Đánh giá thị trường tài chính Việt Nam hậu WTO - Pdf 25

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường tài chính là một sản phẩm bậc cao của nền kinh tế thị trường, hay
nói chính xác hơn là nền kinh tế tiền tệ ở đó bên cạnh các thị trường khác, thị
trường tài chính hoạt động như là một sự kết nối giữa người cho vay đầu tiên và
người sử dụng cuối cùng, tạo ra vô số các giao dịch, dù động cơ nào, cũng tạo ra
các dòng chảy về vốn trong một nền kinh tế.
Thị trường tài chính giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn, không chỉ
đối với người có tiền đầu tư mà còn có cả với người vay tiền để đầu tư. Người cho
vay sẽ có lãi thông qua lãi suất cho vay. Người đi vay vốn phải tính toán sử dụng
vốn vay có hiệu quả
Thị trường tài chính là chiếc cầu nối giữa cung và cầu vốn trong nền kinh tế,
tạo điều kiện thuận lợi chuyển nguồn vốn nhàn rỗi sang nơi thiếu vốn để đáp ứng
nhu cầu phát triển kinh tế. Thông qua thị trường tài chính hình thành giá mua giá
bán các loại cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, giấy nợ ngắn hạn, dài hạn ….hình thành
nên tỷ lệ lãi suất đi vay, lãi suất cho vay, lãi suất ngắn hạn, trung hạn, dài hạn.
Thị trường tài chính bao gồm: thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán và
thị trường tín dụng ngân hàng, giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phân
bổ hữu hiệu các nguồn vốn trong nền kinh tế. Có được thị trường tài chính phát
triển lành mạnh là một nhân tố thiết yếu đảm bảo ổn định vĩ mô, tăng trưởng kinh
tế và nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, nhất là trong bối cảnh toàn cầu
hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Với công cuộc đổi mới và cải cách kinh tế, nền kinh tế Việt Nam đã từng
bước chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch tập trung sang cơ chế thị trường và ngày càng
hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới.Trong bối cảnh đó, thị
trường tài chính cũng đã được hình thành và cải cách theo các nguyên tắc thị
trường, góp phần phân bổ các nguồn lực tài chính một cách hiệu quả hơn và thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế. Gần đây 7/11/2006, Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chức Thưong mại thế giới (WTO), đồng nghĩa với việc mở ra nhiều cơ hội cũng

diễn ra bình thường. Trong mối quan hệ này giá trị dịch chuyển theo hai chiều từ
dân cư doanh nghiệp và các tổ chức vào ngân sách nhà nước và ngược lại.
Quan hệ tài chính giữa các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, dân cư với hệ thống
ngân hàng. Trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần hệ thống các ngân hàng,
các tổ chức tiến dụng ngày càng giữ vị trí quan trọng trong việc tài trợ vốn cho các
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hoạt động nói chung, sản xuất kinh doanh nói riêng, tạo thuận lợi phát triển mạnh
mối quan hệ tài chính – tiền tệ tín dụng giữa các doanh nghiệp, các tổ chức với
ngân hàng.
Quan hệ tài chính giữa các chủ thể kinh tế với thị trường. Đây là mối quan hệ
thể hiện sự mua bán các “ quỹ tiền tệ ” tồn tại dưới các hình thức khác nhau. Tham
gia mua bán trên thị trường tài chính là hầu hết các chủ thể kinh tế xã hội. Nhà
Nước cũng tham gia vào nhóm quan hệ tài chính này với tư cách là người mua và
bán các quỹ tiền tệ. Nhà Nước bán quỹ tiền tệ của mình bằng việc phát hành công
trái. Trong mối quan hệ tài chính nói trên, quan hệ mua bán “ vốn ” giữa các doanh
nghiệp và nhân dân đặc biệt quan trọng.Nhà nước cần tạo ra các điều kiện và biện
pháp hữu hiệu để vừa hướng dẫn, điều tiết sự hình thành và phát triển của thị
trường tài chính theo phương hướng đã định.
