1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Nguyễn Thùy Dƣơng
NGHIÊN CỨU SINH THÁI CẢNH QUAN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM
ĐỊNH CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
NÔNG-LÂM NGHIỆP VÀ DU LỊCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Hà Nội – Năm 2012
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU
CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của nghiên cứu sinh thái cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lý tài
nguyên, bảo vệ môi trƣờng 4
1.1.1. Nghiên cứu sinh thái cảnh quan, đánh giá cảnh quan 4
1.1.2. Vai trò của nghiên cứu sinh thái cảnh quan và việc sử dụng hợp lý tài nguyên,
phát triển bền vững và bảo vệ môi trƣờng 12
1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu tại huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định . 22
CHƢƠNG 2 - ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu 23
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 23
2.2.1. Phƣơng pháp điều tra tổng hợp 23
2.2.2. Phƣơng pháp viên thám, hệ thống thông tin địa lý 24
2.2.3. Phƣơng pháp phân loại cảnh quan 24
2.2.4. Phƣơng pháp thành lập bản đồ cảnh quan 33
2.2.5. Phƣơng pháp khảo sát thực địa kiểm chứng 34
CHƢƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1. Đánh giá khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội, tài nguyên và môi
trƣờng - cơ sở để phát triển sản xuất huyện Giao Thủy - tỉnh Nam Định 35
3.1.1. Điều kiện tự nhiên huyện Giao Thủy - tỉnh Nam Định 35
3.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định 52
3.1.3. Hiện trạng môi trƣờng huyện Giao Thủy 59
3.2. Đánh giá sinh thái cảnh quan phục vụ phát triển bền vững sản xuất nông -
lâm nghiệp và du lịch huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định 63
3.2.1. Xây dựng bản đồ sinh thái cảnh quan huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định 63
3.2.2. Đánh giá cảnh quan sinh thái huyện Giao Thủy cho phát triển sản xuất nông –
lâm nghiệp và du lịch 71
3.2.3. Định hƣớng sử dụng hợp lý cảnh quan, đề xuất giải pháp phát triển sản xuất
nông-lâm nghiệp và du lịch bền vững, bảo vệ môi trƣờng huyện Giao Thủy, tỉnh Nam
5
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CN-TTCN-XD : Công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp – xây dựng
CQ : Cảnh quan
ĐKTN : Điều kiện tự nhiên
HST : Hệ sinh thái
IALE : Hiệp hội sinh thái cảnh quan quốc tế
KT-XH : Kinh tế xã hội
PTBV : Phát triển bền vững
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
TNTN : Tài nguyên thiên nhiên
TB : Trung bình
STCQ : Sinh thái cảnh quan
VQG : Vƣờn Quốc Gia
32
52
53
55
58
58
65
68
75
75
77
77
79
79
81
82
83 86
7
DANH MỤC HÌNH
hƣớng phát triển bền vững, vấn đề sử dụng hợp lý tiềm năng tự nhiên, tài nguyên
thiên nhiên, điều kiện kinh tế, xã hội gắn với nhiệm vụ bảo vệ môi trƣờng và phát
triển nguồn nhân lực luôn là những vấn đề mang tính thời sự, có ý nghĩa quan trọng,
cấp thiết.
