Đứng trước sự thay đổi từng ngày của khoa học công nghệ và sự cạnh
tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường, nguồn nhân lực đã thực sự trở thành
tài sản quý giá đối với các công ty. Bởi vì một công ty chỉ có thể tồn tại và phát
triển được nếu dựa trên cơ sở phát huy hiệu quả của người lao động trong công
ty mình.
Một trong những yếu tố cơ bản nhằm duy trì, củng cố và phát triển nguồn
nhân lực tại công ty là việc trả đúng, trả đủ tiền lương cho người lao động.
Trong thực tế, mỗi công ty đều phải lựa chọn cho mình những hình thức trả
lương cho phù hợp. Tuy nhiên, cho dù hình thức trả lương nào thì chúng cũng
có những ưu và nhược điểm riêng của nó. Vì vậy, việc áp dụng và không ngừng
hoàn thiện hình thức trả lương là vấn đề cần thiết đối với các công ty.
Sau thời gian tìm hiểu tại Công ty Cổ phần Thương mại Thiệu Yên, nhóm
5 nhận thấy về cơ bản, việc lựa chọn hình thức trả lương cho người lao động là
phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty. Tuy nhiên, ban lãnh
đạo Công ty luôn quan tâm đến việc hoàn thiện hình thức trả lương này nhằm
phát huy những ưu điểm và hạn chế những nhược điểm của nó. Đứng trước thực
tế đó, nhóm đã chọn đề tài:“ Phân tích các hình thức trả lương. Liên hệ hình
thức trả lương theo sản phẩm tại Công ty Cổ phần Thương mại Thiệu Yên”.
1
!"#$%&'((&'($()'(*)+(#$$%,' :
Công ty CP_TM Thiệu Yên phát triển vững mạnh đến ngày nay có tiền
thân phát triểnnhư sau:
Trong thời kỳ chuyển dịch cơ chế thị trường chuyển từ bao cấp sang cơ chế
thị trường cùng với sự biến động tình hình Chính trị - Kinh tế thể giới, nhất là sự
ảnh hưởng lớn sau khi Liên Xô sụp đổ và kéo theo nó là một loạt các nước
XHCN, làm cho nền kinh tế nước ta gặp không ít khó khăn. Dẫn đến nhiều
doanh nghiệp cận kề với bờ vực phá sản, giải thể .Trước tình hình khó khăn đó,
để cứu cho doanh nghiệp không bị phá sản, giải thể. Ba đơn vị đó là: Công ty
Qua khảo sát thực tế, cơ cấu tổ chức của công tyđược thể hiện qua sơ đồ
sau:
3
HĐQT
Ban Giám Đốc
Các Trạm TM
Các Cửa Hàng
Kế Toán
Phòng Kế Hoạch Phòng Kế Toán
2.1 Bộ máy quản lý
Bộ máy quản lý cấp cao của Công ty bao gồm HĐQT, một giám đốc, hai
phó giám đốc và các phòng ban trực thuộc. Như vậy, người quản lý cao nhất là
HĐQT. Giám đốc là người sử dụng tất cả các phương pháp kinh tế, hành chính,
tổ chức để điều khiển quản lý Công ty và chịu trách nhiệm chính về mọi mặt
hoạt động của Công ty trước HĐQT. Theo mô hình trên ta thấy:
+ Giám đốc Công ty: Là người điều hành quản lý chung, giữ vị trí quan
trọng nhất và chịu trách nhiệm toàn diện về hoạt động, quản lý của Công ty
trước pháp luật và HĐQT.
- Phòng kế toán sắp xếp từ 6 đến 7 người, có chức năng thực hiện, giám sát
bằng tiền thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư cơ sở vật chất,
quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn của Công ty dưới sự lãnh đạo của kế toán trưởng
Công ty. Giúp việc cho kế toán trưởng là có một phó phòng kế toán, các kế toán
4
viên có nhiệm vụ hoàn thành công việc được giao, đồng thời phối hợp với các
nhân viên kế toán dưới các trạm và các đơn vị kinh doanh.