Quan hệ tài chính trong nội bộ mỗi chủ thể (doanh nghiệp, tổ chức, xã hội
,dân cư…):Quan hệ này biểu hiện ở sự dịch chuyển của giá trị trong quá trình hoạt
động của mỗi tổ chức thông qua việc chi trả lương, thưởng cho viên chức, công
nhân, người lao động, phân phối thu nhập giữa các thành viên trong nội bộ mỗi chủ
thể.Thông qua hướng dẫn, điều tiết, nhà nước vừa đảm bảo cho các quan hệ tài
chính không phát triển tự phát như trong chủ nghĩa tư bản ,vừa hướng dẫn mối
quan hệ này phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
1.1.2. Chức năng của tài chính:
Tài chính có 2 chức năng:
Thứ nhất, chức năng phân phối: Tài chính tham gia vào cả phân phối lần đầu
và phân phối lại. Phân phối lần đầu diễn ra trong lĩnh vực sản xuất vật chất giữa các

hướng, mục tiêu.
Hai là, xác lập và tăng cường các quan hệ kinh tế - xã hội
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Để làm lành mạnh hóa quan hệ tài chính, một mặt nhà nước cần có những
biện pháp cấp bách điều chỉnh các quan hệ tài chính kể cả biện pháp cấp bách buộc
các doanh nghiệp thanh toán nợ nần trong thời gian ngắn. Mặt khác, Nhà nước còn
phải chủ động tạo điều kiện thúc đẩy sự ra đời các thị trường vốn trung hạn, dài
hạn, nhất là thị trường chứng khoán và hướng dẫn chúng phát triển đúng hướng.
Ba là, tích tụ và tập trung vốn, cung ứng vốn cho các nhu cầu của sự công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong nền kinh tế luôn diễn ra quá trình di chuyển nguồn tài chính hai chiều
từ lĩnh vực sản xuất, từ trong nước ra nước ngoài và ngược lại, từ lĩnh vực phi sản
xuất sang lĩnh vực sản xuất và từ nước ngoài vào trong nước. Nếu nhà nước có
chính sách tốt điều chỉnh các quan hệ tài chính nảy sinh trong các quá trình di
chuyển nói trên thì có thể thúc đẩy quá trình tập trung vốn cho đầu tư phát triển
giảm bớt các chi phí không cần thiết và thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài.
Bốn là, tăng cường tính hiệu quả của sản xuất, kinh doanh
Thông qua việc điều chỉnh các quan hệ thu chi tài chính và phân phối thu
nhập, theo nguyên tắc khuyến khích vật chất, xử lý chính xác mối quan hệ về lợi
ích kinh tế giữa nhà nước, doanh nghiệp và người lao động, tài chính có thể năng
cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, thông qua chức năng giám đốc tài chính duy trì
kỷ luật tài chính ,góp phần đẩy lùi lãng phí tham ô.
Năm là, hình thành quan hệ tích lũy, tiêu dùng hợp lý
Nhà nước cần thường xuyên thực hiện việc phân phối lại và điều chỉnh sự
phân phối từng bước cho phù hợp, có thể điều tiết bằng cách đánh thuế thu nhập
người có thu nhập cao, hỗ trợ người có thu nhập thấp hoặc cũng có thể thành lập
các quỹ xóa đói giảm nghèo, quỹ hỗ trợ tạo việc làm cho người nghèo, nâng lương
cho người lao động ở các nghành có thu nhập thấp….
Sáu là, củng cố liên minh công nông, tăng cường vai trò của nhà nước và an

thuộc vào cấn đề mà người ta muốn nghiên cứu đến. Thông thường, khi nói đến thị
trường tài chính người ta thường phân theo hai cách dưới
1.2.3. Cấu thành của thị trường tài chính
Trong một thị trường tài chính hiện đại, luôn có ba thành phần cơ bản sau
đây tham gia:
• Người sử dụng cuối cùng
• Các định chế tài chính trung gian
• Các nhà đầu tư.