Để giải quyết các nhiệm vụ liên quan đến sử dụng hợp lý tài nguyên gắn với
bảo vệ môi trƣờng lãnh thổ thì việc áp dụng phƣơng pháp tiếp cận địa lý tổng hợp,
tiếp cận cảnh quan học, nghiên cứu ứng dụng cảnh quan có vai trò hết sức quan
trọng và luôn có cơ sở khoa học và tính hợp lý, tính hiệu quả cao. Điều này đƣợc
luận giải vì các cảnh quan - các đơn vị tổng hợp tự nhiên của mỗi một lãnh thổ luôn
có những thay đổi và sự phân hoá theo không gian khá đa dạng, phức tạp. Các thành
phần cấu tạo cảnh quan có tính độc lập tƣơng đối, song giữa chúng có mối quan hệ
chặt chẽ tạo thành một hệ thống động lực. Hệ thống đó tồn tại trong trạng thái cân
bằng động, một thành phần nào đó trong hệ thống thay đổi có thể sẽ dẫn đến sự thay
đổi của các thành phần khác và phá vỡ hệ thống cũ tạo nên một hệ thống mới. Nếu
khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên tức là tác động vào toàn hệ thống tự
nhiên một cách phù hợp với đặc điểm, quy luật phát sinh, phát triển của chúng thì sẽ
bảo vệ, tái tạo đƣợc nguồn tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo đƣợc sự phát triển
bền vững của lãnh thổ. Ngƣợc lại, nếu con ngƣời trong khai thác, sử dụng tự nhiên
không tuân theo những quy luật của tự nhiên thì sẽ mang lại những hậu quả lâu dài
và không lƣờng trƣớc đƣợc. Vì thế, việc nghiên cứu để tìm ra những đặc điểm đặc
trƣng, quy luật phát sinh, phát triển của một lãnh thổ tự nhiên là rất quan trọng, giúp
cho việc sử dụng lãnh thổ một cách hợp lý, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và
môi trƣờng, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội một cách bền vững.
Huyện Giao Thủy là một huyện ven biển thuộc tỉnh Nam Định. Huyện Giao
Thủy có đồng bằng, có vùng tiếp giáp biển với bờ biển dài hơn 30km, do đó tiềm
năng vốn có của huyện có thể phát triển một nền kinh tế tổng hợp nông nghiệp - lâm
9
nghiệp - du lịch. Tuy nhiên vấn đề khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên
của tỉnh phục vụ cho phát triển bền vững đang là vấn đề cấp bách cần đƣợc quan
- Đề xuất một số định hƣớng sử dụng hợp lý cảnh quan huyện Gia Thủy - tỉnh
Nam Định cho phát triển bền vững nông - lâm nghiệp và du lịch
2.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi lãnh thổ: Đề tài nghiên cứu đƣợc giới hạn trong toàn bộ lãnh thổ
hành chính huyện Giao Thủy - tỉnh Nam Định
- Phạm vi khoa học: Nghiên cứu, đánh giá sinh thái cảnh quan một huyện cho
phát triển bền vững nông - lâm nghiệp và du lịch
3. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học:
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ làm sáng tỏ về tiềm năng tự nhiên, tài nguyên
thiên nhiên, hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội cũng nhƣ sự phân hoá không gian
lãnh thổ và các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên của vùng nghiên cứu.
Những vấn đề lý luận, thực tiễn trong quá trình nghiên cứu đề tài sẽ góp phần
hoàn thiện phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu, đánh giá cảnh quan
nhằm mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên theo hƣớng địa lý tổng hợp
và bảo vệ môi trƣờng lãnh thổ nghiên cứu.
- Ý nghĩa thực tiễn:
Trên cơ sở kết quả của việc phân tích cấu trúc, chức năng cảnh quan đề tài sẽ
đƣa ra một số định hƣớng và giải pháp phát triển nông - lâm nghiệp và bảo vệ môi
trƣờng, góp phần xác lập định hƣớng chiến lƣợc phát triển bền vững kinh tế - xã hội
huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
4. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng:
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
11
Chƣơng 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU
một cách khách quan theo một trật tự phân cấp trong lớp vỏ địa lý. Thứ hai là có thể
xác định đƣợc ranh giới các thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên trên thực địa. Việc
nghiên cứu cấu trúc cũng nhƣ sự phát triển của các tổng hợp thể tự nhiên đƣợc tiến
hành dƣới góc độ khác nhau. Dƣới góc độ địa lý có các hƣớng nghiên cứu địa lý
cảnh quan, dƣới góc độ địa hóa học có các hƣớng nghiên cứu địa hóa học cảnh quan
và dƣới góc độ sinh thái có hƣớng nghiên cứu sinh thái cảnh quan.
