BÀI GIẢNG HỌC PHẦN NGUYÊN LÝ KẾ TOÁN - Pdf 25

BÀI GIẢNG HỌC PHẦN
NGUYÊN LÝ KẾ TOÁN
1
MỤC LỤC
Danh mục từ viết tắt iv
Danh mục sơ đồ iv
4.5.3. Sơ đồ hạch toán 45
4.6.3. Sơ đồ hạch toán 50
Chú thích: 51
5.5. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 65
5.5.1. Khái niệm 65
5.5.2. Nội dung & kết cấu 65
5.5.4. Phương pháp lập 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu Ý nghĩa
TK Tài khoản
SXKD Sản xuất kinh doanh
TSCĐ Tài sản cố định
XDCB Xây dựng cơ bản
GTGT Giá trị gia tăng
TTĐB Tiêu thụ đặc biệt
CPSX Chi phí sản xuất
QLDN Quản lý doanh nghiệp
SXKDDD Sản xuất kinh doanh dở dang
CP Chi phí
CNV Công nhân viên
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
BHTN Bảo hiểm thất nghiệp

thông tin kinh tế, tài chính
+ Phương pháp: Để thực hiện quy trình thu nhận, xử lý và cung cấp thông
tin kế toán sử dụng một hệ thống các phương pháp bao gồm: phương pháp chứng
từ kế toán, phương pháp tính giá, phương pháp tài khoản kế toán và phương pháp
tổng hợp cân đối kế toán.
+ Thước đo của kế toán: chủ yếu là thước đo giá trị ngoài ra còn có thước đo
hiện vật, thước đo lao động.
+ Mục đích của kế toán: cung cấp thông tin cho các đối tượng khác nhau để
giúp họ ra quyết định.
1.2. Chức năng của hạch toán kế toán
- Chức năng phản ánh (ghi chép): Kế toán ghi chép, phân loại, xử lý, tính
toán và tổng kết các dữ liệu có liên quan đến quá trình hoạt động và sử dụng vốn
của đơn vị nhằm theo dõi toàn bộ các hiện tượng kinh tế, tài chính phát sinh trong
quá trình hoạt động của đơn vị.
4
- Chức năng giám đốc (kiểm tra): Thông qua số liệu đã được phản ánh kế
toán sẽ nắm được một cách có hệ thống toàn bộ quá trình và kết quả hoạt động của
đơn vị làm cơ sở cho việc đánh giá được đúng đắn, kiểm soát chặt chẽ tình hình
chấp hành luật pháp, việc thực hành các mục tiêu đã đề ra nhằm giúp cho hoạt
động ngày càng mang lại hiệu quả cao.
→ Hai chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ: phản ánh là cơ sở để giám
đốc, thông qua giám đốc giúp cho việc phản ánh được chính xác, rõ ràng và đầy đủ
hơn.
1.3. Nhiệm vụ và yêu cầu của hạch toán kế toán
1.3.1. Nhiệm vụ của hạch toán kế toán
- Ghi chép, tính toán, phản ánh số hiện có, tình hình luân chuyển và sử dụng
tài sản, vật tư, tiền vốn; quá trình và kết quả hoạt động SXKD và tình hình sử dụng
kinh phí của đơn vị.
- Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch thu -
chi tài chính, tình hình thu nộp và thanh toán, kiểm tra việc giữ gìn và sử dụng tài