1.2.4 Vai trò của thị trường tài chính
Thị trường tài chính có 3 chức năng cơ bản sau:
Thứ nhất, hình thành giá các tài sản chính: Thông qua tác động qua lại giữa
những người mua và những người bán, giá của tài sản tài chính(chứng khoán)được
xác định, hay nói cách khác,lợi tức cần phải có trên một tài sản chính được xác
định.Yếu tố thúc đẩy các doanh nghiệp goi vốn chính là mức lợi tức mà các nhà
đầu tư yêu cầu, và với đặc điểm này của thị trường tài chính đã phát tín hiệu cho
biết vốn trong nền kinh tế cần được phân bổ như thế nào giữa các tài sản chính, quá
trình đó được gọi là quá trình hình thành giá.
Thứ hai, cung cấp một cơ chế để cho các nhà đầu tư bán một tài sản chính:
Với đặc tính này, thị trường tài chính là thị trường tạo ra tính thanh khoản. Thiếu
tính thanh khoản, các nhà đầu tư phải nắm giữ tài sản chính cho đến khi nào hết
hạn, hoặc đối với cổ phiếu cho khi nào công ty tự nguyện thu hồi hoặc nếu không
tự nguyện thì phải chờ thanh lý tài sản. Mặc dù tất cả các thị trương tài chính đều
có tính thanh khoản, nhưng mức độ thanh khoản sẽ là khác nhau giữa chúng
Thứ ba, giảm bớt chi phí tìm kiếm và chi phí thông tin: Để các giao dịch có
thể diễn ra thì những người mua và người bán phải tìm đựơc nhau. Họ phải mất rất
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhiều tiền và thời gian cho việc tìm kiếm này, ảnh hưởng đến lợi nhuận kỳ vọng
của họ.Chi phí đó là chi phí tìm kiếm.Bên cạnh đó, để tiến hành đầu tư họ cần có
các thông tin về giá trị đầu tư như khối lượng va tính chắc chắn của dòng tiền kỳ

xuất kinh doanh, huy động tối đa và có hiệu quả các năng lực cho công cuộc phát
triển đất nước.
Những thành tựu kinh tế đáng khích lệ trong mấy năm qua khá khả quan,
lam phát được giảm xuống còn 17,2% năm 1992 và 5,2 năm 1993, ổn định kinh tế
đi đôi với tăng trưởng, đầu tư nước ngoài lên đến gần 15 tỷ đô la… thì ý tưởng hình
thành một thị trường chứng khoán ở Việt Nam là có khả thi trong một tương lai
gần.
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nền kinh tế thị trường đang thay đổi dần thói quen và nếp nghĩ của dân
chúng trong việc sử dụng vốn tích lũy của mình.
Là nước có nền kinh tế phát triển sau nên có thuận lợi là tiếp thu được khoa
học tiên tiến của thế giới, có thời cơ và điều kiện để rút ra kinh nghiệm bổ sung
những khiếm khuyết của mô hình thị trường chứng khoán các nước.
Những điều kiện thuận lợi trên đây là những tiền đề để có thể chuẩn bị ra đời
một thị trường chứng khoán ở nước ta.
* Những khó khăn
Nền kinh tế chưa thật ổn định, hiệu quả của nền kinh tế còn thấp, tỷ lệ tích
lũy đầu tư còn nhỏ. Năng suất lao động thấp, chất lượng của nhiều sản phẩm kém
sức cạnh tranh, thị trường tiêu thụ còn hẹp. Trình độ quản lý yếu kém, nhiều sơ hở,
chưa đẩy lùi được nạn tham nhũng, buôn lậu kinh doanh gian dối.
Về môi trường pháp lý, hệ thống pháp luật của chúng ta những năm nay tuy
đã được củng cố, bổ sung nhưng thực sự đang còn rất yếu, chưa đồng bộ và kém
hiệu lực.
