Đề án môn học
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình phát triển của một đất nước,Ngân hàng đóng vai trò rất
quan trọng.Nó là hệ thần kinh của toàn bộ nền kinh tế quốc dân,nền kinh tế
chỉ có thể phát triển với tốc độ cao nếu có một hệ thống Ngân hàng hoạt động
hiệu quả và vững chắc.Như vậy đòi hỏi Ngân hàng phải phát triển tương xứng
và hoạt động có hiệu quả trong hoạt động lưu thông tiền tệ.
Điều hoà lưu thông tiền tệ chủ yếu thông qua hoạt động tín dụng,hoạt
động tín dụng là xương sống của hệ thống Ngân hàng thương mại,vì quá trình
huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả sẽ giúp các thành phần kinh tế phát
triển ổn định và ngược lại.
Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường,cùng với sự phát triển
của sản xuất hàng hoá, quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá với đường lối
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ,hệ thống Ngân hàng thương mại cũng
ngày càng phát triển và trở thành các trung gian tài chính đưa vốn từ nời thừa
sang nơi thiếu,đáp ứng nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp.
Hoạt động Ngân hàng có nhiều bước chuyển biến tích cực.Tuy nhiên
trong nền kinh tế hiện nay,rủi ro là không thể tránh khỏi đối với các thành
phần kinh tế,do đó hoạt động Ngân hàng hàm chứa nhiều rủi ro cao.Những
nguy cơ tiềm ẩn như sự không trung thực của khách hàng,vốn vay bị sử dụng
sai mục đích,khách hàng phá sản đều biến thành khoản nợ khó đòi.Bên cạnh
đó,quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia
tăng khi tạo ra mộ môi trường cạnh tranh gay gắt,khiến hầu hết các doanh
nghiệp,những khách hàng thường xuyên của Ngân hàng phải đối mặt với
nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường.Do đó nhiệm
vụ quan trọng và trọng tâm của quản lý các Ngân hàng thương mại là phải
nâng cao chất lượng tín dụng,đưa ra các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi
ro tín dụng cho các thành phần kinh tế.Việc đánh giá,thẩm định, và quản lý tốt
các khoản cho vay các khoản dự định cho vay sẽ làm giảm rủi ro cho các
Ngân hàng và tất yếu giảm bớt nợ xấu cho Ngân hàng.
Nhận thức được vấn đề này,sau thời gian tìm hiểu nhóm chúng em đã
người Anh là Marilic Hurt Carty quan niệm ‘ rủi ro là tình trạng trong đó các
biến cố xảy ra trong tương lai có thể xác định được’.
Như vậy cụm từ rủi ro có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác
nhau,nhưng khái quát lại ta có thể hiểu rủi ro là sự xuất hiện một biến cố
không mong đợi gây thiệt hại cho một công việc cụ thể,rủi ro có thể xảy ra
trong mọi hoạt động,mọi lĩnh vực mà không phụ thuộc vào ý muốn có con
người.Đối với Ngân hàng,thì việc kinh doanh tiền tệ là hoạt động rất dễ xảy ra
rủi ro và thiệt hại gây ra là rất lớn.Rủi ro tác động trực tiếp tới kết quả doanh
lợi,nguy cơ phá sản của các Ngân hàng.Do vậy việc thừa nhận rủi ro trong
hoạt động kinh doanh của Ngân hàng và từ đó tìm kiếm phương pháp chống
đỡ các rủi ro là đòi hỏi sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng. Rủi ro trong
kinh doanh ngân hàng là một tất yếu ,mà các nhà quản lý Ngân hàng chỉ có
thể có chính sách giảm bớt chứ không thể gạt bỏ hoàn toàn được chúng.Trong
hoạt động kinh doanh Ngân hàng thường xảy ra những rủi ro như :rủi ro tín
dụng,rủi ro lãi suất,rủi ro thanh khoản,rủi ro tỷ giá….những rủi ro này rất dễ
xảy ra gây thiệt hại đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng ,trong đó đặc
biệt là rủi ro tín dụng.
II. Tín dụng Ngân hàng
Tín dụng xuất phát từ chữ la tinh là credo(tin tưởng ,tín nhiệm).Trong
quan hệ tài chính tín dụng có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.Xét
trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ
3
Đề án môn học
thể thiếu hụt tiêt kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ
từ người cho vay sang người đi vay.
Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của Ngân hàng,tín dụng
còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp cho
khách hàng. Tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay và bên đi
vay,trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong
một thời hạn nhất định theo thoả thuận,bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô
Còn theo Henie Van Greuning… Sonja Brajovic Bratanovic: Rủi ro tín dụng
được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi
hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. đây
là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc chi
trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ. điều này gây ra
sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản
của ngân hàng (The World Bank).
Ngày nay,nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh,cải tiến trang
thiết bị kỹ thuật,nâng cao công nghệ và các nhu cầu phục vụ sản xuất kinh
doanh luôn tăng lên.Để đáp ứng nhu cầu này,các NHTM cũng phải luôn mở
rộng quy mô hoạt động tín dụng,điều đó có nghĩa là rủi ro tín dụng cũng phát
sinh nhiều hơn.
II.2. Đặc điểm của rủi ro tín dụng .
II.2.1 Rủi ro tín dụng có tính đa dạng và phức tạp.
Đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình
thức, hậu quả của rủi ro tín dụng do đặctrưng ngân hàng là trung gian tài
chính kinh doanh tiền tệ. Do đó khi phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng phải
chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từ nguyên nhân bản chất và hậu quả
do rủi ro tín dụng đem lại để có biện pháp phòng ngừa phù hợp.
II.2.2 Rủi ro tín dụng có tính tất yếu.
Tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt
được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làm cho bất cứ
khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng. Kinh doanh ngân hàng
thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng.
II.2.3 Rủi ro tín dụng có thể dự báo trước hoặc không.
Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho
khách hàng. Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng gặp những tổn thất và thất
bại trong quá trình sử dụng vốn; Hay nói cách khác những rủi ro trong hoạt
động kinh doanh của khách hàng là nguyên nhân chủ yếu gây nên rủi ro tín
dụng của ngân hàng.Trong đó việc thất bại trong quá trình sử dụng vốn của
có sẽ giảm xuống và ngược lại.Rủi ro giảm giá trị của tài sản khi lãi suât thay
đổi thuộc loại rủi ro lãi suất và có thể dẫn đến thiệt hại cho Ngân hàng.
II.3.4 Rủi ro tỷ giá.
Rủi ro tỷ giá thường diễn ra dưới hình thức của một chệnh lệch giữa giá
đặt mua và giá chào bán của tiền tệ.Các rủi ro trong việc giao dịch ngoại hối
xuất phát từ tỷ giá hối đoái của các loại tiền tệ khác nhau do tác động kinh tế
và chính trị của một nước.
II.4. Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng.
Để đánh giá rủi ro tín dụng,ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau.
-Chỉ tiêu:Tổng dư nợ tín dụng trên tổng số tài sản có
Dư nợ tín dụng
Tổng tài sản có
6
Đề án môn học
Đây là chỉ số tổng quan về quy mô hoạt động của Ngân hàng.Chỉ tiêu này
-Chỉ tiêu:Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ:
Dư nợ quá hạn
Hệ số nợ quá hạn = x 100%
Tổng dư nợ
Để đảm bảo quản lý chặt chẽ, các NHTM thường chia nợ quá hạn thành các
nhóm sau:
+ Nợ quá hạn đến 180 ngày, có khả năng thu hồi
+ Nợ quá hạn từ 181-360 ngay, có khả năng thu hồi
+ Nợ quá hạn từ 360 ngày trở lên (nợ khó đòi).
Đây là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng tín dụng.Chỉ tiêu này càng
thấp càng tốt,nhưng ngược lại không thể đánh giá rằng khi chỉ số này vượt
quá tiêu chuẩn chung của ngành thì là xấu.Để có thể đánh giá được 1 cách
chính xác hơn về tình hình nợ quá hạn của Ngân hàng ta cần phải đánh giá
kèm theo chỉ tiêu vồng quay của các khoản nợ quá hạn này.
-Chỉ tiêu:Nợ khó đòi trên tổng nợ quá hạn.
∆
i
1+i
Với: * i :lãi suất
* D
A
, D
L
:là thời lượng của toàn bộ tài sản có và tài sản nợ
* A, L :là giá trị của tài sản có và tài sản nợ
Trong trường hợp ∆E < 0, chứng tỏ rằng Ngân hàng gặp rủi ro trong hoạt
động kinh doanh,trong đó có cả rủi ro tín dụng.