- Kế toán có thể so sánh được:
1.3.3. Đặc điểm của kế toán
- Cơ sở ghi sổ là những chứng từ gốc hợp lệ, bảo đảm thông tin chính xác và
có cơ sở pháp lý.
- Sử dụng cả 3 loại thước đo: giá trị, hiện vật và thời gian nhưng chủ yếu và
bắt buộc là giá trị.
- Thông tin số liệu: bằng hệ thống biểu mẫu báo cáo theo quy định của Nhà
nước (đối với thông tin cho bên ngoài) hay theo những báo cáo do giám đốc xí
nghiệp quy định (nội bộ).
- Phạm vi sử dụng số liệu:
6
Trong nội bộ đơn vị kinh tế, các cơ quan chức năng của Nhà nước, những
đối tượng khác: nhà đầu tư, ngân hàng, người cung cấp
1.4. Các loại kế toán
1.4.1. Kế toán tài chính và kế toán quản trị
Việc phân chia này dựa trên cơ sở phạm vi cung cấp thông tin kế toán
- Kế toán tài chính: là loại hình kế toán liên quan chủ yếu đến việc cung cấp
thông tin kế toán cho những đối tượng bên ngoài đơn vị kế toán nhằm trợ giúp họ
trong việc ra các quyết định liên quan đến tình hình tài chính, kết quả kinh doanh
và dòng tiền của đơn vị kế toán.
- Kế toán quản trị: là loại hình kế toán liên quan đến việc cung cấp thông tin
tài chính và những thông tin khác cho toàn bộ các mức độ quản lý khác nhau trong
một đơn vị kế toán nhằm trợ giúp cho những nhà quản lý, điều hành thực hiện việc
lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, kiểm soát và ra các quyết định liên quan. Kế toán
quản trị được sử dụng như một công cụ quản lý ở tất cả các đơn vị kế toán.
1.4.2. Kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết
- Việc phân chia này dựa trên mức độ cụ thể, chi tiết của thông tin phản ánh
về các đối tượng kế toán
- Kế toán tổng hợp:
+ Là loại kế toán thực hiện việc thu nhận, xử lý, cung cấp thông tin về các

chức năng kiểm tra của kế toán.
1.4.4. Kế toán doanh nghiệp và kế toán công
8
- Việc phân chia này dựa trên cơ sở đặc điểm và mục đích hoạt động của
đơn vị kế toán
- Kế toán doanh nghiệp: là loại kế toán được tiến hành ở những đơn vị mà
mục đích chính của hoạt động là lợi nhuận
- Kế toán cộng: là loại kế toán được tiến hành ở những đơn vị hoạt động phi
lợi nhuận.
1.5. Một số nguyên tắc kế toán
Có 12 nguyên tắc cơ bản của kế toán, đó là:
1. Nguyên tắc cơ sở dồn tích: Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến
tài sản, nguồn vốn, chi phí, doanh thu,…phải được ghi sổ tại thời điểm nghiệp vụ
kinh tế phát sinh chứ không căn cứ vào thời điểm thực thu, thực chi tiền hoặc các
khoản tương đương tiền.
2. Nguyên tắc thước đo giá trị: Khẳng định 1 đơn vị thống nhất trong việc
tính toán và ghi chép các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh là tiền tệ.
Việt Nam dùng đồng ngân hàng Việt Nam với giả thiết là sức mua của đồng
bạc có giá trị bền vững hoặc sự thay đổi về tính giá trị của tiền tệ theo giá cả ảnh
hưởng không đáng kể đến tình trạng tài chính của đơn vị kinh tế. Tuy nhiên, khi có
sự biến động lớn về giá cả trên thị trường thì kế toán phải dựa vào những quy định,
hướng dẫn của Nhà nước để đánh giá lại các tài sản có liên quan từ giá trị đã ghi sổ
thành giá trị đương thời để làm tăng ý nghĩa của BCTC.
3. Nguyên tắc thực thể kinh doanh: Bất kỳ 1 đơn vị kinh tế nào tiến hành
hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần phải ghi chép, tổng hợp và báo cáo.
4. Nguyên tắc hoạt động liên tục: Kế toán phải đặt giả thiết là doanh nghiệp
sẽ hoạt động liên tục vô thời hạn hay ít nhất là không bị giải thể trong tương lai
gần. Nguyên tắc này là cơ sở cho các phương pháp tính khấu hao để phân chia giá
phí của các loại TSCĐ vào chi phí hoạt động của doanh nghiệp theo thời gian sử
dụng của nó…