Đặc biệt chúng ta chưa có những bộ luật liên quan đến sự ra đời và hoạt động
của thị trường chứng khoán như:luật dân sự, luật thương mại, luật đầu tư trong
nước, luật chứng khoán và một số bộ luật đã có nhưng chưa hoàn chỉnh cần được
sửa đổi bổ sung. Nghiêm trọng hơn nữa là việc chấp hành những luật đã có không
nghiêm minh, nên đã kéo theo nhiều hậu quả tiêu cực làm giảm sút làng tin. Đây là
một khó khăn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng dẫn đến sự thành công hay thất bại

khoán trong họat động kinh doanh của các doanh nghiệp, thiếu hụt các kiến thức cơ
bản về các nghiệp vụ tiền tệ ngân hàng và chứng khoán. Trong 100 doanh nghiệp
được khảo sát có nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực không liên quan đến
hoạt động kinh doanh chứng khoán trên thị trường. Nhiều khả năng có thể họ chỉ
tham gia dưới hình thức phát hành cổ phiếu chứ không thành lập công ty chứng
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khoán. Khi được hỏi về mục đích tham gia thị trường chứng khoán thì 38 doanh
nghiệp đều có mục đích là nhằm đa dạng hóa hoạt động của công ty, tạo chỗ đứng
trên thị trường chứng khoán, sử dụng tốt nguồn vốn và kinh doanh chứng khoán để
kiếm lời. Một số rất ít các công ty có mục tiêu thành lập quỹ đầu tư chứng khoán và
có công ty tham gia để thực hiện nhiệm vụ chính trị và thúc đẩy quá trình cổ phần
hóa các DNNN trên địa bàn tỉnh như công ty xuất nhập khẩu tỉnh Bình Dương, 35
doanh nghiệp phản ánh những vướng mắc kiến thức về thị trường chứng khoán, chỉ
có 5 trong số 38 công ty đã từng hoạt động trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ, ngân
hàng và 7 doanh nghiệp có đội ngũ nhân viên được đào tạo về lĩnh vực tài chính,
tiền tệ, ngân hàng. Còn về dự kiến mô hình công ty chứng khoán và các hoạt động
kinh doanh chứng khoán thì cả 38 doanh nghiệp đều băn khoăn không biết thành
lập theo mô hình nào cho phù hợp. Sau khi được các điều tra viên giải thích thì hầu
hết đều muốn thành lập theo mô hình tổng công ty cổ phần vì khả năng huy động
vốn của loại hình công ty này cao, phù hợp với tính năng động của cơ chế thị
trường
* Về chủng loại hàng hóa trên thị trường
Phiên giao dịch đầu tiên ngày 28/7/2000 chỉ có 2 loại cổ phiếu được
niêm yết trên thị trường giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh là cổ phiếu
của công ty cơ điện lạnh REE và Công ty cáp và vật liệu viễn thông SACOM. Đến
phiên giao dịch thứ 4 có thêm 3 loại chứng khoán nữa là cổ phiếu của công ty cổ
phần giấy Hải Phòng( HAPACO), công ty cổ phần kho vận giao nhận ngoại thương
( TRANSIMEX) và trái phiếu Chính phủ CP1- 0200 và tiếp đến phiên giao dịch
thứ 12 lại đưa tiếp trái phiếu Chính phủ CP- 0100 vào giao dịch và đến phiên thứ

38000 đến 41000 đ/CP như cổ phiếu REE và SAM. Ngược lại giá cổ phiếu của
HAP, TMS và LAF vẫn tăng với kịch bản giá đụng trần sau mỗi phiên giao dịch.
Tại phiên giao dịch cuối cùng của tháng 3, giá cổ phiếu HAP là 71000đ/CP,
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
64000đ/CP cho TMS và 32600đ/CP cho LAF. Hiện nay rất khó đoán trước giá của
chúng sẽ tăng tới mức nào.