7
Đề án môn học
II.5 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng.
II.4.1 Nguyên nhân khách quan.
II.4.1.1, Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định.
Khi tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh,bao giờ doanh nghiệp cũng
tiến hành đánh giá tình hình thị trường cũng như đưa ra những dự báo phát
triển thị trường,dự báo tăng trưởng doanh số.Nếu nền kinh tế thế giới cũng
như nền kinh tế quốc nội vận hành theo quỹ đạo đã dự báo thì doanh nghiệp
sẽ thực hiện tốt các kế hoạch đã đề ra.Tuy nhiên như chúng ta đã biết,nền
kinh tế nước ta vẫn còn phụ thuộc quá nhiều vào các ngành sản xuất nông
nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp(nuôi trồng,chế biến thực phẩm
và nguyên liệu),dầu thô,…vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế
giới,nên dễ bị ảnh hưởng khi thị trường thế giới có những biến động xấu.
Bên cạnh đó,quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm
cho nợ xấu gia tăng khi tạo một môi trường cạnh tranh gay gắt,khiến hầu hết
doanh nghiệp,những khách hàng thường xuyên của Ngân hàng phải đối mặt
với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường.Bản thân sự
được những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin
kịp thời về tình hình hoạt động tín dụng nhưng chưa phải là cơ quan định mức
tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập và hiệu quả, thông tin cung cấp còn
đơn điệu, thiếu cập nhật Đó cũng là thách thức cho hệ thống ngân hàng trong
việc mở rộng và kiểm soát tín dụng cho nền kinh tế trong điều kiện thiếu một
hệ thống thông tin tương xứng.
II.4.1.3 Rủi ro do hàng hoá nhập lậu tràn vào trong nước
Hàng hoá nhập lậu vào Việt Nam qua các con đường vùng biên từ lâu đã
là nỗi ám ảnh của các doanh nghiệp nội địa.Hàng hoá nhập lậu có ưu điểm rẻ
hơn về giá,loại hình phong phú đánh mạnh vào nhu cầu đại bộ phận người
tiêu dùng có thu nhập thấp.các mặt hàng về đồ điện tử,kim khí,mỹ phẩm là
minh chứng cho hiện tượng trên
Các rủi ro cơ bản trên đã ảnh hưởng tới tình hình sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp.Một khi các đồng vốn mà doanh nghiệp đi vay đổ vào
sản xuất kinh doanh mà không thu lại được,tất yếu sẽ đẩy doanh nghiệp tới
việc mất dần khả năng trả nợ.Ngân hàng đứng trước nguy cơ khó thu hồi
khoản cho vay nay.
II.4.2 Nguyên nhân chủ quan .
II.4.2.1.Đối với Ngân hàng.
Ngân hàng thực hiện cho vay đối với các doanh nghiệp.Các ngành nghề
của các doanh nghiệp đi vay là rất đa dạng,đa phần các cán bộ tín dụng không
thể có đầy đủ thông tin cũng như hiểu biết về các ngành nghề lĩnh vực mà
doanh nghiệp đang đầu tư.Ta đã biết,hiện tại các doanh nghiệp,công tác kế
toán chi phí chưa được thực hiện hoá chuyên nghiệp,ghi chép liên tục rõ
9
Đề án môn học
ràng.Vì thế khi các Ngân hàng sử dụng báo cáo tài chính do doanh nghiệp
cung cấp sẽ đưa lại cái nhìn lệch lạc,không chuẩn xác.Chính vì thế rất khó
khăn trong việc đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp,nên Ngân hàng
thường có xu hướng ưu tiên các hồ sơ vay vốn có tài sản thế chấp,đảm
thoả thuận với ngân hàng như sử dụng sai mục đích nguồn tiền đi vay.
11
Đề án môn học
PHẦN 2
THỰC TRẠNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
I, Nhiệm vụ và mục tiêu của công tác quản trị rủi ro tín dụng.