13. Nguyên tắc trọng yếu: Đòi hỏi ghi chép các yếu tố được coi là quan
trọng bỏ qua những yếu tố được coi là không quan trọng nếu yếu tố bỏ qua đó
không ảnh hưởng đến sự nhận xét, đánh giá đối với người sử dụng thông tin kế
toán.
1.6. Đối tượng của hạch toán kế toán
1.6.1. Tài sản
Tài sản của doanh nghiệp gồm nhiều loại: Nhà xưởng, máy móc, nguyên vật
liệu,…Mỗi loại tài sản đều có nguồn gốc hình thành gọi là nguồn vốn.
Không tài sản nào không có nguồn gốc hình thành nên về mặt tổng số ta có:
Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn (1)
Tài sản của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều hình thành từ 2 nguồn:
Nguồn vốn của chủ sở hữu và các món nợ phải trả. Từ đó ta có đẳng thức:
Tổng tài sản = Nợ phải trả + Nguồn vốn chủ sở hữu (2)
- Tổng tài sản là giá trị của tất cả các loại tài sản hiện có của doanh nghiệp
kể cả các loại tài sản có tính chất hữu hình và các loại tài sản có tính chất vô hình.
Tài sản của doanh nghiệp được chia thành 2 loại:
+ Tài sản ngắn hạn: Là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp
nhưng có giá trị nhỏ, thời gian sử dụng, thu hồi, luân chuyển dưới 1 năm hoặc 1
chu kỳ kinh doanh, gồm có: vốn bằng tiền (tiền mặt, tiền gửi ngân hàng,các khoản
đầu tư ngắn hạn khác, ), vốn trong thanh toán (các khoản phải thu của khách
hàng, khoản phải thu khác, tạm ứng ) và vốn dự trữ hay còn gọi là hàng tồn kho.
+ Tài sản dài hạn: Là những tài sản có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài. Đặc
điểm của loại tài sản này là không thể thu hồi trong 1 năm hoặc 1 chu kỳ kinh
doanh, gồm: tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình, tài sản cố định đi
thuê tài chính, các khoản đầu tư dài hạn, cố phiếu, trái phiếu,
- Nợ phải trả: Là giá trị của các loại vật tư, hàng hoá, dịch vụ đã nhận của
người cung cấp mà doanh nghiệp chưa trả tiền hoặc là các khoản tiền mà doanh
11
nghiệp vay mượn hoặc các khoản phải trả cho công nhân viên, thuế,…Nhìn chung,
doanh nghiệp nào cũng có nhiều món nợ phải trả vì mua chịu tiện lợi hơn trả tiền

- Trong quá trình tuần hoàn tài sản không chỉ biến đổi về hình thái mà quan
trọng hơn là tài sản còn biến đổi về lượng giá trị. Giá trị tăng lên của tài sản từ kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh là mục tiêu của các doanh nghiệp nhằm tăng
vốn của chủ sở hữu sau khi thực hiện đầy đủ trách nhiệm pháp lý của mình tức là
lấy thu bù chi và còn có lãi.
13
Chương 2
PHƯƠNG PHÁP CHỨNG TỪ KẾ TOÁN
2.1. Nội dung và ý nghĩa của phương pháp chứng từ kế toán
2.1.1. Nội dung
- Khái niệm: Là phương pháp kế toán được sử dụng để phản ánh, kiểm tra
các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh và đã thực sự hoàn thành theo thời gian,
địa điểm phát sinh nghiệp vụ đó phục vụ công tác kế toán và công tác quản lý.
- Hình thức biểu hiện của phương pháp chứng từ kế toán: là các bản chứng
từ kế toán và trình tự luân chuyển chứng từ kế toán.
+ Bản chứng từ kế toán: là vật mang tin phản ánh nghiệp vụ kinh tế tài chính
phát sinh và đã hoàn thành, làm căn cứ để ghi sổ kế toán.
+ Trình tự luân chuyển chứng từ kế toán: là đường đi của chứng từ được xác
định trước đến các bộ phận chức năng, các cá nhân có liên quan, thực hiện chức
năng truyền thông tin về nghiệp vụ kinh tế tài chính phản ánh trong chứng từ kế
toán.
2.1.2. Ý nghĩa
- Chứng từ kế toán là cơ sở pháp lý cho mọi số liệu, tài liệu kế toán. Các tài
liệu kế toán phản ánh các hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị đều phải được ghi
chép, tính toán trên cơ sở số liệu của chứng từ kế toán đã được kiểm tra đảm bảo
tính hợp pháp, hợp lý. Thông tin kinh tế tài chính của kế toán chỉ có giá trị pháp lý
khi có chứng từ kế toán chứng minh.
- Chứng từ kế toán là cơ sở pháp lý cho việc kiểm tra tình hình chấp hành
các chính sách, chế độ, thể lệ kinh tế tài chính; kiểm tra tình hình chấp hành các
mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên; kiểm tra trách nhiệm vật chất của các đơn vị, cá