Nhìn chung, TTCK hiện nay đã có nhiều biến động, giá cả của một số
loại cổ phiếu tăng nhanh nhưng cũng có loại chững lại và khoảng cách chênh lệch
giá cổ phiếu của các loại cũng rất lớn. Chỉ số Việt Nam- index vẫn tiếp tục tăng tới
mức cao nhất từ trước tới nay vào cuối tháng 3 và dự đoán sẽ còn tăng nữa.Tới thời
điểm quý I năm 2008 hiện nay, tình hình thị trường chứng khoán dường như đang
rơi vào những bế tắc chưa tìm ra lối thoát, chỉ số Vn-Index nhiều lần lao thẳng
xuống những mức “hỗ trợ” được dự đoán là đáy và xác lập cả ở mức 588,3 điểm,
nhiều nhà đầu tư không còn hứng thú gì với chứng khoán và chuyển sang những
lĩnh vực đầu tư khác sinh lời cao hơn v.v… Mặt khác, vị thế của cổ phiếu ngân
hàng hiện nay không còn được tôn sùng như cách đây 1 năm mặc dù bản thân
ngành ngân hàng vẫn nằm trong số những ngành có tỷ lệ sinh lời cao nhất tại Việt
Nam. Cổ phiếu của các Ngân hàng thương mại liên tục tụt dốc chung với Vn-Index
dù là ngân hàng có uy tín nhất hay ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất. Cổ phiếu
Vietcombank IPO với mức giá bình quân 107.000 đồng/ cổ phiếu, nhưng tới nay,
trên thị trường OTC, nhiều nhà đầu tư rao bán với giá 78.000 đồng/cổ phiếu mà vẫn
không mấy người mặn mà. Cổ phiếu STB trên sàn HOSE cũng rơi vào tình cảnh
tương tự khi mà giá cổ phiếu STB luôn xác lập xu thế giảm kể từ cuối năm 2007
cùng với khối lượng giao dịch rất thấp. Như vậy, việc tăng vốn bằng phát hành
thêm cổ phiếu của các ngân hàng thương mại tại thời điểm hiện nay có thể sẽ
không nhận được sự quan tâm, háo hức của các nhà đầu tư như đầu năm 2007, một
trong những động lực giúp phục hồi giá cổ phiếu của ngành ngân hàng.
Thị trường chứng khoán (TTCK) đã làm cho một số người giàu nổi lên trong
thời gian ngắn, họ thu bạc tỷ sau một vài lần khớp lệnh. Cũng vì thế đã thúc đẩy

điểm).
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Cũng trong năm 2008, việc huy động vốn qua thị trường chứng khoán cũng
giảm tới 75 - 80% trên cả 3 kênh: phát hành tăng vốn của doanh nghiệp, cổ phần
hóa phát hành trái phiếu. Tính thanh khoản - khối lượng giao dịch giảm khoảng
70% so với năm trước...
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đứng trước thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam đang bội thực
nguồn cung, là một định chế tài chính chuyên nghiệp, các ngân hàng chắc chắn
không thể không lường trước được những khó khăn và rủi ro có thể gặp khi quyết
định tăng vốn trong giai đoạn này. Thế nhưng, chúng ta có thể thấy, hệ thống ngân
hàng Việt Nam hiện nay tăng trưởng rất nhanh về số lượng, song các ngân hàng có
vốn điều lệ trên 2.000 chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn. Trong khi đó vốn điều lệ là
một trong những yếu tố rất quan trọng cho thấy sức mạnh về vốn của một ngân
hàng. Hội nhập và cạnh tranh với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt
Nam tất yếu dẫn tới nhu cầu tăng vốn điều lệ bên cạnh các biện pháp nâng cao chất
lượng dịch vụ và nguồn nhân lực. Bên cạnh đó việc Ngân hàng Nhà nước quy định
mức vốn pháp định của hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần ở mức 1.000 tỷ
đồng và sắp tới sẽ tăng lên 3.000 tỷ đồng cũng khiến cho các Ngân hàng Thương
mại phải tự xây dựng cho mình một kế hoạch tăng dần mức vốn điều lệ một cách
hợp lý.
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thị trường tăng đột biến nhưng hàm chứa nhiều nguy cơ
Chúng ta biết rằng TTCK một thời gian dài sau khi thành lập được rất ít nhà đầu tư
quan tâm. Với thực trạng đó Nhà nước có chủ trương khuyến khích mở rộng TTCK
bằng việc ban hành chính sách và tạo cơ chế cho thị trường này hoạt động tốt hơn.