Thuật ngữ cảnh quan có thể đƣợc hiểu theo một trong các nội dung sau đây:
- “Cảnh quan là những các thể địa lý không lặp lại trong không gian, là đơn vị
cơ bản trong hệ thống phân vùng địa lý tự nhiên”
Quan niệm này cho rằng cảnh quan là đơn vị cơ bản của phân vùng địa lý tự
nhiên. Các đơn vị cá thể cảnh quan đƣợc xác định theo nguyên tắc, phƣơng pháp
phân vùng địa lý tự nhiên với hệ thống phân vị từ trên xuống dƣới thể hiện bằng
phƣơng pháp họa đồ cảnh quan thực địa. Theo quan điểm này: “Cảnh quan địa lý là
một thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên, đồng nhất về mặt phát sinh, có một nền tảng địa
chất đồng nhất, có một kiểu địa hình, có một kiểu khí hậu đồng nhất và bao gồm
một tập hợp dạng địa lý, chủ yếu và thứ yếu liên kết với nhau về mặt động lực và
lặp lại một cách có quy luật trong không gian, tập hợp này chỉ thuộc riêng cho cảnh
quan địa lý đó…”
Với định nghĩa trên, N.A.Xolsev đã xác định đƣợc cấu trúc không gian thẳng
đứng của cảnh quan thông qua việc xác định các hợp phần địa chất, địa hình, khí
hậu cũng nhƣ cấu trúc ngang của cấp cảnh địa lý nhƣ là một tập hợp có quy luật.
A.G.Ixatrenko (1965) định nghĩa: “Cảnh quan địa lý là một bộ phận được tách ra
trong quá trình phát sinh của một miền, một đới địa lý và nói chung là của bất kì
một đơn vị lãnh thổ nào lớn hơn, có đặc điểm là đồng nhất cả về mặt địa đới và phi
địa đới và có một cấu trúc riêng, một cấu tạo hình thái riêng”.
Khi nghiên cứu cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam, GS. Vũ Tƣ Lập (1976)
đã đƣa ra định nghĩa: “Cảnh quan địa lý là một địa tổng thế, được phân hóa ra
trong phạm vi một đới ngang ở đồng bằng, và một đai cao ở miền núi, có một cấu
trúc thẳng đứng đồng nhất về nền địa chất, về kiểu địa hình, kiểu thủy văn, về đại tổ
14
Trong đó quan niệm kiểu loại và quan niệm cá thể đƣợc nhiều nhà nghiên cứu
cảnh quan sử dụng, phổ biến là quan niệm kiểu loại. Trong nghiên cứu cảnh quan có
nhiều hƣớng khác nhau, cần phải hiểu cảnh quan theo đúng bản chất của nó, không
thể hiểu theo tên gọi vì chƣa có một định nghĩa cảnh quan thống nhất.
1.1.1.2. Sinh thái học
Sinh thái học đƣợc nhà động vật học Đức Haeckel (1866) đề xuất, nhƣng mãi
đến đầu thế kỷ XX mới có một số công trình sinh thái học tích hợp các vấn đề địa lý
nhƣ: nghiên cứu diễn thế sinh thái trên dải cồn cát hồ Michigan (Cowles, 1899); quy
luật phát triển của sinh quần lạc trong mối quan hệ với nhân tố thổ nhƣỡng
(Clements, 1916). Hệ sinh thái do nhà sinh thái học Anh Tansley (1935) đề xuất là
một tập hợp các vật sống (thực vật, động vật, vi sinh vật) và môi trƣờng vô cơ nơi
chúng sinh sống (khí hậu, đất), sau đó đƣợc các nhà sinh thái học Mỹ kế thừa và
phát triển (Linderman, 1942; Odum, 1971; Whittaker, 1975). Khái niệm này tạo ra
mối liên hệ giữa các yếu tố vô sinh với các yếu tố hữu sinh đã gây ấn tƣợng sâu sắc
cho nhà địa vật lý C.Troll nhìn nhận sinh thái cảnh quan nhƣ là khoa học nghiên
cứu tổng hợp các hiện tƣợng tự nhiên phức tạp. Các nghiên cứu của Holling (1992)
cũng đƣa ra kết luận: mọi hệ sinh thái đều đƣợc điều khiển và tổ chức bởi các loài
sinh vật ƣu thế và các quá trình vô sinh đặc thù để tạo thành cấu trúc cảnh quan ở tỷ
lệ khác nhau.