15
- Chứng từ bên trong (Chứng từ nội bộ): Là những chứng từ được lập ra
trong nội bộ đơn vị kế toán và chỉ liên quan đến các nghiệp vụ kinh tế giải quyết
những quan hệ trong nội bộ đơn vị: Bảng tính khấu hao tài sản cố định, biên bản
kiểm kê nội bộ…
- Chứng từ bên ngoài: Là những chứng từ về các ngiệp vụ có liên quan đến
đơn vị kế toán nhưng được lập ra từ các đơn vị khác như: Hoá đơn bán hàng, hoá
đơn cước vận chuyển…
* Theo nội dung, tính chất các nghiệp vụ kinh tế phản ánh trong chứng từ:
- Chứng từ vốn bằng tiền
- Chứng từ về vật tư, sản phẩm
- Chứng từ về công nợ (Nợ phải thu, phải trả)
- Chứng từ về chi phí XDCB và TSCĐ
- Chứng từ về chi phí
- Các chứng từ tổng hợp
2.2.2. Các yếu tố cơ bản của chứng từ kế toán
+ Tên gọi của chứng từ: Giúp phân loại chứng từ và tổng hợp số liệu của các
nghiệp vụ cùng loại dễ dàng.
+ Số hiệu chứng từ:
+ Ngày tháng lập chứng từ: Giúp cho việc ghi chép, kiểm tra và đối chiếu số
liệu được dễ dàng, khoa học và tránh được sự nhầm lẫn.
+ Tên gọi, địa chỉ của đơn vị hoặc các cá nhân có liên quan (Lập chứng từ,
nhận chứng từ): Đảm bảo tính pháp lý của chứng từ khi ghi vào sổ sách kế toán.
+ Nội dung của nghiệp vụ kinh tế phát sinh: Giúp để kiểm tra tính chất hợp
pháp của nghiệp vụ kinh tế.
16
+ Các chỉ tiêu về lượng và giá trị (Chỉ tiêu về thuế suất và số thuế phải nộp
nếu có): Kiểm tra mức độ thực hiện, làm cơ sở để tổng hợp số liệu ghi vào sổ sách
kế toán.
+ Chữ ký của người lập và những người chịu trách nhiệm về tính chính xác