Quản trị đề ra những mục tiêu cụ thể giúp ngân hàng đi đúng hướng,để
đảm bảo tính thống nhất trong quá trình thực hiện. Hoạch định phương hướng
và kế hoạch phòng chống rủi ro,cụ thể là:
+ Phương hướng nhằm vào dự đoán xác định rủi ro có thể xảy ra đến
đâu, trong điều kiện nào, nguyên nhân dẫn đến rủi ro, hậu quả ra sao,…
+ Phương hướng tổ chức phòng chống rủi ro có khoa học nhằm chỉ ra
những mục tiêu cụ thể cần đạt được, ngưỡng an toàn, mức độ sai sót có thể
chấp nhận được.
+Tham gia xây dựng các chương trình nghiệp vụ, cơ cấu kiểm soát
phòng chống rủi ro, phân quyền hạn và trách nhiệm cho từng thành viên, lựa
chọn những công cụ kỹ thuật phòng chống rủi ro, xử lý rủi ro và giải quyết
hậu quả do rủi ro gây ra một cách nghiêm túc.
II. Nội dung quản lý RRTD NHTM
II.1. Nhận biết và đánh giá rủi ro tín dụng
a, Để nhận biết rủi ro tín dụng về căn bản người ta thường dựa vào
các dấu hiệu sau : (1) các dấu hiệu tài chính, (2) các dấu hiệu phi tài chính,
(3) và các khoản cho vay.
(1) Các dâú hiệu tài chính
- Các chỉ số thanh khoản có dấu hiệu suy yếu
- Các chỉ số khả năng sinh lời có dấu hiệu suy yếu
- Các vòng quay hoạt động thể hiện sự suy yếu
- Cơ cấu vốn không hợp lý
- Dấu hiệu phi tài chính khác
Có sự xuống cấp của cơ sở kinh doanh
Hàng tồn kho tăng do không bán được, hư hỏng, lạc hậu
Có sự kỷ luật với cán bộ chủ chốt
(3) Các khoản cho vay
Tỷ lệ các khoản nợ quá hạn so với tổng dư nợ cho vay và cho thuê cao
Tỷ lệ giữa các khoản nợ ròng so với tổng dư nợ cho vay và cho thuê cao
Tỷ lệ giữa trích lập và sử dụng dự phòng tổn thất hàng năm so với tổng
dư nợ cho vay, cho thuê hay với tổng vốn sở hữu thất thường.
II.2 Giải quyết rủi ro tín dụng
Khi gặp rủi ro tín dụng, chúng ta có thể giải quyết vấn đề rủi ro thông
qua việc
Kiểm tra hồ sơ khoản vay có vấn đề
13
Đề án môn học
Gặp gỡ và thảo luận với KH
Lập kế hoạch hành động
Thực hiện kế hoạch
Quản lý và theo dõi thực hiện kế hoạch
Các biện pháp xử lý nợ vay có vấn đề và xử lý tổn thất tín dụng
Các biện pháp xử lý nợ vay có vấn đề và xử lý tổn thất tín dụng thường gặp
Các biện pháp xử lý nợ vay có vấn đề và xử lý tổn thất tín dụng thường gặp
Hình thức xử lý khai thác
– Cho vay thêm
– Bổ sung tài sản bảo đảm
– Chuyển NQH
– Thực hiện khoanh nợ, xóa nợ
– Chỉ định đại diện tham gia quản lý doanh nghiệp
Hình thức sử dụng các biện pháp thanh lý
– Xử lý nợ tồn đọng
tăng.Riêng trong năm 2003,quán triệt nhiệm vụ ngay từ đầu,toàn hệ thống đã
tích cực nắm bắt thị trường,tình hình biến động trong nước và thế giới,có
nhiều giải pháp phú hợp để đẩy mạnh huy động vốn đáp ứng nhu cầu cho nền
kinh tế.Đơn cử như giải pháp lãi suất huy động linh hoạt nội và ngoại tệ của
các Ngân hàng thương mại,phát hành trái phiếu Ngân hàng để nâng cao tỷ
trọng vốn trung và dài hạn,huy động vốn bằng cách tăng tiền gửi ngắn hạn.
Đến cuối năm 2003,số dư tiền gửi tại các tổ chức tín dụng tăng 45% so
với đầu năm ,cao hơn nhiều so với mức tăng năm trước và vượt kế hoạch đề
ra.Nhìn chung số vốn huy động được từ nền kinh tế- xã hội tăng đều đặn
trong các năm gần đây,rất có ý nghĩa đối với sự phát triển trong bối cảnh vốn
đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và nước ta chưa cao.