Phòng kế toán ngoài chuyên môn nghiệp vụ được ban giám đốc giao cụ thể
còn kiêm luôn các vấn đề về quản lý nhân sự, tổ chức lao động, thi hành các
quyết định của HĐQT và ban giám đốc đề ra.
- Phòng kế hoạch sắp xếp từ 1 đến 2 người. có nhiệm vụ tham mưu cho
Giám đốc tổng hợp kế hoạch toàn diện của Công tynhư: Kế hoạch lưu chuyển
theo quy định.
Thực hiện các khoản nộp ngân sách Nhà nước theo quy định.
Thực hiện nghiệp vụ thanh toán.
Chấp hành chế độ báo cáo, thống kê và kiểm tra chuyên đề.
- Phòng kế hoạch –kinh doanh
Tiếp nhận các đơn đặt hàng và giải quyết các đơn đặt hàng.
Vạch ra các kế hoạch, chiến lược kinh doanh.
6
Quản lý toàn bộ các hoạt động kinh doanh của công ty.
- Trạm thương mại Vĩnh Lộc –Huyện Vĩnh Lộc.
- Trạm thương mại Kiểu-Yên Phong –Yên Định.
-Trạm thương mại Quán lào –Thị Trấn Quán lào ;Yên Định.
- Trạm thương mại Thiệu Hoá -Thị trấn Vạn Hà ;Thiệu Hoá.
- Trạm thương mại ga Thanh Hoá -Phú Sơn ;TP Thanh Hoá.
- Trạm thương mại ga Nghĩa Trang –Hoằng Hoá.
- Trạm thương mại Nghệ An –TP Vinh ; Nghê An.
- Cửa hàng Honda uỷ nhiệm –Thị trấn Quán Lào.
- Cửa hàng Điện máy-Điện Lạnh Vĩnh Long; Vĩnh Lộc.
- Cửa hàng Điện máy -Điện Lạnh Kiểu ;Yên Trường –Yên Định.
- Cửa hàng Điện máy -Điện Lạnh Quán lào –Thị trấn Quán lào.
;!(</'='6*)'(>*?/@9/A'6$B
Là một đơng vị chuyên kinh doanh các mặt hàng :
+ Hàng phân bón ,giống cây trồng ,thức ăn gia súc ,hàng công nghệ phẩm .
+ Điện tử -Điện máy -Điện lạnh .
+ Dịch vụ ăn uống .
+ Kinh doanh vật liệu xây dựng .
+ Xây dựng các công trình dân dụng ,giao thông ,thuỷ lợi nhỏ .
+ Kinh doanh xe máy ,ô tô ,máy móc phục vụ nông nghiệp .
C!(D.'6$(</$E$(?()'6(:#/@9/A'6$B
7
- Công ty xác định kinh doanh là hoạt động lâu dài lên luôn mở rộng tìm
kiếm thị trường tiêu thụ hàng hoá trong và ngoài nước, thành lập thêm các chi
nhánh tại các địa phương chứa đựng nhiều cơ hội nhằm nâng cao việc khai thác
thị trường, mở rộng kinh doanh cũng như không ngừng hoàn thiện năng lực kinh
doanh cho chính bản thân công ty.
- Sự nâng cấp và thành lập liên tục các trạm bán buôn, bán lẻ trong những
nămgần đây chứng tỏ một chiến lược kinh doanh dài hạn của công ty và tìm
kiếm thị trường một cách khốc liệt, triệt để nhằm thu lợi nhuận cao.
10
RSTUV
WXYVZ
[\]^WXYVZ
[\(#'>*_$_'8D.'6
1.1. Tiền lương:
Tiền lương theo bộ luật lao động của nước cộng hoà XHCNVN qui định
thì : Tiền lương của người lao động do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao
động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công
việc.Trong đó, mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương
tối thiểu do nhà nước qui định và được trả cho người lao động cố định theo một
đơn vị thời gian, có thể theo ngày, theo tháng, hoặc theo tuần.