* Tổ chức luân chuyển chứng từ và ghi sổ kế toán:
- Luân chuyển chứng từ là giao chuyển chứng từ lần lượt tới các bộ phận có
liên quan để những bộ phận này nắm được tình hình, kiểm tra, phê duyệt, lấy số
liệu ghi vào sổ kế toán (Tuỳ theo từng loại chứng từ mà có trình tự luân chuyển
phù hợp).
- Yêu cầu của luân chuyển chứng từ là hợp lý, nhanh chóng, kịp thời. Để
thực hiện được điều này cần phải xây dựng sơ đồ luân chuyển chứng từ kế toán
cho từng loại chứng từ trong đó có quy định đường đi của chứng từ, thời gian cho
mỗi bước luân chuyển, nhiệm vụ của nhân viên nhận được chứng từ.
* Bảo quản và lưu trữ chứng từ:
- Vì là tài liệu gốc, có giá trị pháp lý nên sau khi dùng làm căn cứ vào sổ,
chứng từ kế toán phải được sắp xếp theo trình tự, đóng gói cẩn thận và phải được
bảo quản, lưu trữ để khi cần có cơ sở đối chiếu, kiểm tra.
- Trước khi đưa vào lưu trữ, chứng từ được sắp xếp, phân loại để thuận tiện
cho việc tìm kiếm và bảo đảm không bị hỏng, mất mát.
- Thời gian lưu trữ ở phòng kế toán không quá 1 năm sau đó đưa vào kho
lưu trữ, thời gian lưu trữ ở kho thì tuỳ theo từng loại chứng từ được quy định cụ
thể trong các văn bản pháp quy về chế độ lưu trữ tài liệu kinh tế, tài chính.
2.4. Kiểm kê
2.4.1. Khái niệm
18
Yêu cầu của kế toán là phải đảm bảo phản ánh chính xác số thực có về các
loại tài sản của doanh nghiệp, số dư của các tài khoản ở sổ kế toán phải phù hợp
với số liệu thực tế hiện còn. Tuy nhiên, giữa số liệu kế toán và số liệu thực tế có
thể có chênh lệch do những nguyên nhân:
+ Khi thu, phát, đo lường không chính xác (Có thể do hữu ý hoặc vô ý)
+ Hao hụt tự nhiên trong quá trình bảo quản
+ Tham ô, mất mát…
Để đảm bảo cho số liệu kế toán chính xác, ngoài việc tổ chức tốt chứng từ
kế toán còn phải thực hiện kiểm kê tài sản để kiểm tra tài sản hiện có, đối chiếu

kiểm kê, lên kế hoạch kiểm kê …
- Trước khi kiểm kê: Thủ trưởng đơn vị phải lập ban kiểm kê, kế toán phải
hoàn thành việc ghi sổ tất cả mọi nghiệp vụ kinh tế đã phát sinh, tiến hành khoá sổ
đúng thời điểm kiểm kê. Nhân viên quản lý tài sản cần sắp xếp lại tài sản theo từng
loại, có trật tự, ngăn nắp để công tác kiểm kê được thuận lợi, nhanh chóng.
- Tiến hành kiểm kê: Tuỳ theo đối tượng mà có phương pháp phù hợp:
+ Kiểm kê hiện vật (hàng hoá, vật tư, thành phẩm, tài sản cố định, ), tiền
mặt, các chứng khoán có giá trị như tiền,… : Nhân viên kiểm kê cân đong đo đếm
tại chỗ có sự chứng kiến của người chịu trách nhiệm quản lý số hiện vật, tiền mặt,
chứng khoán đó. Riêng đối với kiểm kê hiện vật cần tiến hành theo một trình tự
định trước tránh kiểm kê trùng lặp hoặc thiếu sót. Ngoài việc cân đong đo đếm số
lượng còn cần quan tâm đánh giá chất lượng hiện vật, phát hiện những trường hợp
vật tư, tài sản hư hỏng, kém chất lượng.
+ Kiểm kê tiền gửi ngân hàng, tài sản trong thanh toán: Nhân viên kiểm kê
đối chiếu số liệu của đơn vị mình với số liệu của ngân hàng và các đơn vị có quan
hệ thanh toán. Trước hết là đối chiếu số dư ở sổ sách hai bên. Nếu phát sinh chênh
lệch thì phải đối chiếu từng khoản để tìm nguyên nhân và điều chỉnh, sử sai cho
khớp số liệu ở hai bên.
20
Kết quả kiểm kê được phản ánh trên các biên bản, có chữ ký của nhân viên
kiểm kê và nhân viên quản lý tài sản đúng mẫu phiếu kiểm kê quy định.
- Sau kiểm kê: các biên bản, báo cáo được gửi cho phòng kế toán để đối
chiếu kết quả kiểm kê với số liệu trên sổ sách kế toán. Toàn bộ kết quả kiểm kê,
kết quả đối chiếu phải được báo cáo với thủ trưởng đơn vị. Các cấp lãnh đạo sẽ
quyết định cách xử lý theo từng trường hợp cụ thể và kế toán căn cứ vào đó để
phản ánh vào sổ sách.
Tóm lại: Tuy kiểm kê là công việc có tính chất chỉ là cân đong đo đếm
nhưng lại là công việc hết sức quan trọng đặc biệt đối với vấn đề bảo vệ tài sản của
đơn vị. Nếu chỉ tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về lập chứng từ, kiểm tra chứng
từ, ghi sổ kế toán mà không tiến hành kiểm kê thì mới chỉ là chặt chẽ trên phương