So với đầu năm,tính sơ bộ đến hết tháng 6 năm 2004,tổng nguồn vốn của
các tổ chức tín dụng trong cả nước tăng khoảng 16%,trong nguồn vốn huy
động từ dân cư tăng 8%.Bảng so sánh phân tích sau đây giúp ta nhận rõ hơn
tình hình này .
15
Đề án môn học
Bảng 1 : Tỷ trọng trong nguồn vốn của các TCTD.
So sánh
Nhóm các
TCTD
Tỷ trọng
trong tổng
nguồn vốn
của các
TCTD
(%)
Tăng so với đầu năm 2004(%)
Tỷ trọng trong
động của Ngân hàng.
-Các hoạt động đầu tư khác:hoạt động này rất đa dạng và góp phần làm
tăng thêm thu nhập cho ngân hàng.Đó là hình thức ngân hàng tham gia vào
hoạt động góp vốn, mua cổ phần của các công ty,liên doanh liên kết,mua bán
chứng khoán,cổ phiếu,trái phiếu nhằm đa dạng hoá danh mục đầu tư,giảm
thiểu rủi ro,đem lại nhiều lợi nhuận cho các ngân hàng.
16
Đề án môn học
Nhìn vào bảng 2 ta thấy,nếu cho vay bằng VND cả khu vực Ngân hàng
thương mại Quốc doanh cao gấp 4,5 -5 lần so với Ngân hàng thương mại ngoài
Quốc doanh,cho vay bằng ngoại tệ của Ngân hàng thương mại chỉ gấp 1,5-2,5
lần.Điều này phản ánh mức độ tập trung trong hoạt động tín dụng có tính cách
biệt.Khách hàng của Ngân hàng thương mại Quôc doanh chủ yếu là khách
hàng trong nước nên họ lệch về vay bằng VND nhằm dự phòng rủi ro về tỷ giá
và lãi suất không quá cao so với USD,thậm chí còn rẻ hơn sau khi điều chỉnh
theo sự thay đổi tỷ giá.Thị phần ngoại tệ của Ngân hàng thương mại Quốc
doanh chủ yếu là các khoản vay của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài tại chi nhánh Ngân hàng nước ngoài hoặc Ngân hàng liên doanh.
Bảng 2 : Mức tập trung thị phần cho vay của các NHTM Quốc doanh và
NHTM ngoài Quốc doanh
Năm
1998 1999 2000 2001 2002 2003
NHTMQD
Trong đó:-VND
-Ngoại tệ
79,6
53,8
25,8
75,5
53,5
12,1
6,3
28,6
20,4
8,2
Tổng
100 100 100 100 100 100
(Nguồn:Tạp chí Ngân hàng số 8 năm 2004)
Mặc dù thị phần huy động ,cho vay của các Ngân hàng thương mại Quốc
doanh chiếm phần lớn nhưng lại chịu sức ép cạnh tranh từ các chi nhánh
Ngân hàng nước ngoài,mặt khác họ là người phản ứng chậm trong sử dụng
mỗi công cụ,chiến thuật cạnh tranh,Tính nhạy cảm của các Ngân hàng thương
mại Quốc doanh theo thông tin thị trường còn chậm nên đã bị các chi nhánh
Ngân hàng nước ngoài lấn trong từng thời điểm,trên từng mặt riêng lẻ của
hoạt động Ngân hàng.
VI. Một số vấn đề trong quản trị rủi ro tín dụng
Hầu hết trong các trường hợp, các ngân hàng chỉ ký kết hợp đồng cầm
cố/thế chấp mà không cần các thủ tục công chứng hay đăng ký giao dịch bảo
đảm. Biện pháp quản lý tài sản cầm cố duy nhất là giữ bản chính sổ tiết kiệm.