Tiền lương là một bộ phận cơ bản trong hệ thống thù lao để trả cho người
lao động. Tiền lương được gọi là thù lao cơ bản, tiền lương khác với các loại thù
lao dưới dạng khuyến khích: Tiền hoa hồng, tiền thưởng, phân chia năng suất,
lợi nhuận …hay các phúc lợi: BHXH, các chương trình giải trí, phương tiện đi
lại …Đó là : Tiền lương được trả đều đặn thường xuyên, mang tính chất ổn định
và đó là phần thu nhập chính để đảm bảo cho cuộc sống của người lao động.
1.2. Tiền lương tối thiểu:
11
Tiền lương tối thiểu là mức tiền lương thấp nhất áp dụng trả cho người lao
động làm công việc giản đơn nhất, ở mức độ nhẹ nhàng nhất trong điều kiện lao
hàng hoá, tiền lương là giá cả sức lao động. Hay tiền lương là số lượng tiền tệ
mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo giá trị hao phí sức lao
động trên cơ sở hợp đồng lao động. Tiền lương không chỉ dùng để phân phối mà
tiền lương dùng để trao đổi, nó mang phạm trù giá trị. Như vạy trong nền kinh
tế thị trường tiền lương đã được coi là yếu tố của sản xuất.Tiền lương không chỉ
để tái sản xuất sức lao động, mà còn là đầu tư cho người lao động.
Tiền lương mang bản chất kinh tế, phản ánh các quan hệ kinh tế vì lượng
tiền mà trả cho người lao động là lượng tiền mà người sử dụng lao động trả cho
người lao động. Ngoài ra tiền lương là bộ phận của chi phí sản xuất kinh doanh.
Vì vậy tiền lương cần phải tính toán và quản lý chặt chẽ.
13
Mặt khác tiền lương còn mang bản chất các quan hệ kinh tế xã hội: Do
tính chất đặc biệt của xã hội mà tiền lương không chỉ phản ánh các quan hệ kinh
tế mà còn phản ánh rất quan trọng liên quan đến đời sống và trật tự xã hội, tiền
lương càng quán triệt được tính công bằng, thì các quan hệ xã hội càng được
củng cố.
;[9$%`/@9$_'8D.'6*)'(a'6'6BE'$b//.2H'
3.1. Tiền lương có vai trò quan trọng đối với cả người lao động và doanh
nghiệp.
Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, giúp cho họ
trang trải các chi tiêu, các nhu cầu sinh hoạt của bản thân và gia đình. Ngoài ra
tiền lương còn phản ánh địa vị của gia đình trong xã hội. Vì vậy tiền lương cao
sẽ khuyến khích người lao động học tập và nâng cao trình độ lành nghề, nâng
cao chất lượng lao động và nâng cao sự đóng góp của họ đối với tổ chức và gia
đình. Vì thế người lao động rất tự hào về mức lương cao, muốn được tăng
lương.
Đối với doanh nghiệp tiền lương được coi là một yếu tố đầu vào, là một
bộ phận của chi phí sản xuất. Do đó nếu tăng lương hoặc giảm tiền lương thì sẽ
ảnh hưởng đến giá cả. Nếu giá tăng thì thị phần sẽ giảm. Đồng thời tiền lương
còn là động lực để duy trì người lao động trong tổ chức, là công cụ để quản lý
có tác dụng giữ người lao động ở lại doanh nghiệp mình. Tuy nhiên tiền lương
cũng không được quá cao hay quá thấp so với thị trường.
4.1.2. Chi phí sinh hoạt:
Tiền lương phải phù hợp với chi phí sinh hoạt, phải đảm bảo cho người
lao động đủ chi phí sinh hoạt hàng ngày để đảm bảo tái sản xuất sức lao động và
phần nào đó có tích luỹ, có như vậy thì người lao động mới có thể làm việc
được và làm việc một cách an toàn cho bản thân họ và đảm bảo về năng suất
chất lượng của công việc.