Các quỹ đầu tư chứng khoán đã được hình thành và tham gia thị trường. Các nhà

chóng và dễ dàng, đó cũng là cơ hội thuận lợi hiếm hoi đối với doanh nghiệp. Thực
trạng này đã thúc đẩy doanh nghiệp tiếp tục phát hành cổ phiếu nhiều hơn, mở rộng
việc huy động vốn. Thực tế trên TTCK nước ta trong thời gian qua có rất nhiều
công ty phát hành cổ phiếu đợt 2, đợt 3... Số cổ phiếu phát hành trong những đợt
này đều không đại biểu cho lượng giá trị tài sản nào, bởi lẽ giá trị công ty không
được xác định lại, giá trị tài sản được cổ phần hoá thành cổ phiếu đã được phát
hành. Giá trị tài sản mà cổ phiếu đại biểu giai đoạn sau này đã giảm đi nhiều lần so
với cổ phiếu giai đoạn đầu.
Một hoạt động khác cũng được coi là lạm phát chứng khoán. Đó là các công
ty trả cổ tức bằng cổ phiếu. Nhiều công ty không trả cổ tức cho nhà đầu tư bằng
tiền mà bằng cổ phiếu, nhờ đó mà hàng triệu cổ phiếu được phát hành thêm một
cách mặc nhiên và doanh nghiệp thu được khoản tiền đáng kể. Cũng vì thế mà lạm
phát chứng khoán trầm trọng hơn và giá trị tài sản mà chứng khoán đại biểu thấp
hơn rất nhiều so với trước và so với mệnh giá.
Khi sự thật sáng tỏ và những phản ứng của công ty. Khi các nhà đầu tư nhận
thấy giá trị cổ phiếu bị giảm đi liên tục, cổ tức mà cổ phiếu mang lại rất thấp hoặc
không có, mệnh giá cổ phiếu chỉ còn là cái vỏ bề ngoài và giá cổ phiếu giảm liên
tục theo giá trị thực của nó. Nhà đầu tư đã bị tước đoạt phần lớn số tiền vốn của
mình mà không hề biết, không hiểu vì sao. Các nhà đầu tư có tâm lý hoang mang
và nghi ngờ TTCK, tìm cách thu hồi vốn. Họ tìm cách để bán cổ phiếu ra, hạn chế
mua vào, xu thế này đã làm giá cổ phiếu giảm và không ổn định.
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Qua nghiên cứu cổ phiếu của 10 công ty (chọn ngẫu nhiên) trên TTCK, hai
thời điểm là ngày 10/01 và ngày 15/8/2007, chúng ta thấy có 8 công ty giá cổ phiếu
và cổ phiếu khớp lệnh sụt giảm lớn. Chỉ có 02 mã cổ phiếu tăng giá nhưng số cổ
phiếu khớp lệnh vẫn giảm đi nhiều. Những công ty đó có thể phát hành thêm ít
hoặc không phát hành thêm cổ phiếu và hoạt động kinh doanh tốt, cổ tức mang lại
lợi ích cao cho các nhà đầu tư. Do vậy cổ phiếu những công ty này được các nhà
đầu tư tăng cường mua vào, hạn chế bán ra:

Các doanh nghiệp sau khi thu được khoản tiền khổng lồ từ TTCK lẽ ra phải
dùng vốn đó để đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển doanh
nghiệp. Nhưng không, chỉ một phần số vốn đó được đầu tư trở lại, phần còn lại
chuyển hướng kinh doanh mà những doanh nghiệp lớn thường nhắm tới là ngân
hàng. Thực tế trong thời gian qua đã có nhiều doanh nghiệp lớn đang tích cực
chuyển sang kinh doanh tiền tệ như LILAMA, FPT, VNPT, VINASYL... Các ngân
hàng lại phát hành cổ phiếu ra TTCK tạo thành làn sóng hút vốn bằng tiền vào.
Cũng theo cơ chế được phép, ngân hàng cho vay 3% (trước đây lớn hơn nhiều) vốn
để giao dịch trên TTCK. Vòng xoáy này ngày càng lớn và thu hút nhiều tiền vào
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ngân hàng hơn nữa. Qua điều tra mới đây, nguồn gốc lượng vốn đổ vào TTCK rất
đa dạng: 41,05% từ tiết kiệm; 13,78% tích luỹ từ hoạt động sản xuất kinh doanh;
10,28% từ lợi nhuận kinh doanh chứng khoán; 14,92% từ vay ngân hàng; 8,39%
chuyển từ lĩnh vực đầu tư khác sang và 11,58% từ các nguồn khác. Rõ ràng qua
TTCK các doanh nghiệp lớn, các ngân hàng kinh doanh tiền tệ đã hút cạn lượng
tiền trong dân, làm mất cân đối tiền hàng và giảm sức mua trên thị trường. Nguyên
nhân trên sẽ dẫn tới hậu quả là nền kinh tế trì trệ, khả năng thanh toán thấp, thị
trường hàng hoá, nhất là bất động sản ảm đạm báo hiệu sớm nguy cơ khủng hoảng
thị trường tài chính. Khi đó, sẽ gây tác hại to lớn khó lường cho TTCK.