Biện pháp quản lý khoản vay hầu như không cần thiết hoặc thực hiện hết sức
lơi lỏng bởi khi xảy ra rủi ro, ngân hàng có thể xử lý sổ tiết kiệm ngay để thu
hồi nợ mà không gặp nhiều trở ngại. Chính vì vậy, nhiều người thường cho
rằng cho vay nhận tài sản đảm bảo là sổ tiết kiệm do chính ngân hàng mình
17
Đề án môn học
phát hành thì rủi ro gần như không có. Tuy nhiên, thực tế lại không hẳn như
vậy! Theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm (Bộ luật Dân sự 2005
và Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006), một tài sản có thể được
dùng để đảm bảo thực nhiều nghĩa vụ dân sự tại một hoặc nhiều tổ chức tín
dụng khác nhau, giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ
này của Ngân hàng Y cũng hoàn toàn hợp pháp. Khi khách hàng A vi phạm
cam kết hoặc mất khả năng thanh toán dẫn đến việc phải xử lý sổ tiết kiệm để
18
Đề án môn học
thực hiện nghĩa vụ, lúc này quyền được xử lý tài sản thu nợ sẽ ưu tiên cho
Ngân hàng Y (do Y đã đăng ký giao dịch đảm bảo, còn X thì không). Như
vậy rủi ro không thu được nợ của Ngân hàng X là hoàn toàn hiện hữu! Ngay
cả khi hợp đồng cầm cố trước đó giữa A và Ngân hàng X có điều khoản ràng
buộc A không được thế chấp sổ tiết kiệm trên tại bất cứ tổ chức nào khác, thì
Ngân hàng Y vẫn được coi là ngay tình, và nguồn trả nợ từ xử lý sổ tiết kiệm
vẫn sẽ ưu tiên cho Ngân hàng Y được thu nợ trước. Hành vi mang sổ tiết kiệm
thế chấp cho Ngân hàng Y của A cho thấy A vi phạm cam kết trong hợp đồng
cầm cố với Ngân hàng X, nhưng điều đó không làm cho hợp đồng thế chấp
giữa A và Ngân hàng Y vô hiệu. Sau khi Ngân hàng Y thu nợ từ xử lý sổ tiết
kiệm, ngân hàng X mới có thể thu nợ từ phần còn lại (nếu còn) hoặc từ các
nguồn khác, đồng thời pháp luật sẽ xem xét xử lý hành vi vi phạm cam kết
trong hợp đồng của A đối với Ngân hàng X. Rủi ro hợp đồng thế chấp vô hiệu
(trong trường hợp một hợp đồng thế chấp sổ tiết kiệm đảm bảo cho nhiều hợp
đồng tín dụng): Do nhận thức việc cầm cố/thế chấp sổ tiết kiệm là không có
rủi ro, vì vậy một số ngân hàng ký kết một hợp đồng thế chấp sổ tiết kiệm để
đảm bảo chung cho nhiều hợp đồng tín dụng khác nhau đã không thực hiện
đăng ký giao dịch đảm bảo đối với hợp đồng thế chấp nói trên. Như vậy, đối
chiếu với quy định của pháp luật giao dịch bảo đảm hiện hành, hợp đồng thế
chấp trên đã bị vô hiệu. Dù hậu quả là như thế nào, ngân hàng có thu được nợ
hay không thì việc ký một hợp đồng thế chấp mà hợp đồng đó lại vô hiệu là
điều không ai muốn, và tất nhiên, lúc này rủi ro vẫn thuộc về ngân hàng. Thiết
nghĩ, biện pháp bảo đảm chỉ là nguồn thu nợ dự phòng ngoài nguồn thu nợ
chính là từ phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng vay. Trong giao
dịch vay vốn giữa khách hàng và ngân hàng, hợp đồng bảo đảm cũng được
pháp luật coi là hợp đồng phụ (hợp đồng tín dụng mới là hợp đồng chính của
vay để thu hồi nợ cho các Tổ chức tín dụng tất cả đã nói lên quyết tâm của
Chính phủ, NHNN, các cơ quan có liên quan trong việc khắc phục hậu quả và
tạo điều kiện thuận lợi hơn cho ngành ngân hàng phát triển theo hướng: giao
quyền chủ động kinh doanh cho các NHTM và các NHTM hoàn toàn tự chịu
trách nhiệm trước những hoạt động kinh doanh.Rủi ro tín dụng không chỉ do
các NHTM phải gánh chịu và có biện pháp phòng ngừa mà phải coi đó là rủi
ro chung của cả nền kinh tế.Do đó để có biện pháp phòng ngừa các rủi ro tín
dụng cần thiết phải có các giải pháp mang tính điều kiện để hỗ trợ từ phía các
cơ quan quản lý nhà nước có liên quan.