tế, tài chính được phân loại và hệ thống hoá theo từng đối tượng cụ thể phục vụ
cho công tác quản lý kinh tế tài chính trong đơn vị một cách có hiệu quả, đáp ứng
yêu cầu quản trị kinh doanh trong đơn vị sản xuất kinh doanh.
- Nhờ có phương pháp tài khoản kế toán mà kế toán cung cấp được thông tin
có hệ thống về từng đối tượng kế toán, từng loại hoạt động kinh tế, tài chính, phục
vụ cho việc tổng hợp tài liệu theo các chỉ tiêu kinh tế, tài chính, lập các báo cáo tài
chính, đáp ứng các nhu cầu thông tin tổng hợp, phục vụ công tác lãnh đạo, công tác
quản lý các hoạt động kinh tế tài chính của Nhà nước và của đơn vị.
3.1.3. Nội dung và kết cấu của các tài khoản kế toán
- Khái niệm tài khoản kế toán:
Tài khoản kế toán là hình thức biểu hiện của phương pháp tài khoản kế toán.
Nó được sử dụng để phản ánh, kiểm tra, giám sát một cách thường xuyên, liên tục,
có hệ thống tình hình hiện có và sự vận động của từng đối tượng kế toán cụ thể.
* Hình thức của tài khoản kế toán:
- Mỗi đối tượng kế toán cụ thể được theo dõi trên một tài khoản khoản. Ví
dụ: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, đều được theo dõi riêng từng loại, mỗi loại là
một tài khoản.
- Xét về mặt vận động, bất kỳ một đối tượng kế toán nào cũng vận động theo
hai mặt đối lập (tăng - giảm) ví dụ như: vật liệu vận động theo nhập và xuất, tiền
mặt vận động theo thu và chi,
- Tài khoản kế toán được sử dụng để phản ánh sự vận động của từng đối
tượng kế toán cụ thể, mà bất kỳ một đối tượng kế toán cũng vận động theo hai mặt
đối lập. Do đó, kết cấu của tài khoản kế toán được chia thành hai phần chủ yếu.
Phần bên trái phản ánh một mặt vận động của đối tượng kế toán được gọi là bên
“Nợ”, phần bên phải phản ánh một mặt vận động đối lập còn lại của đối tượng kế
toán được gọi là bên “Có”.
23
- Như vậy, về hình thức, theo lý thuyết tài khoản được biểu hiện dưới dạng
chữ T nhưng trong thực tế tài khoản được biểu hiện dưới dạng sổ (có thể là tờ rời
hoặc đóng thành cuốn).

xxx
- Số dư cuối kỳ: Được tính bằng cách lấy số dư đầy kỳ cộng số phát sinh
tăng trong kỳ, trừ đi số phát sinh giảm trong kỳ.
* Nguyên tắc ghi chép trên tài khoản kế toán:
- Đối tượng kế toán trong các đơn vị sản xuất kinh doanh bao gồm các loại
tài sản, các nguồn vốn và các quá trình sản xuất kinh doanh. Vì thế có 3 loại tài
khoản: tài khoản tài sản, tài khoản nguồn vốn và tài khoản hoạt động sản xuất kinh
doanh (tài khoản trung gian). Nguyên tắc ghi chép của từng loại tài khoản cụ thể
như sau:
- Tài khoản tài sản:
+ Bên Nợ: phản ánh số dư đầu kỳ, số phát sinh tăng trong kỳ và số dư cuối
kỳ.
+ Bên Có: phản ánh số phát sinh giảm trong kỳ
Kết cấu chung của tài khoản tài sản:
- Tài khoản nguồn vốn:
+ Bên nợ: phản ánh số phát sinh giảm trong kỳ
+ Bên có: phản ánh số dư đầu kỳ, số phát sinh tăng trong kỳ và số dư cuối
kỳ.
25
Tài khoản tài sản
CóNợ

Trích đoạn Phương pháp lập
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status