Biến động TTCK trong thời gian tới .
Trong thời gian tới TTCK nước ta sẽ diễn biến rất phức tạp, không những
chịu sự chi phối của những yếu tố nội tại TTCK mà còn chịu sự chi phối của các
yếu tố kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế. Kinh tế thế giới đã vào cuối chu kỳ
phát triển. Khủng hoảng năng lượng luôn đe doạ, giá dầu tăng cao đã làm gia tăng
lạm phát toàn cầu. Kinh tế Việt Nam cũng rơi vào tình trạng đó. Lạm phát tăng cao
cùng với sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, lợi tức thấp khiến các nhà đầu tư tìm
cách rút vốn từ TTCK sang đầu tư lĩnh vực khác an toàn hơn. Nhu cầu cổ phiếu sẽ
bị giảm đi nhiều. Lượng cung cổ phiếu lại tăng cao do lạm phát cổ phiếu và do cổ
phiếu nhiều công ty mới lên sàn giao dịch. Điều này đã làm thị giá cổ phiếu giảm đi

Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Nghiệp vụ thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc được thực hiện từ tháng
5/1995 và trải qua các giai đoạn phát triển sau:
+ Từ năm 1995 đến 1999: Phát hành tín phiếu kho bạc và trái phiếu kho bạc
+ Từ năm 1999 đến năm 2003: Phát hành tín phiếu kho bạc
+ Từ năm 2003 đến nay: Phát hành tín phiếu kho bạc và ngoại tệ (USD, kỳ
hạn 5 năm )
Theo Thông tư 19/2004/TT-BTC ngày 18/3/2004 của Bộ Tài chính, hiện nay
có hai loại trái phiếu đang được đấu thầu tại Ngân hàng Nhà nước là: Tín phiếu kho
bạc Nhà nước và Trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ (trái phiếu ngoại tệ).
Do đầu năm 2008, các Tổ chức tín dụng thiếu hụt vốn khả dụng nên trong
Quý I và Quý II năm 2008, mặc dù Ngân hàng nhà nước tổ chức được 03 phiên đầu
thầu phát hành Tín phiếu kho bạc nhưng không có thành viên tham gia. Sang quý
III và quý IV, một số Tổ chức tín dụng dư thừa vốn khả dụng nên đã tham dự thầu
với khối lượng TPKB trúng thầu đạt hơn 20.000 tỷ đồng, tăng hơn 100% so với
năm 2007 và bằng 78,23% kế hoạch phát hành Tín phiếu kho bạc qua Ngân hàng
Nhà Nước của Bộ Tài chính. Lãi suất trúng thầu đạt mức cao nhất là 15,70% và
giảm dần xuống mức 8,38% vào cuối năm 2008.
Nhìn chung, hoạt động nghiệp vụ thị trường tiền tệ năm 2008 đã được Ngân
hàng Nhà Nước vận hành uyển chuyển, linh hoạt, đa dạng đáp ứng cung cầu vốn
của các thành viên tham gia thị trường và cơ bản đã hoàn thành tốt nhiệm vụ truyền
tải hữu hiệu các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà Nước.
2.2.2. Thị trường hối đoái
Trong 6 tháng đầu năm, thị trường ngoại hối có những diễn biến không thuận
lợi. Do áp lực từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, lo ngại rủi ro biến động tỷ
giá, các doanh nghiệp có tâm lý găm giữ ngoại tệ.
Mặt khác, do tác động phụ của chính sách hỗ trợ lãi suất cho vay bằng VND
và việc điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản bằng VND, nhiều doanh nghiệp không
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status