1.1.1.3. Sinh địa quần lạc học
Cũng trong thời gian này, trên cơ sở kế thừa học thuyết Hệ sinh thái rừng của
GF Morozov (1912), nhà khoa học Nga Sucasov (1942) đã đề xƣớng học thuyết
Sinh địa quần lạc học (Biogeocenology) với đối tƣợng nghiên cứu khác đi. Sinh địa
quần lạc đƣợc quan niệm là “Tổng hợp trên bề mặt nhất định các hiện tượng tự
nhiên theo kiểu chỉnh hợp với 1 dòng trao đổi và chuyển hóa vật chất giữa các điều
kiện tự nhiên đó (đá mẹ, thảm thực vật, thế giới động vật, thế giới sinh vật, đất và
điều kiện khí hậu - thủy văn)”. Theo đó, bản chất quan hệ giữa các thành phần sinh
địa quần lạc là quá trình tích lũy, chuyển hóa vật chất và năng lƣợng, quyết định sự
hoàn chỉnh song lại chƣa quan tâm đến yếu tố nhân văn trong lãnh thổ (hình 1.1b).
Tiếp cận hệ sinh thái không xác định đƣợc tính thứ bậc về không gian của lãnh thổ
16
nghiên cứu. Trong khi các địa tổng thể (geo - complex) của cảnh quan học thuộc cấp
phân vi cụ thể, có ranh giới rõ ràng.
- Các đơn vị cảnh quan, đơn vị đất đai, đơn vị lập địa đƣợc coi là những địa
tổng thể để nghiên cứu, đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên phục vụ sử dụng
hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng. Cảnh quan có thể đánh giá cho nhiều mục
đích nhƣ nông, lâm, ngƣ nghiệp, nghỉ dƣỡng, xây dựng; còn đánh giá đất đai và lập
địa chỉ phục vụ cho phát triển cây trồng nông, lâm nghiệp.
Đó là lý do cần phải sinh thái hóa cảnh quan (Ixatrenko, 1976; Armand, 1983;
Phạm Hoàng Hải, 1992). Các nhà sinh thái rất quan tâm đến cách tiếp cận không
gian của địa lý học với hệ thống phân vị lãnh thổ chặt chẽ có ý nghĩa thực tiễn cao
trong nghiên cứu sinh thái học.
Sự hội tụ của cảnh quan học và sinh thái học là tất yếu thể hiện sự phân hóa tự
nhiên và sự tƣơng tác giữa thế giới vô cơ và hữu cơ (Nguyễn Thành Long, 1992)
1.1.1.4. Lý luận chung về đánh giá cảnh quan
+ Khái niệm về đánh giá cảnh quan:
Trong địa lý, cảnh quan là một tổng hợp thể tự nhiên phức tạp với các cấp
phân vị khác nhau. Nhƣ vậy, thực chất đánh giá cảnh quan là đánh giá tổng hợp các
điều kiện tự nhiên cho mục đích cụ thể nào đó (nông nghiệp, thủy sản, du lịch, tái
định cƣ…)
Đánh giá cảnh quan là một nhiệm vụ quan trọng trong nghiên cứu địa lý ứng
dụng, có vai trò và vị trí rất quan trọng đối với các hoạt động bảo vệ tài nguyên, môi
trƣờng, giúp các nhà quản lý, quy hoạch đƣa ra quyết định phù hợp với từng đơn vị
lãnh thổ cụ thể. Cho nên, đánh giá cảnh quan là bƣớc trung gian giữa nghiên cứu cơ
bản và quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng.