4.1.3. Các yếu tố về công đoàn trong tổ chức và các giải pháp công đoàn ở các
tổ chức khác.
Hiện nay ở nhiều công ty vai trò của công đoàn chỉ đóng một vai trò thứ
yếu trong các vấn đề về lương bổng và đãi ngộ. Tuy nhiên nếu có sự kết hợp
giữa bộ phân lao động tiền lương với tổ chức công đòan trong các lĩnh vực : Các
tiêu chuẩn để xếp loại lao động, các hình thức trả lương cho người lao động
trong doanh nghiệp, các mức trênh lệch lương. Nếu công ty muốn áp dụng các
16
kế hoạch trả lương kích thích sản xuất thành công, công ty cũng phải bàn bạc
với họ.Có công đoàn ủng hộ, các kế hoạch này dễ thành công.
4.1.4. Tác động của nền kinh tế :
Mức lương của doanh nghiệp luôn biến động tỷ lệ thuận với biến động
của nền kinh tế, khi nền kinh tế biến động thì cũng làm cho nền kinh tế bị ảnh
hưởng,tức là khi nền kinh tế suy thoái thì mức lương thấp và ngược lại khi nền
kinh tế ổn định thì hoạt động sản xuất của doanh nghiệp không bị ảnh hưởng
xấu, có nghĩa là nguồn lao động của doanh nghiệp không bi dôi dư, nh vậy mức
lương của người lao động sẽ tương đối ổn định.
4.1.5. Luật pháp:
Chính sách tiền lương của từng công ty là khác nhau, nhưng đều phải tuân
theo những qui định của nhà nứơc chính sách của nhà nước đặt ra: Qui định về
mức lương tối thiểu, chủng tộc, giới tính, tôn giáo
4.2. Các yếu tố bên trong tổ chức:
kiện làm việc. Từ những yếu tố này nhà phân tích sẽ đối chiếu với tất cả các
công việc khác nhau. Mỗi công việc đòi hỏi một mức độ kỹ năng, sức cố gắng,
trách nhiệm khác nhau, vì vậy nhà phân tích phải dựa vào bảng phân tích để xác
định mức độ hoàn thành công việc của từng người khác nhau để tiến hành trả
lương một cách công bằng.
19
4.4. Các yếu tố về cá nhân người lao động.
Các yếu tố về cá nhân người lao động bao gồm sự thực hiện công việc,
kinh nghiệm, thâm niên công tác, ý thích cá nhân. Các yếu tố này có ảnh hưởng
rất lớn kết quả của thực hiện lao động của người lao động, do đó ảnh hưởng rát
lớn đến tiền lương.
- Sự hoàn thành công tác: Đó là khối lượng công việc mà người lao động
thực hiện được trong một đơn vị thời gian nhất định, nó quyết định đến tiền
lương của người lao động.Do đó cấp quản tri phải áp dụng hệ thống lương dựa
vào sự hoàn thành công việc, phương pháp này đãi ngộ người lao động theo
năng suất của họ. Ngoài ra phương pháp này cũng kích thich người lao động
nỗ lực hết mình.
- Thâm niên công tác: Hiện nay ở Việt Nam yếu tố thâm niên công tác vẫn
được rất coi trọng trong việc phân chia lương và thăng tiến, do vậy yếu tố này
cũng ảnh hưởng đến tiền lương của người lao động.
- Kinh nghiệm làm việc: Kinh nghiệm là một yếu tố ảnh hưởng đến lương
bổng và đãi ngộ, kinh nghiêm làm việc giúp người lao động thực hiện công việc
dễ dàng do họ đã được làm quen với công việc. Hiện nay hầu hết các cơ quan tổ
chức trên thế giới đều dựa vào yếu tố này để tuyển chọn và xét lương bổng. Tuy
nhiên, kinh nghiệm cũng có mặt khong tốt nếu kinh nghiệm có cả mặt xấu, do
vậy khi xét lương bổng thì cấp quản lý phải quan tâm hạn chế những nhược
điểm này.