Nhà nước cần thiết phải hoàn thiện các văn bản pháp quy và có những
quy định cụ thể đủ để đảm bảo an toàn cho các hoạt động của Ngân hàng
thương mại .Đồng thời nhà nước cần chấn chỉnh lại hoạt động kinh doanh của
20
Đề án môn học
các thành phần kinh tế,tạo ra môi trường kinh doanh ổn định các chính sách
đầu tư,chính sách xuất nhập khẩu,chính sách đất đai.
II,Nâng cao chất lượng cán bộ của Ngân hàng.
Con người là yếu tố trung tâm, vừa là nền tảng để phát hiện, đánh giá và
hạn chế kịp thời những rủi ro tín dụng nhưng đồng thời cũng là nguyên nhân
gây ra tổn thất tín dụng từ những rủi ro xuất phát từ yếu tố đạo đức, năng lực
yếu kém. Khả năng kiểm soát và phòng ngừa các rủi ro từ thiên tai, địch họa,
những rủi ro hệ thống không thể đa dạng hóa được thuộc về bản chất gắn liền
với mỗi ngành nghề kinh doanh nhất định là rất hạn chế, vì vậy chỉ có thể
nâng cao hiệu quả của quản trị rủi ro tín dụng bằng cách sử dụng con người là
yếu tố tiên quyết trong vận hành cơ chế quản trị rủi ro tín dụng một cách hiệu
quả. Một mô hình quản trị rủi ro tín dụng có hoàn hảo, một quy trình cấp tín
dụng có chặt chẽ đến mấy nhưng những con người cụ thể để vận hành mô
hình đó bị hạn chế về năng lực hoặc không đáp ứng được các yêu cầu về đạo
đức thì sự thiệt hại, tổn thất tín dụng vẫn xảy ra, thậm chí là rất nặng nề. Một
số nội dung trong giải pháp này là:
chịu trách nhiệm đầu tiên về sức cạnh tranh của Ngân hàng ,ban lãnh đạo vì
vậy phải là người thực sự đủ tài trên mọi phương diện trong đó có 3 khả năng
chủ yếu:khả năng về chuyên môn,khả năng phân tích phán đoán và khả năng
nghệ thuật đối nhân xử thế.Nghiên cứu học hỏi không chỉ là nhiệm vụ của cán
bộ công nhân viên mà nó còn là nhiệm vụ của lãnh đạo Ngân hàng,để đưa ra
những quyết định sáng suốt thì người lãnh đạo có tầm nhìn rộng trong công
việc,hiểu biết về pháp luật.
III, Củng cố và hoàn thiện hệ thống thông tin tín dụng
Trong thời đại ngày nay, muốn thành công trong kinh doanh cần có
những thông tin hữu ích. Khi mà tính kém minh bạch trong các hoạt động
kinh doanh tại Việt Nam còn khá phổ biến thì yêu cầu thiết lập kho dữ liệu
thông tin sử dụng cho hoạt động kinh doanh là hết sức cần thiết. Mặc dù trong
những năm gần đây Trung tâm CIC của NHNN đã có nhiều nỗ lực trong tạo
lập kho dữ liệu về các doanh nghiệp vay vốn cũng như xây dựng đánh giá về
các ngành sản xuất kinh doanh, làm cơ sở trong phân tích tín dụng nhưng khả
năng đáp ứng các yêu cầu này còn nhiều hạn chế. Đặc biệt thông tin tín dụng
tập trung vào nội dung phản ánh, ít có tính dự báo, đưa ra các giải pháp phòng
ngừa và không phản ánh được đặc thù tình hình kinh tế xã hội tại địa phương.
Do đó khả năng sử dụng các thông tin này cho công tác thẩm định tín dụng
chưa cao và chưa đáp ứng được yêu cầu phòng ngừa rủi ro. Do đó cần tạo lập
hệ thống thông tin tín dụng có tính hữu ích cao hơn theo hướng:
+ Dựa trên cơ sở hợp tác,NHTM thực hiện kết nối kho thông tin dữ liệu
giữa các ngân hàng để bổ sung, tăng tính đầy đủ và sự chính xác của kho dữ
liệu, không chỉ là các dữ liệu về khách hàng mà còn các đánh giá và dự báo về
ngành, làm nền tảng trong phân tích và thẩm định tín dụng.