+ Hƣớng đánh giá cảnh quan cho phát triển sản xuất (nông - lâm nghiệp và du
lịch)
nguyên một cách có quy luật và hiệu quả trên lãnh thổ. Với phƣơng pháp này một
mặt sự xác định rõ bản chất các đơn vị cảnh quan trong một hệ thống tự nhiên
chung và đồng thời đƣa ra đƣợc những kết luận chính xác về việc bố trí các ngành
sản xuất, kinh tế phù hợp theo từng vùng, Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng
18
phƣơng pháp này cần có thêm những lý giải, cũng nhƣ xem xét kỹ những vấn đề lý
thuyết đánh giá, phƣơng pháp luận, các thủ pháp tiến hành đối với mỗi đối tƣợng
cũng nhƣ ở mỗi một đơn vị lãnh thổ riêng biệt khác nhau.
+ Phƣơng pháp đánh giá cảnh quan
Theo các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn thì đánh giá tổng hợp
gồm: lý thuyết đánh giá chung và thủ pháp tiến hành. Trong lý luận chung của đánh
giá tổng hợp, quan trọng nhất là xác định đối tƣợng, mục đích, nội dung, lựa chọn
chỉ tiêu, phƣơng pháp đánh giá.
- Đối tƣợng đánh giá là các hệ địa lý, đặc điểm cấu trúc chức năng, động lực
của các thể tổng hợp tự nhiên, các quá trình và hiện tƣợng tự nhiên chung, tổng hòa
các mối quan hệ, các tác động qua lại giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống kinh tế -
xã hội để đƣa ra các biện pháp tác động đúng đắn. Đây là cơ sở khoa học của công
tác đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên.
- Mục đích của đánh giá là xác định tính phù hợp, mức độ thuận lợi hoặc khó
khăn về mặt tự nhiên của cảnh quan đối với mục tiêu nhất định; đảm bảo hiệu quả
về mặt kinh tế; không gây ô nhiễm môi trƣờng, đảm bảo tính bền vững. Một điều
kiện tự nhiên có thể tốt cho mục đích này nhƣng không tốt cho mục đích khác. Hoạt
động đánh giá cần xác định đƣợc giá trị của đơn vị cảnh quan. Mức độ sử dụng điều
kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cho các mục đích rất khác nhau nên kết quả
đánh giá tổng hợp cũng biểu thị mức độ thích hợp khác nhau cho việc sử dụng
chúng.
- Nhiệm vụ của việc đánh giá thƣờng gắn liền với mục đích đánh giá cho các
thể tổng hợp tài nguyên riêng biệt. Có hai kiểu đánh giá là: Đánh giá về mặt chất
lƣợng và đánh giá kinh tế. Đánh giá chất lƣợng: đánh giá định tính, phân loại mức
Có thể nói rằng mọi vấn đề về môi trƣờng đều bắt nguồn từ phát triển. Nhƣng
con ngƣời cũng nhƣ tất cả mọi sinh vật khác không thể đình chỉ tiến hoá và ngừng
sự phát triển của mình. Con đƣờng để giải quyết mâu thuẫn giữa môi trƣờng và phát
triển là phải chấp nhận phát triển, nhƣng giữ sao cho phát triển không tác động một
cách tiêu cực tới môi trƣờng. Do đó, năm 1987 Uỷ ban Môi trƣờng và Phát triển của
Liên Hợp Quốc đã đƣa ra khái niệm Phát triển bền vững: "Phát triển bền vững là sự
20
phát triển lâu dài phù hợp với yêu cầu của thế hệ hôm nay mà không gây ra những
khả năng nguy hại đến các thế hệ mai sau trong việc thỏa mãn nhu cầu riêng và
trong việc lựa chọn ngưỡng sống của họ" [10]:
Nhƣ vậy, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên thiên, bảo vệ môi trƣờng là khai thác
sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên trong phát triển kinh tế - xã hội sao cho phù
hợp với chức năng, khả năng của tự nhiên (ở đây là các đơn vị CQ); vừa đáp ứng
đƣợc nhu cầu, nhƣng đồng thời đảm bảo đƣợc sức tái tạo, phục hồi của tự nhiên.
Giảm thiểu đến mức tối đa các nguồn phát thải có nguy cơ gây ô nhiễm cho môi
trƣờng và có biện pháp xử lý các nguồn gây ô nhiễm. Đảm bảo bền vững tài nguyên
và môi trƣờng cho cả hiện tại và trong tƣơng lai.