20
- ý thích cá nhân: ý thích cá nhân có ảnh hưởng đến tiền lương của người
lao động, việc người lao động được làm công việc mà mình yêu thích thì sẽ có
i
: Đơn giá sản phẩm i
Q
i
: Số sản phẩm i mà người lao động sản xuất ra
i: = ( 1, n )
Hình thức trả lương theo sản phẩm có tác dụng khuyến khích người lao
động nâng cao tay nghề và trình độ nghề nghiệp để nâng cao năng suất lao động
của mình từ đó làm năng suất lao động của công ty tăng nhanh, tuy nhiên hình
thức trả lương này cũng có nhược điểm là dễ làm cho người lao động chạy theo
số lượng sản phẩm mà không chú ý đến chất lượng sản phẩm sản xuất ra, từ đó
làm dãn đến tạo ra nhiều sản phẩm không đạt tiêu chuẩn gây ảnh hưởng đến
chất lương sản phẩm và uy tín của công ty.
Do vậy khi áp dụng hình thức tiền lương này thì cấp quản trị phải chý ý
tới việc kiểm tra chất lượng sản phẩm trong quá trình thực hiện công việc của
người lao động.
5.2. Đối tượng áp dụng :
Hình thức trả lương theo sản phẩm chủ yếu dùng để trả cho công nhân sản
xuất ra sản phẩm, các công việc có thể quan sát được rõ ràng cụ thể, có thể định
mức được. Như vậy hình thức trả lương này chỉ áp dụng cho công nhân sản xuất
chính,nhân viên bán hàng, công nhân phục vụ, tổ bốc xếp.
22
II) ]g\]hiSTWXYV
Z :
Để có thể áp dụng hình thức tiền lương theo sản phẩm đạt hiệu quả cao, phát huy
được hết khả năng làm việc của công nhân sản xuất, công nhân phục vụ, không
bị lãng phí nguyên vật liệu, đồng thời đảm bảo năng suất và chất lượng sản phẩm
thì công ty cần phải đảm bảo một số các điều kiện sơ bản như: Định mức lao
động có căn cứ khoa học, tổ chức phục vụ nơi làm việc, việc kiểm tra chất lượng
sản phẩm.
thể dùng để bốc xếp, vận chuyển
• Các trang bị công nghệ: Bao gồm các loại dụng cụ kiểm tra,
• Các trang bị tổ chức: bàn ghế, giá đỡ…
24
• Các trang bị thông tin liên lạc .
• Các trang bị an toàn vệ sinh công nghiệp, phục vụ vệ sinh công
nghiệp.
_ Bố trí nơi làm việc: Là sắp xếp một cách hợp lý trong không gian tất cả
các phương tiện vật chất cần thiết của sản xuất tại nơi làm việc, việc bố trí nơi
làm việc bao gồm 3 loại sau: Bố trí chung, bố trí bộ phận và bố trí riêng.
1.2. Phục vụ nơi làm việc:
1.2.1. Khái niệm:
Tổ chức phục vụ nơi làm việc là cung cấp cho nơi làm việc các loại
phương tiện vật chất kỹ thuật cần thiết và tạo các điều kiện thuận lợi để tiến hành
quá trình lao động. Hay nói cách khác tổ chức phục vụ nơi làm việc là tổ chức
đáp ứng đầy đủ các nhu cầu cho các nơi làm việc để quá trình lao động diễn ra
một cách liên tục và có hiệu quả cao.
Tổ chức phục vụ nơi làm việc là điều kiện không thể thiếu được của bất
kỳ quá trình sản xuất nào. Nếu tổ chức phục vụ nơi làm việc chu đáo sẽ cho phép
sử dụng tốt thời gian lao động của công nhân và công suất của máy móc thiết bị,
góp phần cải tiến các phương pháp và thao tác lao động, củng cố kỷ luật lao
động và đẩy mạnh thi đua trong tổ chức.
1.2.2. Các hình thức phục vụ nơi làm việc:
25