ phận thực hiện vào nội dung kế
hoạch; trình cấp trên phê duyệt, điều chỉnh và hoàn thiện kế hoạch như một văn bản pháp lý
mà mọi thành viên trong nhà trường phải có nhiệm vụ thực hiện.
1.3.2.2. Tổ chức thực hiện kế hoạch
Đó là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn lực theo những cách thức nhất định để
thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra.Chức năng tổ chức có vai trò hiện thực hóa các mục tiêu
và tạo nên sức mạnh của tập thể bởi “tổ chức là phối hợp các tác động bộ phận lại với nhau
làm cho chúng tạo nên một tác động tích hợp, mà hiệu quả của tác động tích hợp này lớn hơn
tổng hiệu quả của các tác động bộ phận” [ 42, tr.70].
Để thực hiện được vai trò quan trọng trên, HT phải thiết lập được một cấu trúc tổ chức
tối ưu của hệ thống quản lý. Cấu trúc này được thiết lập trên cơ sở: bố trí sắp đặt các bộ
phận, cá nhân và sự phân công phân nhiệm đến từng người về từng mặt hoạt động của nhà
trường; sự phân bổ các nguồn lực và việc xác định các cơ chế quản lý nhằm đảm bảo cho sự
hoạt động có hiệu quả của hệ thống quản lý theo mục tiêu đề ra. Trong quá trình thực hiện

kỳ hay đột xuất, kiểm tra toàn diện hay chuyên đề và sử dụng các phương pháp kiểm tra khác
nhau như phương pháp quan sát, phương pháp tác động trực tiếp đối tượng, phương pháp
tình huống, phương pháp xử lý thông tin tổng hợp. Kết thúc mỗi lần kiểm tra phải làm cho
đối tượng được kiểm tra kịp thời sửa chữa những sai sót, lệch lạc của mình.
1.4. Một số vấn đề lý luận liên quan đến quản lý việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy
của Hiệu trưởng trường THPT
1.4.1. Khái niệm CNTT
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia thì “Công nghệ thông tin (tiếng Anh:
Information Technology, viết tắt là IT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông
tin, đặc biệt trong các cơ quan tổ chức lớn. Cụ thể, CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần
mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin. Vì lý do
đó, những người làm việc trong ngành này thường được gọi là các chuyên gia CNTT (IT
specialist) hoặc cố vấn quy trình doanh nghiệp (Business Process Consultant), và bộ phận
của một công ty hay đại học chuyên làm việc với CNTT thường được gọi là phòng CNTT”
[57].
CNTT đã được chính thức tích hợp vào chương trình học phổ thông trong hệ thống
giáo dục các nước Phương Tây. Người ta đã nhanh chóng nhận ra rằng nội dung về CNTT đã
có ích cho tất cả các môn học khác. Với sự ra đời của Internet bằng các kết nối băng thông
rộng tới tất cả các trường học, việc áp dụng các kiến thức, kỹ năng về CNTT trong các môn
học đã trở thành hiện thực.
Ở Việt Nam thì khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết 49/CP kí
ngày 04/08/1993 về phát triển CNTT của Chính phủ như sau: “CNTT là tập hợp các phương
pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính
và viễn thông - nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông
tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội” [10].
Cũng theo tự điển Bách khoa toàn thư Wikipedia thì: “CNTT là thuật ngữ chỉ chung
cho tập hợp các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến khái niệm thông tin và các quá
trình xử lý thông tin. Theo nghĩa đó, CNTT cung cấp cho chúng ta các quan điểm, phương
pháp khoa học, các phương tiện, công cụ và giải pháp kỹ thuật hiện đại chủ yếu là các máy
tính và phương tiện truyền thông nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn

Multimedia được hiểu là đa phương tiện, đa môi trường, đa truyền thông. Thông tin
được truyền dưới các dạng: Văn bản (Text), đồ hoạ (Graphics), ảnh động (animation), ảnh
tĩnh (image), âm thanh (audio) và phim video (video clip).
Đặc trưng cơ bản nhất của bài giảng điện tử là toàn bộ kiến thức của bài học, mọi hoạt
động điều khiển của giáo viên đều được Multimedia hoá.
“Bài giảng điện tử” là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch
hoạt động dạy học đều được chương trình hoá do giáo viên điều khiển thông qua môi trường
đa phương tiện (multimedia) do máy vi tính tạo ra. Cũng có thể hiểu bài giảng điện tử là
những tệp tin có chức năng chuyển tải nội dung giáo dục đến học sinh, chẳng hạn tệp
PowerPoint” [55].
Như vậy, thuật ngữ “bài giảng điện tử” theo quan điểm của ông Quách Tuấn Ngọc và
nhóm chuyên gia của trường Đại học An Giang không hoàn toàn giống nhau. Các thuật ngữ
“giáo án điện tử”, “bài giảng điện tử” vẫn còn nhiều quan điểm chưa thống nhất. Vì vậy,
trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi tạm gọi việc GV sử dụng bài giảng có sự hỗ trợ của
các phần mềm trình chiếu như: Violet, PowerPoint... giảng dạy trên lớp là bài giảng có ứng
dụng CNTT.
1.4.2 Nội dung ứng dụng CNTT vào giảng dạy
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII nhấn mạnh : “Ứng dụng
CNTT trong tất cả các lĩnh vực kinh tế quốc dân, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về năng suất,
chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế...” [16].
Chỉ thị 58-CT/TW của Ban Chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ngày
17/10/2000 “Về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá” ghi rõ: “Ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta nhằm góp phần giải
phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới,
phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tǎng cường nǎng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao
chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả nǎng đi tắt đón
đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [18].
Chỉ thị 29/2001/ CT-BGDĐT ngày 30/7/2001 của Bộ Giáo dục & Đào tạo “Về việc
tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành Giáo dục giai đoạn 2001 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status