1.1.2.2. Tình hình nghiên cứu sinh thái cảnh quan ở Việt Nam và trên Thế
Giới
+ Trên Thế Giới
Đối với lĩnh vực nghiên cứu cảnh quan và phân tích, đánh giá cảnh quan để
phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế - xã hội thì từ trƣớc đến nay đã có rất nhiều
công trình của các tác giả thuộc nhiều trƣờng phái khác nhau. Trƣớc hết phải kể đến
những công trình của các nhà cảnh quan học Nga và một số nƣớc thuộc Liên Xô
trƣớc đây. Học thuyết về cảnh quan đƣợc sáng lập ra bởi nhà bác học Nga L.S. Berg
với tiền đề là học thuyết của V.V. Dokutsaev về địa tổng thể và các đới thiên nhiên.
Năm 1913, L.S. Berg đã đƣa khái niệm cảnh quan vào trong địa lí học và ông cho
rằng chính cảnh quan là đối tƣợng nghiên cứu của địa lí học. Đến năm 1931, L.S.
Berg công bố tác phẩm “Các đới cảnh quan địa lí Liên Xô” (tập 1) - công trình nổi
- Giai đoạn từ 1980 - 1990: mặc dù chỉ trong thời gian 10 năm, nhƣng đây lại
là giai đoạn đáng chú ý nhất trong lịch sử phát triển sinh thái cảnh quan thế giới,
đƣợc đánh dấu bằng sự kiện ra đời Hiệp hội sinh thái cảnh quan Quốc tế (IALE) và
sự hình thành trƣờng phái nghiên cứu sinh thái cảnh quan Bắc Mỹ.
Tháng 10/1982, Hiệp hội sinh thái cảnh quan Quốc tế (The International
Association of Landscape Ecology) đƣợc thành lập tại Hội thảo quốc tế lần thứ VI ở
Piestany (Tiệp Khắc cũ), là mốc quan trọng chứng minh sinh thái cảnh quan phát
triển với tƣ cách là một khoa học liên ngành và có tầm ảnh hƣởng quốc tế. Năm
22
1983, hội thảo đầu tiên về sinh thái cảnh quan đƣợc tổ chức ở VQG Allerton
(Illinois, Hoa Kỳ) thể hiện xu hƣớng phát triển độc lập về lĩnh vực khoa học này ở
Bắc Mỹ.
Năm 1987, tạp chí sinh thái cảnh quan ra đời đã tạo nên một diễn đàn lâu dài
cho các nhà sinh thái cảnh quan toàn thế giới.
- Giai đoạn từ 1990 đến những năm đầu thế kỉ XXI: là giai đoạn phát triển
mạnh mẽ của sinh thái cảnh quan trên thế giới, đƣợc đánh dấu bằng sự kiện tái
thành lập các chi hội IALE có truyền thống lâu đời của Châu Âu là Đức, Cộng hòa
Séc và Slovakia; sự phát triển nổi bật của các trung tâm sinh thái cảnh quan Đông
Á, Châu Mỹ La Tinh và Châu Phi. Chi hội IALE của Việt Nam cũng đƣợc thành lập
trong giai đoạn này (1992).
Cho đến nay đã có sáu hội nghị sinh thái cảnh quan thế giới đƣợc tổ chức. Ý
tƣởng về IALE đƣợc xây dựng tại hội nghị lần thứ nhất (Veldhoven, Hà Lan 1981),
đƣợc cụ thể hóa bằng tuyên bố thành lập IALE tại hội nghị lần thứ 2 (Piestany, Tiệp
Khắc 1982). Sau đó là những tổng kết hoạt động các nhóm nghiên cứu của IALE tại
hội nghị lần thứ 3 (Roskilde, Đan Mạch 1984), hội nghị Châu Âu (Tartu, Estonia
2001), hội nghị Châu Á Thái Bình Dƣơng (2001) và hội nghị Thế giới (Darwin,
Australia, 2003). Năm 2007, hội nghị IALE thế giới lần thứ 7 tổ chức tại
Wageningen (Hà Lan) với chủ đề tổng kết 25 hoạt động cả IALE.