+ Dựa trên thông tin về các doanh nghiệp, ngành hàng, dự án đã cấp tín
dụng, Trung tâm thông tin tín dụng NHTM cần tổng hợp và đưa ra các đánh
giá, phân tích và cung cấp các thông tin hữu ích cho toàn bộ hệ thống để sử
dụng trong thẩm định tín dụng. Kho dữ liệu này cần có tính mở để có khả
năng tích hợp với kho dữ liệu của các ngân hàng khác nhằm đáp ứng nhu cầu
xây dựng những biên pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trước khi cấp tín
dụng với khách hàng. Nỗ lực xác định giới hạn tín dụng hợp lý sẽ giúp cho
ngân hàng luôn ở thế chủ động và có giải pháp kiểm soát rủi ro tín dụng một
cách hiệu quả.
+ Trên cơ sở giới hạn tín dụng đã được phê duyệt, trong từng lần cấp tín
dụng chủ yếu tập trung phân tích rủi ro của chính phương án vay đó để giảm
bớt thời gian xử lý các giao dịch. Trong phân tích này, cần tập trung đến tính
pháp lý của phương án/dự án vay, đến nguồn cung cấp, thị trường và khả
năng tiêu thụ… Đồng thời cần đưa ra những rủi ro dự kiến, khả năng kiểm
soát của ngân hàng và kịch bản xử lý khi những tình huống xấu xảy ra.
+ Trong thẩm định các dự án đầu tư, tình trạng nâng giá trị thực tế của
dự án để được vay nhiều hơn, thuê đất nhiều hơn khá phổ biến. Điều này đã
23
Đề án môn học
dẫn đến rủi ro bởi vốn tự có tham gia thực sự của khách hàng vay chiếm tỷ lệ
thấp dẫn đến tính chịu trách nhiệm của khách hàng không cao, đồng thời khi
rủi ro xảy ra thì khả năng thu hồi được nợ đã giảm sút. Để đảm bảo xác định
khách quan và chính xác giá trị tài sản bảo đảm, cần thuê một tổ chức định giá
hoặc kiểm toán độc lập, có uy tín để thực hiện việc kiểm toán toàn bộ việc
thanh quyết toán giá trị công trình và định giá tài sản.Đồng thời thực hiện chặt
chẽ và nghiêm túc việc chứng minh nguồn vốn tự có tham gia dự án của
khách hàng, giải ngân đối ứng theo tiến độ công trình.
V, Bảo đảm tín dụng bằng bảo hiểm tín dụng.
Rủi ro tín dụng xuất phát từ nhiều nguyên nhân rất đa dạng mà đôi khi
những rủi ro đó ngân hàng không thể lường trước được. Vì vậy sử dụng các
công cụ bảo hiểm và áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay để hạn chế tổn thất
khi rủi ro xảy ra là cực kỳ quan trọng. Một số giải pháp cần thực hiện:
+ Yêu cầu khách hàng vay phải mua bảo hiểm trong quá trình xây dựng
và bảo hiểm công trình (đối với các dự án đầu tư), bảo hiểm hàng hóa… Trên
thực tế thời gian qua, nhờ sử dụng yêu cầu này mà những tổn thất vốn vay do
hàng đã đạt được một số thành tựu nhất định ,chứng tỏ nó là một bộ phần chủ
yếu trong hệ thống tín dụng ở nước ta,đóng vai trò tích cực trong việc thúc
đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát
triển góp phần vào quá trình xây dựng đất nước đưa đất nước đi lên con
đường chủ nghĩa xã hội.Tuy nhiên, trong nền cơ chế thị trường thì hoạt động
tín dụng trong các Ngân hàng thương mại vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, còn
tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết.
Cùng với những khó khăn của nền kinh tế và cuộc khủng hoảng tài chính
trên phạm vi toàn cầu, chất lượng tín dụng của NHTM Việt Nam đang có
những dấu hiệu giảm sút nghiêm trọng. Do đó nâng cao chất lượng tín dụng
thông qua hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng là nhiệm vụ hàng đầu
của NHTM trong giai đoạn hiện nay. Dựa trên những cơ sở lý luận về rủi ro
tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng, nghiên cứu thực trạng và nguyên nhân rủi
ro tín dụng cũng như công tác quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM, chỉ ra những
mặt còn hạn chế cần khắc phục. Từ đó, chúng tôi đã mạnh dạn đưa ra những
giải pháp cụ thể để nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng trên cơ sở
những quan điểm định hướng và mục tiêu trong giai đoạn phát triển sắp tới.
25