+ Tại Việt Nam
trình “Xây dựng bản đồ cảnh quan sinh thái tỉnh Thanh Hoá tỉ lệ 1 : 200.000 trên
cơ sở sử dụng các tư liệu viễn thám” (1990); Nguyễn Văn Vinh và Nguyễn Cẩm
Vân với “Thành lập bản đồ cảnh quan đồng bằng Nam Bộ tỉ lệ 1 : 250.000 bằng tư
liệu viễn thám” (1992).
Một trong những hƣớng nghiên cứu đƣợc tiến hành rất mạnh thời gian gần đây
là hƣớng nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ mục đích phát triển bền vững
lãnh thổ, mà tiêu biểu là các công trình của Phạm Hoàng Hải. Năm 1988, ông hoàn
thành công trình “Vấn đề lí luận và phương pháp đánh giá tổng hợp tự nhiên cho
mục đích sử dụng lãnh thổ - ví dụ vùng Đông Nam Bộ”. Kế đến vào năm 1990,
trong Chƣơng trình 48B, ông cùng Nguyễn Trọng Tiến và nhiều ngƣời khác đã tiến
24
hành “Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên dải ven biển
Việt Nam cho phát triển sản xuất nông - lâm”. Năm 1993, ông cùng Nguyễn
Thƣợng Hùng thực hiện “Đánh giá tổng hợp cho mục đích sử dụng và khai thác
hợp lí tài nguyên Tây Nguyên”. Vào 1997, Nhà xuất bản Giáo dục đã công bố “Cơ
sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường
lãnh thổ Việt Nam” của ông cùng Nguyễn Thƣợng Hùng và Nguyễn Ngọc Khánh -
công trình đƣợc đánh giá cao bởi những miêu tả chi tiết các quy luật và đặc trƣng
của các cảnh quan nhiệt đới gió mùa Việt Nam trên cơ sở một hệ thống phân loại
tƣơng đối thống nhất cho toàn lãnh thổ và theo các miền, các vùng cảnh quan riêng
biệt; đồng thời công trình cũng đề cập một cách khá đầy đủ, sâu sắc những biến đổi
của tự nhiên nói chung và cảnh quan nói riêng dƣới tác động của con ngƣời, từ đó
đƣa ra các giải pháp, các hƣớng tiếp cận khoa học tin cậy nhằm sử dụng hợp lí tài
nguyên, bảo vệ môi trƣờng.
Ngoài ra, còn có thể kể đến một số công trình khác đƣợc thực hiện ở các vùng,
miền của đất nƣớc và có những đóng góp nhất định vào sự phát triển chung của
cảnh quan học nhƣ: Đoàn Ngọc Nam với “Các thể tổng hợp địa lí tự nhiên trong
cấu trúc cảnh quan ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh và hướng cải tạo chúng,
phục vụ phát triển nông nghiệp” (1991); Nguyễn Thế Thôn với “Tổng luận phân
lãnh thổ, các công trình nghiên cứ cảnh quan ứng dụng hiện nay ở nƣớc ta có xu
hƣớng vận dụng cho từng vùng lãnh thổ cụ thể, vì thế đã xây dựng nhiều hệ thống
phân loại cảnh quan khác nhau. Các công trình này chủ yếu tiến hành theo hƣớng
phân loại cảnh quan không dựa vào cá thể địa tổng thể. Hệ thống phân vị của hầu
hết các công trình này đều sử dụng các cấp phân vị chung nhƣ: Hệ, Phụ hệ, Lớp,
Phụ lớp, Kiểu, Phụ kiểu, Hạng, Loại cảnh quan và có những điểm chung trong việc
lựa chọn các chỉ tiêu phân chia, đây cũng là những cấp phân vị phù hợp trong quá
trình nghiên cứu lãnh thổ cụ thể ở Việt Nam nhƣ một vùng, miền, khu vực hoặc
phạm vi lãnh thổ một tỉnh, một huyện và tác giả cũng đã vận dụng các cấp phân vị
này cho việc nghiên cứu cảnh quan huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.